Khi sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa, Vua
Lương Vơ Đế cho mời ngài đến để hỏi đạo. Nhà vua tưởng ḿnh sẽ được nghe
một bài thuyết pháp, nhưng Tổ chỉ nói: “rỗng tếch, có ǵ thiêng liêng
đâu !”.
Ngạc nhiên và có lẽ chấn động v́ sự cộc lốc
đó, Vua Vơ Đế hỏi rằng Tổ Bồ Đề Đạt Ma nghĩ ḿnh là ai mà lại nói như
vậy. Bồ Đề Đạt Ma nhăn mặt, gải đầu, rồi trả lời:“ Ta không biết”.
Giận và bất măn, Vua Vơ Đế cho vị khách của
ḿnh lui ra. Sau đó vua đă suy ngẫm về những câu nói của Tổ và nghĩ rằng
Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma không phải là một người khờ. Vua lại cho mời tổ nhưng
không thấy ngài đến. Các sứ giả của Vơ Đế đi t́m khắp nơi rồi trở về tâu
là tổ Bồ Đề Đạt Ma đă biến mất. Thế là Vơ Đế càng giận và bất măn hơn
trước. “Tuy nhiên gió nam vẫn tiếp tục thổi”, như một nhà b́nh
luận Trung Hoa đă ghi chú bên lề của truyền thuyết này.
Gió thổi nơi nào nó muốn, người ta nói như
vậy, và khi toạ thiền, những ư nghĩ của hành giả vẫn nổi lên như thường
lệ. Điều quan trọng là không theo đuổi những ư nghĩ đó khi chúng xuất
hiện. Hành giả chỉ ngồi yên, quan sát một chút, nhưng không nh́n nhiều
qua con mắt của tâm trí. Dường như những bọt bong bóng tri thức thành
h́nh trong bụng, nổi lên, rồi vỡ ra, tan biến vào hư không. Tiến tŕnh
này không giống kỹ thuật “ liên tưởng tự nhiên” của các nhà phân
tâm học, v́ không cần có sự liên tưởng nào cả, dù tự nhiên hay có tính
toán. Hành giả cứ để cho ư nghĩ xuất hiện, không theo đuổi chúng, cho
tới khi chúng đi xa ngoài tầm ư thức của ḿnh, giống như Bồ Đề Đạt Ma
biến khỏi triều đ́nh của Lương Vơ Đế.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma trú trong một hang núi
trong chín năm, chỉ ngồi quay mặt vào vách đá. Cái hang đá đó là thai
bào tâm linh của ngài. Nhưng cuối cùng một người đến t́m, hy sinh một
cánh tay của ḿnh, làm rộn thời thiền của Ngài. Ngài hỏi người mới đến:
-
“ Ngươi muốn ǵ ?”
-
“Xin Thầy an tâm cho con”, vị
ấy trả lời.
-
“ Cho ta thấy tâm của ngươi, rồi
ta sẽ làm cho nó an”.
-
“Con không t́m thấy nó ở đâu cả”.
-
“ Ngươi đă được an tâm rồi đó”.
Không giống như Lương Vơ Đế, người một tay
này trở thành vị tổ thứ hai của Thiền Tông Trung Hoa, đó là nhị tổ Huệ
Khả.
Chuyện này có ư nghĩa ǵ ? Khi không t́m
kiếm ǵ nữa mà sống với hiện tại, người ta sẽ bỏ được tham vọng, tham
dục và tâm trí được yên tĩnh. Nhưng khi c̣n ở trong thế gian này người
ta không thể hoàn toàn bỏ được tính tham. Tham dục là động lực của sự
sống. Người ta có thể sửa đổi những ước muốn của ḿnh cho tốt đẹp hơn,
nhưng trong cuộc đời này người ta không bao giờ giải trừ một phần nỗi
đau vi tế và rộng khắp của sự làm người. Như vậy, sự chết có phải là lời
giải không?
