|
Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan
Kỷ Yếu
Trường Hạ Pháp Bảo
PL 2550 - TL 2006
*****
Đức Quan Thánh Quy Y Đầu Phật
Ngày 28 tháng 2 năm 2006 từ Hoa Kỳ đi
xe hơi qua biên giới Canada, tôi cùng Ḥa Thượng T. Nguyên An
trụ tŕ chùa Cổ Lâm – Seatle Washington, Thầy Nguyên Kim và bốn
Phật tử khác, xe vừa tới địa đầu bang BC British Columbia,
Vancover Canada, chúng tôi tranh thủ thời gian ghé viếng chùa
Quán Aâm. Chùa khá rộng, cảnh trí rất đẹp, nhất là hoa viên có
nhiều cây Bonsai do bàn tay chăm sóc khéo của người làm vườn,
tạo cho khách viếng chùa có cảm giác nhẹ nhàng thoát tục. Lượt
ṿng trở ra, tôi để ư trên vách tường có bức phù điêu nổi h́nh
cảnh núi Ngọc Tuyền và Quan Thánh làm lễ bái sư quy y Tam Bảo.
Theo “Lục Đạo Tập”, đời nhà Tùy (thế kỷ
6) vào đời vua Văn Đế trị v́ có Ngài Thiên Thai Trí Giả (cuối
thế kỷ 6) luôn ở trong rừng sâu, tọa thiền nhập định bên gốc cây
để quán chiếu thấu nguồn chơn, thời gian một tuần, nửa tháng
hoặc một tháng mới xuất định. Ngài tinh tấn dũng mănh như thế
làm cho trong tâm Không mà ngoại cảnh cũng vắng lặng, chứng được
môn Pháp Hoa tam muội.
Ngài nhập định tại núi Ngọc Tuyền
thường tŕ tụng kinh Pháp Hoa một hôm chợt trông thấy hội Linh
Sơn hiển nhiên hiện ra trước mặt. Do cảm ứng đạo giao nên mới có
được sự chiêu cảm như vậy. Cả đến các tầng trời cơi thiên đều
đồng thanh khen ngợi công đức tu tŕ của Ngài, cũng như đem hoa
đẹp răi xuống cúng dường, và những vị thiên thần cùng nhau hết
ḷng hộ vệ.
Nhân một hôm, trời trong mây lặng, gió
mát trăng thanh Ngài chợt thấy một trang nam tử mặt phụng mày
tầm, râu dài mặt đỏ, tướng mạo đoan trang, dáng như một bậc đại
trượng phu từ đằng xa đi tới. Phía sau lưng người ấy lại có một
tiểu đồng tay cầm đao thanh long theo hầu, chân đi khép nép
trông có vẽ ra ch́u cung kính.
Ngài hỏi: “nhơn giả là ai? Đến đây có việc ǵ?
Quan Thánh bèn cúi đầu ṿng tay thưa rằng:
-
Thưa, đệ tử tên là Quan Vơ.
Ngài tiếp hỏi rằng:
-
Có phải là em của Lưu Huyền Đức và anh Trương
tướng quân, người đời Tam Quốc hay không?
Quan Thánh đáp:
-
Thưa, phải ! Chính tôi đây.
-
Ngài Thiên Thai Trí Giả khen rằng: “Ta hằng nghe
tướng quân giữ một ḷng trung nghĩa, sống làm tướng đánh Ngụy,
chống Ngô; chết làm thần phục ma, trừ quỉ. Trước có ông Vơ Mục
xưng thần, danh oai vang tám cơi, sau đức Văn Xương hiển thánh,
lưu tiếng ngàn thu là phải lắm. Nay nơi núi cao rừng thẳm, không
hẹn mà gặp, không quen biết mà gần, thật là một đại nhân duyên
vậy”.
