|
Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan
Kỷ Yếu
Trường Hạ Pháp Bảo
PL 2550 - TL 2006
*****
Những ưu
tư của thế hệ đi trước
và những ước vọng của thế hệ đi sau
Thích
Thiện Hiền
Giai đoạn khai sơn
phá thạch:
Những bậc tôn đức Tăng
Ni tiền bối đă v́ đại
nạn của dân tộc
ta
mà phải bỏ nước ra đi t́m tự do như bao nhiêu đồng hương VN
khác, khi ra đi ai cũng phải chấp nhận đánh đổi cái chết để t́m
cái sống, nên ca dao thời đại có câu: trước hết là con nuôi cá,
thứ hai là má nuôi con, thứ ba là con mới nuôi má. Những người
tỵ nạn đến một đất nước hoàn toàn xa lạ, với hai bàn tay trắng,
rất ngỡ ngàng khi tiếp xúc với những con người mới, mọi cái đều
khác xa như:
ngôn
ngữ bất đồng, văn hóa, phong tục,
tập quán, thời tiêt
khí hậu, phương tiện, thực phẩm, không bạn bè, không nhà cửa
v.v… Đă làm thay đổi cả một cuộc đời, bước qua giai đoạn mới,
những vị không chịu nổi
phải
từ bỏ chiếc áo tu quay
về với cuộc sống thế tục, c̣n những vị với tâm nguyện kiên
cường, v́ lư tưởng phát tâm xuất gia ban đầu với hạnh nguyện
giải thoát an lạc, hy sinh đời ḿnh để phụng sự chúng sanh, báo
Phật ân đức nên rất nỗ lực vượt qua những gian nan và thử thách,
để được như hôm nay.
Rồi thời gian qua, quư
Ngài cũng đă từ từ gieo hạt giống Bồ Đề,
được
nảy mầm trên
đất nước mới, được tưới tẩm và chăm sóc từ nhiều bàn tay của
đồng bào, đồng hương Phật tử tha phương để tạo măi, xây dựng cơ
sở có nơi nương tựa và tu tập. Muốn tạo được một cơ sở ban đầu
như vậy, các Ngài cũng đă vất vả đổ xuống không biết bao nhiêu
sức lực, tài lực, mồ hôi,
nước mắt, tủi nhục, nhiều khi phải đánh đổi cả thân mạng…Nh́n
chung trong khoảng 30 năm qua, PGVN có mặt khắp thế giới và tạo
dựng rất nhiều ngôi tự viện lớn nhỏ khắp
nơi.
Trụ tŕ thế gian Tam Bảo được h́nh thành, phát triển và xây dựng
kiên cố, có thể tồn tại từ 100 năm hoặc hơn nữa, nhưng với tuổi
tác và sức khỏe của quư Ngài không thể tồn tại theo thời gian.
Th́ đă đến lúc phải ưu tư về tiền đồ PGVN tại Hải ngoại, sau khi
thế hệ trước nằm xuống, thế hệ sau phải làm ǵ?
Phát triển hay phá sản:
Nh́n tổng thể chúng ta có thể lạc
quan, v́ nơi này diệt th́ nơi khác sanh, PGVN đă được truyền bá
khắp nơi; đó là niềm vui chung. Chúng ta thấy PG và cộng đồng VN
chúng ta càng ngày càng phát triển và tạm ổn định, và Tăng Ni
bây giờ cũng được xuất cảnh sang nước ngoài bằng nhiều cách,
được sự giúp đỡ của thế hệ trước, có vị may mắn hơn được huynh
đệ, Thầy Tổ bảo lănh qua dành mọi ưu ái có nơi ăn chốn ở đàng
hoàng, để hợp sức xây dựng ngôi Tam Bảo, làm Phật sự, hướng dẫn
Phật tử tu tập, có những vị không đủ nhân duyên nên phải trở về
quê nhà. Khi một vị Tăng Ni đến Úc do nhân duyên nào đó hay được
vị trụ tŕ tại Úc có sự liên hệ có thể cũng đă quen biết từ
trước hay được sự giới thiệu thầy Tổ từ quê nhà. Trước mắt,
những vị được bảo lănh sang cũng đă có khả năng đáp ứng tạm thời
những nhu cầu Phật sự tại địa phương. Nh́n chung chúng ta cũng
có phần lạc quan và hănh diện về PGVN hiện nay, nhưng về lâu về
dài th́ tương lai PGVN tại Úc thế nào? Phương pháp tu tập, giáo
dục, truyền đạo v.v.. làm thế nào để ḥa nhập được với cộng
đồng Úc, trong khi con cháu chúng ta sinh trưởng tại xứ Úc,
không có thể nói và hiểu nhiều về ngôn ngữ Việt Nam. Những thế
hệ trước lo âu: Ḿnh đă tạo dựng được cơ
sở hoàn thành đầy đủ tiện
nghi, không biết thế hệ sau có khả năng tiếp tục duy tŕ và phát
huy hay chỉ đến để hưởng thọ những công lao to lớn của người đi
trước tạo dựng? Bởi
vậy, tâm niệm đó của quư Ngài rất thao thức t́m người để kế
thừa duy tŕ một cách xứng đáng, cho nên sự bảo lănh ấy trở nên
thận trọng và dè dặt hơn. V́ nhu cầu Phật sự tại ngôi chùa mới
phát triển các vị trụ tŕ không đảm đang nổi, nên cần có nhân sự
hợp sức cùng nhau xây dựng. Có những vị với ư niệm ban đầu bảo
lănh huynh đệ ḿnh như một người thợ xây dựng, sau khi xây dựng
xong có thể không được bảo lănh ở lại nữa. Do ư niệm ban đầu như
vậy nên người được bảo lănh cảm nhận được điều đó, họ xem như ăn
cơm chùa phải làm việc chùa, họ cảm giác như người đến để làm
công, không có những quyền lợi ǵ riêng tư, làm việc xong th́
ḿnh sẽ không c̣n ở lại nơi đây.