Mới đây tôi nằm mơ thấy Tổ Bồ Đề Đạt Ma
xuất hiện. Ngài ẩn hiện trong không khí giống như một bóng ma, một người
to lớn, hai mắt lồi, đôi lông mày rậm. Với bộ râu tua tủa của ngài khiến
người ta không thể biết là ngài đang cười hay đang nhăn mặt. Ngài nói
nhỏ qua hàm râu: “ nhà ngươi có vẽ đă trưởng thành, nhưng lại chưa
bao giờ giết ai cả. Tại sao vậy?”
Tôi cố gắng nói: “ Thiền tông có
cách truyền thừa đặc biệt, ngoài việc giết người”. Nhưng khi tôi nói
như vậy, một nỗi nghi ngờ làm cho tôi thức dậy. Giấc mộng ấy làm tôi
hoang mang, nhưng tôi vẫn bắt đầu thời khóa tu tập trong ngày là toạ
thiền. Thật là khủng khiếp, h́nh ảnh Bồ Đề Đạt Ma mà tôi gặp trong giấc
mộng đêm qua đă hiện ra trước mắt tôi. Các vị thầy của tôi đă dạy rằng
khi tham thiền, hành giả có thể bị ma chướng khuấy phá, nhưng đừng chú ư
tới chúng, v́ vậy tôi nh́n xuyên qua h́nh Bồ Đề Đạt Ma cho tới khi h́nh
ảnh ấy tan biến. Làm như thế có đúng không ? Lúc đầu tôi rất sợ, nhưng
sau đó tôi bớt sợ hơn, vậy có nghĩa là tôi đă làm đúng. Tuy nhiên khi
nghĩ lại tôi muốn ḿnh có thể hỏi Bồ Đề Đạt Ma là người có ư ǵ khi đề
cập đến việc giết người.
Theo triết lư Phật Giáo th́ sự chết không
phải là lực bên ngoài, cũng không phải là nơi để trốn tránh. Kinh Kim
Cương là một trong những bản kinh nói rằng không có cái ‘ta’ nào
để giải thoát, cũng không có ǵ ngoài bản thân để tránh hay để chứng
đắc, sự chết chính là sự sống. Lục Tổ Huệ Năng chứng nghiệm cả sự chết
lẫn sự tác sinh trong cùng một khoảng khắc, khi ngài nghe được tiếng
tụng Kinh Kim Cương.
Nhưng Tổ Huệ Năng nói rằng lời Kinh không
có ư nghĩa ǵ đối với ngài, và tính chất của giáo lư là không rơ ràng.
Ngài cho rằng ngay cả ngồi thiền cũng có thể là một cái bẫy, và tốt nhất
là không theo pháp môn nào cả, v́ thói quen đều có hại. Ngài khuyên
người ta phải bỏ kinh sách. Về sau “ Huệ Năng Pháp Bảo Đàn Kinh”
trở thành đề tài ưa chuộng trong tranh thiền. Chắc chắn Tổ Huệ Năng cũng
sẽ xé cả tranh nữa, nếu ngài gặp một bức.
Bạn đồng môn của Tổ Huệ Năng là Ngài Thần
Tú có làm một bài thơ nói về một giáo thuyết của Phật Giáo rằng “
thân người giống như cây bồ đề, tâm giống như đài gương, phải giữ
cho thân và tâm được sạch bụi”. Tổ Huệ Năng cũng làm một bài thơ
khác đối lại rằng “không có cây bồ đề hay tấm gương nào cả, v́ vậy
không có ǵ để bám bụi trần”. Sau đó, khi ngài Thần Tú đuổi theo
ngài để hỏi pháp giác ngộ, Tổ Huệ Năng nói: “ ngay lúc này, không
nghĩ thiện, không nghĩ ác, cho ta thấy khuôn mặt của anh trước khi cha
mẹ sinh ra”.