Quan Thánh thưa rằng:
- Nay gặp đời mạt thế, cách Phật đă xa, cương
thường luân lư đảo ngược, mọi người lơ là như bịt tai che mắt,
không hề biết đến nữa. Vậy nên gian thần, tặc tử đầy dẫy ở khắp
cùng nơi chật ních thế gian. Lắm kẻ tranh danh, nhiều người trục
lợi, tranh đấu sát phạt nhau, thậm chí sát hại nhau, cái tâm con
người như chai đá, không chút thương tâm ! Nay may nhờ Tổ sư (Ngài)
ra đời, mở lượng từ bi, phụng hành pháp ấn Phật mà đem dạy dỗ
chúng sanh, ngỏ hầu sống có được niềm an lạc, chết cũng được về
cơi thánh thiện.
Vậy nên cha con tôi nguyện hướng theo Phật, mong
Ngài tế độ và rất vui ḷng phát nguyện kiến tạo một ngôi Già lam
để hiến cúng cho đại sư làm đạo tràng tu niệm và có nơi hoằng
pháp lợi sanh. Mong đại sư cảm chút ḷng thành của đệ tử mà nạp
thọ”.
Ngài Thiên Thai Trí Giả đáp rằng: “Lành thay!
Lành thay!” Khi Quan Thánh từ tạ ra về, ngay trong đêm ấy liền
sắc triệu chư thần 10 phương, cùng nhiều thiện thiên lực sĩ,
hàng vạn tinh binh… ra sức lấp đầm sâu, thành chỗ đất bằng
phẳng; cây gỗ trên rừng được kéo về như thác đỗ, với những riều
thần, búa thiêng, chạm trỗ lạ lùng mau lẹ. Chẳng bao lâu Phật
điện, thiền đường đă được xây nên tinh xảo, như thợ trời khéo
đẽo gọt tinh vi; tạo nên ṭa Phật sát thật là uy nghiêm tráng
lệ, không phải do tay người phàm mà tô điểm nên cảnh danh lam
thắng địa được vậy.
Ngôi chùa chỉ xây trong bảy ngày là xong. So ra
sức người là trong vài ba năm cũng chưa được hùng vĩ kiên cố như
thế. Thật quả là thần kỳ! Và vô cùng diệu thuật làm sao!
Ngôi chùa vừa hoàn tất, Quan Thánh liền đến rước
Ngài Thiên Thai Trí Giả về đó an trụ và ǵn giữ ngôi già lam này
làm nơi thánh địa tuyên dương giáo pháp.
Từ đó đại sư ở chùa, ngày đêm giảng kinh thuyết
pháp, tùy theo căn cơ người nghe mà giáo hóa, nên mọi người ai
nấy đều được lợi ích. Khắp nơi, kẻ tăng người tục nghe danh Ngài
đều t́m đến xin quy y, thính pháp thật là đông đảo cho nên tiếng
đồn đến triều đ́nh, bảy đời đế vương đều sắc phong Đại sư làm
chức quốc sư cả.
Lúc bấy giờ, cha con Quan Thánh, hằng ngày đến
chùa nghe pháp, v́ biết đạo Phật cao siêu, và cũng muốn gieo hạt
giống Bồ Đề cầu mở khai tuệ giác và giải thoát.
Một ngày kia, Ngài Quan Thánh đến bạch với Ngài
Thiên Thai Trí Giả xin thọ Tam quy ngũ giới, Ngài rất vui ḷng
mời đông đủ bốn chúng mở đàn truyền trao giới pháp.
Từ đó trở đi, danh của đức Quan Thánh càng ngày
càng lớn, thần oai càng hiển linh, khắp nơi chốn đều thờ Quan
Thánh đă đành, ở tư gia nhà nhà đều thiết lập tượng Ngài lễ bái
với hương đăng, hoa quả dâng lễ cúng dường như bậc Thánh sống.
Đến đời nhà Minh (1368 – 1661) niên hiệu Khương
Hy, năm thứ 9, ngày 13 tháng 5 tại Quảng Đông các nhà hội quán
đồng lập một ṭa miếu, rồi thiết tôn tượng Quan Thánh thờ phụng.
Do vậy, nhân gian chọn ngày ấy làm ngày tế lễ vía Quan Thánh
linh đ́nh, trọng hậu bằng phẩm vật và sanh linh để cầu phước.