Có những vị trụ tŕ nghĩ đến t́nh
cảm huynh đệ thầy tṛ từng tu học chung dưới mái chùa trước khi
đến đây, bây giờ họ muốn bảo lănh, giúp đỡ huynh đệ ấy để cùng
qua sống chung và tu tập, cùng nhau xây dựng ngôi Tam Bảo. Bởi
do ư niệm ban đầu dễ thương như vậy nên họ được đoàn tụ trong
t́nh yêu thương ấm áp và cùng nhau chia xẻ ngọt bùi. Với ư niệm
ban đầu rất quan trọng đối với đối tượng được bảo lănh. Tuy
nhiên chúng ta biết không ai có thể đối xử như bát nước đầy măi,
đến một lúc nào do sự hiểu lầm nghi ngờ có thể đem đến đổ vỡ,
cho nên việc bảo lănh một số Tăng Ni qua đây hầu như thất bại
nhiều hơn, nguyên nhân do đâu? Tại sao các chùa tại Việt Nam có
thể sống chung trên dưới một trăm vị dễ dàng nhưng tại hải ngoại
th́ không? Có phải đất nước này quá tự do nên ai cũng có cái
quyền của Ta quá lớn?, đụng vào cái Ta th́ mọi thứ đều đỗ vỡ,
hay là xă hội văn minh là như vậy. Cha mẹ, anh em, vợ chồng v.v…
huynh đệ, thầy tṛ cũng không thể sống chung với nhau trong một
mái ấm huống chi người dưng không huyết thống. Có phải xă hội
càng văn minh con người càng ích kỷ hơn không ?
Thế hệ sau được bảo lănh qua với
ước vọng ǵ ban đầu khi ra đi, nếu ai trong chúng ta cũng tự
nhắc nhỡ ḿnh như trong văn cảnh sách “phải bước đi đến một
phưong trời cao rộng v́ thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh,
chấn nhiếp ma quân, báo đáp bốn ân”, để xác định lập trường và ư
nguyện xuất gia như vậy th́ mới mong được tiếp nhận dễ dàng bất
cứ nơi nào trên các tự viện tại hải ngoại; ngược lại với tâm
nguyện trên và chỉ được mong cầu một điều ǵ đó lợi dưỡng cho
bản thân th́ khó có thể tồn tại được. Cho nên nếu ai muốn ra đi,
th́ phải xác định lập trường, khi ra đi v́ lư do ǵ?. Ư niệm ban
đầu đó quyết định sự thành công hay thất bại những ước vọng của
ḿnh. Thế hệ trước đă tạo dựng nên một cơ sở tương đối hoàn
thành, thế hệ sau phải trang bị cho ḿnh vốn liếng căn bản mới
đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của xă hội phương Tây, mới có thể
tiếp nối được một cách liên tục.
Trước kia, các vị tổ sư bên Trung
Hoa cũng tị nạn qua Việt Nam và cũng tạo dựng phát triển cơ sở
tiếp Tăng độ chúng hoàn toàn là người Việt Nam. Sau đó các vị
lần lượt viên tịch th́ đệ tử Tăng Ni Việt Nam tiếp tục sứ mệnh.
Riêng về Phật Giáo Việt Nam tại Úc có giống như vậy hay không?
Hay phải bảo lănh Tăng Ni từ Việt Nam để tiếp tục duy tŕ? Hay
Phật Giáo Việt Nam trở thành quá khứ để biến thành Phật Giáo của
Úc Châu? nếu Phật Giáo Việt Nam không giải quyết được những nhu
cầu trên th́ xem như tự phá sản trên xứ sở Úc Châu này. Đó là
một điều lo lắng đáng buồn hay đáng lạc quan mà chư tôn đức
thường quan tâm và toàn thể tín đồ kỳ vọng.
Viết tại Chùa Pháp Bảo, An Cư 2006
Thích
Thiện Hiền
*****
****
Trở về Trang h́nh ảnh
sinh hoạt
|