Đó là công án đầu tiên trong số 1.700 công
án làm thành khối lượng văn chương và giáo lư đặc thù của Thiền tông. Tổ
Huệ Năng thật sự đă mở đầu một truyền thống. Các Thiền sư của phái Lâm
Tế nói riêng đă đặt ra nhiều công án cho các đệ tử của ḿnh với mục đích
là đưa họ đi xa theo khúc quanh mà họ có thể gặp được trên bước đường
trở về cội nguồn tâm linh, ví dụ: - “ Hăy nghe tiếng vỗ của một bàn
tay”, “ Ngừng chiếc tàu trên biển xa”, - “ Nói cho ta biết, một là ǵ
?”.
Có hàng trăm câu trả lời nổi tiếng cho
những công án này, nhưng các câu trả lời này không giúp ǵ nhiều cho một
đệ tử, v́ y cần phải có câu trả lời tự nhiên phát ra từ trong tâm của
ḿnh, để thầy của y nghĩ là y đă thực sự hiểu và sống với công án đó. V́
vậy trong việc quán chiếu công án, hầu như trong tất cả các trường hợp,
đệ tử sẽ đối diện vị lăo sư nhiều lần và y có thể mỗi lúc mỗi tuyệt vọng
hơn, có thể gần như loạn trí, và cũng có khi giác ngộ bất ngờ (đốn ngộ).
Thói thường, người đệ tử phải hơn một lần hoát nhiên đại ngộ. Sự kiện
bao nhiêu lần đốn ngộ tùy thuộc ư chí hơn là sự thông minh của y. Các đệ
tử được coi là phải trải qua khoảng 600 công án trước khi được phép lập
tu viện thu nhận đệ tử riêng của ḿnh. Điều này gợi nhớ một nguyên tắc
cũ của phân tâm học, đó là chính các nhà tâm phân học phải đă được phân
tích tâm lư trước khi được phép hành nghề. Nghĩa là tất cả, trừ người
sáng lập môn phân tâm học, ông Sigmund Freud.
TK Thích Nguyên Tạng trích dịch từ nguyên bản tiếng Anh: “
Zen Edge” của Thiền sinh Alexander Eliot, do nhà xuất bản Thames &
Hudson ấn hành năm 1976 tại Anh quốc. Bản Việt dịch sẽ được Tu Viện
Quảng Đức xuất bản vào mùa Phật đản năm 2006.
Koans
When Bodhidharama, the First Patriarch of
Zen, came up from the south into China, the Emperor Wu sent for him and
asked some questions concerning the highest good. He expected a sermon
in reply, but Bodhidharma’s answer was:
‘Emptiness, and nothing holy.’
Astonished and possibly shocked by that
abrupt rejoinder, the Emperor next inquired who Bodhidharma thought he
was, to talk so. Bodhidharma frowned, scratched himself, and confessed:
‘I do not know.’
Cool, disappointed, Wu dismissed his guest
The Imperial audience was over for that day. Later on, however, when he
had given himself an opportunity to ponder what was said, Wu came to
feel that Bodhidharma was no fool. He sent for the missionary again, to
no avail. The Emperor’s emissaries searched far and wide, returning to
report that Bodhidharma had disappeared. So poor old Wu died cooler and
even more disappointed than before. “The south wind however”, as
a Chinese commentator noted in the margin of his legend, still continued
to blow.
The breeze blows where it chooses, they
say, and when you do zazen your thoughts keep on bubbling up as
usual. The point is not to pursue them. You simply sit still and watch,
as it were, dimly, not seeing much in the mind’s eye. It is as if
intellectual bubbles formed in the warm darkness of your gut, swirled
slowly up, popped, and dissolved is nothingness. The process does not
resemble the ‘free-association’ techniques developed for psychoanalysis,
because it calls for no association of ideas at all, free or not free.
You let thought go, and go, without pursuit, until it passes out beyond
the borders of your conscious rule, and is gone like Bodhidharma from
the Emperor’s court.