Cúng tế xong, mọi người đem lộc chia nhau thọ hưởng vui chơi.
Trong cuộc tiệc vui, có một y sanh tên là Trần Diệu, đang ngồi
bỗng dưng ngă xuống đất bất tĩnh nhơn sự một hồi lâu. Trong lúc
đó, ông thấy một người đến nắm tay kéo đi rất mau như gió, và
hai chân bước không chấm đất như đi giữa hư không vậy. Phút chốc,
ông thấy trước mặt có một ṭa cung điện, thật nguy nga, hai bên
bài trí rất nghiêm chỉnh; chính giữa một vị mặc áo lục bào, mặt
đỏ râu dài, ngồi đường bệ oai phong.
Trần Diệu biết đó là đức Quan Thánh, liền nghe
trên không phán rằng: “Ta sanh tháng 7, chớ đâu phải tháng 5 mà
cúng tế Ta như thế? Vă lại, người đời phụng thờ ta, cũng như
cúng tế ta chỉ mong cầu phước, sao lại sát hại những sanh mạng,
rồi đem bày ra trước mặt ta? Như thế đă khinh lờn thần minh, mà
lại c̣n vô lễ nữa: đó là tạo thêm tội, chớ nào đâu cầu phước?
Nếu người nào biết quy y Tam Bảo, giữ ḷng chân chánh, phát tâm
từ bi thương kẻ bần hàn, người hoạn họa ốm đau, kẻ cô thế ngặt
nghèo… dẫu không cúng dường ta cũng mật thùy gia hộ, chuyển tai
họa thành kiết tường. Tất cả đều hưởng được lợi lạc an vui.
Người nào bất trung, bất hiếu, vong ân bội nghĩa, ôm ḷng sát
hại, hung dữ, tà dâm… dẫu có đêm ngày lễ bái ḷng sát hại, hung
dữ tà dâm… dẫu có đêm ngày lễ bái ta, ta cũng không thể nào cứu
được. Trong sách có câu rằng: “Bất dĩ tế nhi giáng phúc, bất dĩ
bất tế nhi giáng họa” (không v́ cúng tế mà ban phúc, không v́
chẳng cúng tế mà giáng họa) là nghĩa này vậy. Hơn nữa, ta là một
vị thánh thần giữa hư không thọ dụng những hương vị cam lồ để tư
dưỡng cái tịnh thân mà đâu cần chi những vật tanh hôi, máu thịt
bất tịnh ấy. Ngươi phải về bố cáo lại cho mọi người trong thế
gian biết rằng: “Đừng nên sát sanh hại vật mà cúng tế ta nữa.
Những loài dê, heo, nếu con nào tuyền sắc th́ ta đă độ được siêu
sanh thoát hóa rồi, c̣n nếu con nào tạp sắc, tội nghiệp nặng nề,
ta không thể độ được, và hiện nay c̣n đầy ở trong núi kia”.
Đức Quan Thánh phân phán rồi, bèn cho người dẫn
Trần Diệu đến đầu núi, ông ta xem thấy những loài dê, heo tạp
sắc nhiều vô số, người dẫn c̣n lấy tay chỉ mà nói với Trần Diệu
rằng: “Đó là loài tội nghiệp nặng nề, ngươi phải về nói lại rằng
từ nay trở về sau không nên làm như vậy nữa”. Nói vừa dứt lời,
hai người trở về nhanh như gió vậy.
Tưởng nên nhắc lại lúc Trần Diệu đang ngồi dự
tiệc, bất thần xỉu ngă lăn xuống đất bất tỉnh nhơn sự, khiến mọi
người trong buổi tiệc đều hoảng hốt, xúm nhau đỡ nạn nhân d́u ra
nhà sau mà làm hô hấp nhân tạo, lo thuốc men kịp th́. Một lúc
sau Trần Diệu tỉnh lại, mọi người hỏi chuyện vừa rồi, ông thuật
rơ đầu đuôi tự sự, làm cho ai nấy càng thêm tin tưởng sự linh
cảm hơn lên.
Do tích truyện trên, từ đó trở đi trong vùng
Quảng Đông nói riêng và khắp nơi không có nhà nào dám sát hại
sanh vật để cúng tế đức Quan Thánh như tục lệ xưa nữa.
Do sự hiển linh của Ngài mà mọi người thờ cúng
đức Quan Thánh hay do tấm ḷng trung trinh báo quốc của Ngài
Quan Vơ mà h́nh tượng được khắc họa cúng tế ở khắp nơi trong
nhân gian?
Đức Quan Vơ hiển thánh: “ba huynh đệ kết nghĩa
vườn đào” thời Tam Quốc (220 – 280 TL): Lưu Huyền Đức, Trương
Phi và Quan Vơ, thế mà măi tới đời vua Tùy Văn Đế, sau hơn 300
năm Quan Thánh tới giúp Ngài Thiên Thai Trí Giả Đại Sư xây chùa
trên núi Ngọc Tuyền, và cũng chính nơi đây Ngài quy y thọ giới
với Đại Sư. Và trở thành một Phật tử hộ tŕ Phật Pháp, biết trai
giới khuyến thiện mà qua nhân vật Trần Diệu cho ta thấy rơ điều
này.
* Hiển linh mượn xác nhân vật: v́ dân chúng vùng
Quảng Đông sát sanh hại vật cúng tế Quan Thánh, tức mượn oai
thánh thần để gây tội ác. Thứ nhất là phạm tội giết sanh mạng
loài dê, heo, trâu ḅ cúng tế; giết mạng phải đền mạng không thể
nào khác được. Thứ nh́ phạm điều mê tín: cầu phước lộc, quan vị,
buôn bán sanh lợi, thi đỗ v.v… đều phó thác nhờ tha lực mà không
chịu nỗ lực dốc chí đem hết khả năng làm việc, khiến con người
thờ ơ, ỷ lại đi đến chỗ ủy mị hèn yếu trước thiên nhiên tạo vật.
Thứ ba, dựa hơi hám thần linh thọ lộc để say sưa rồi gây ra tội
lỗi xấu ác mà không tự kiểm soát được. Nhờ một người tên Trần
Diệu ngộ nạn trong cuộc tiệc sau tế lễ Đức Quan Thánh, đă được
đức Thánh hiện ra báo trước cho ông biết việc làm vô đạo, hiếu
sát của con người ở trên thế gian để cảnh báo mọi người nên ăn
hiền ở lành, tu nhơn tích đức.
* Quy y Tam Bảo: người đă thoát hóa mấy trăm năm
sau mới gặp được bậc minh sư – Ngài Thiên Thai Trí Giả – xin đầu
Phật và đức Quan Thánh trở thành là một Phật tử ủng hộ giáo pháp
Phật đà. Oai danh Ngài nổi bật cũng nhờ công đức hộ pháp này nên
được nhiều người hâm mộ, tôn thờ đức độ tài năng của nhân vật
đặc biệt trong dáng h́nh tướng quân mà tâm niệm luôn muốn tồi tà
phụ chánh này qua mọi quốc độ và thời gian.
* Đức Quan Thánh được tôn thờ như vị Bồ Tát: Ngày
nay sau hơn 3000 năm, hiện thế, h́nh tượng đức Quan Thánh được
lập miếu thờ hầu khắp các quốc gia theo Phật giáo Bắc truyền và
Nam truyền tại Châu Á. Và hầu như một phần ba dân chúng tại
những nơi này nhà nào cũng có thờ cúng đức Quan Thánh tâm thành
như một tín ngưỡng nhân gian vậy.
Thật đúng như câu: “hương thơm dù là của loài hoa
chiên đàn cũng không bay ngược được chiều gió; chỉ có hương của
người đức hạnh mới phảng phất đến khắp muôn phương”, như công
hạnh lợi tha của Đức Quan Thánh là nột ví dụ điển h́nh rơ nét
nhất.
Đa Bảo Tu Viện - Sydney
Thích Bảo Lạc
*****
****
Trở về Trang h́nh ảnh
sinh hoạt
|