What Bodhidharma had chosen, in preference
to court life and Wu’s queries, was to hole up in a cave for nine years,
staring at stone. That cave was his soul’s womb, and he felt happy
there. But finally a would-be disciple found him and managed – by
sacrificing an arm, no less - to break in on Bodhidharma’s
profound meditation. This time, however, the First Patriarch himself was
the one to ask questions.
‘What do you want?’ he began.
‘Peace of mind!’ was the would-be
disciple’s reply.
‘Show me your mind, in that case, and I’ll
pacify it.’
‘I...can’t find it now.’
‘You see? Already pacified!’
Unlike Bodhidharma’s abortive interview
with Emperor Wu, this one ended happily. The one-armed would-be disciple
who had failed to locate his mind on demand became the Second Patriarch
of Zen. What does the legend mean? Simply that when you no longer seek,
but are, then you put the worst of thirsty craving behind, and achieve
peace of mind. Fair enough, but all the same you cannot altogether
overcome greedy passion while in the flesh. Desire is the entire
circuitry of life on this planet. You may refine your appetites no end,
but you never in this world so much as begin to eliminate the subtle and
all-pervasive pain of being human. Is death an answer, then?
I recently had a dream in which Bodhidharma
appeared. He was floating huddle of a man, rotund, ghostly, with bulging
eyes and bulbous brow. Was he grinning, or grimacing? His coarse
bristling whiskers made this impossible to tell. ‘You seem to be a
grown-up man,’ he whispered through the beard, ‘yet you’ve never killed
anyone. How come?’
‘There is a special transmission of Zen
outside killing!’ I tried to say. But, even as I spoke, a growing
sense of doubt brought me awake.
Badly shaken by the dream, I none the less
pursued my standard practice of starting the day with zazen
meditation. To my horror, the same Bodhidharma figure which I had
encountered in dream came gliding between the wall and my waking eyes.
Fortunately, my instructors had warned that I might occasionally be
disturbed by makyo, visions of a suspicious nature, while
practising zazen. I had been told simply to ignore such
apparitions. And so, religiously, if that is the word, I stared right
through Bodhidharma’s image until it frayed out upon the air and
disappeared.
Was that really the right thing to do? I
was badly frightened for a moment or two, and afterwards less so, which
indicates that the answer is yes. In retrospect, however, I would give a
good deal to be able to question the figure. What did he mean about
killing?
Death is no alien force, nor even a refuge,
according to Buddhist philosophy. The Diamond Sutra is just one of the
many sacred texts to maintain that no one person has a ‘self’ to save.
No, nor anything other than self to avoid or achieve. Death is the same
as birth. The Sixth and final Zen Patriarch – Hui Neng was his name –
experienced both death and re-birth at one and the same instant, when he
happened to overhear the chanting of the Diamond Sutra.
Yet the words themselves had meant nothing
to him, Hui Neng insisted even afterwards, explaining that all doctrine
is by nature dark. Even zazen can be a trap, he taught; it is
best to pursue no discipline at all. Habit deadens. As for sacred texts,
they ought to be destroyed, he said. ‘Hui Neng tearing up the Sutras’
was to become a favourite subject of Zen art, later on. Doubtless the
old man would have torn up the pictures too, if he could.
One of Hue Neng’s many rivals once wrote a
poem, a pretty little poem to maintain an old Buddhist doctrine; namely,
that the human body itself resembles the bo tree beneath which the
Buddha received enlightenment, that the human mind resembles a silvered
mirror, and finally that both body and mind ought to be kept dust-free.
Hui Neng responded to the poem with a brief, obscure and at the same
time brutal blast. There is no bo tree, there is no mirror, there is
nothing to dust, he objected. Soon after that exchange occurred, the
priest the poet who had been Hui Neng’s rival pursued him, begging for
enlightenment. Hui Neng obliged with an impossible demand:
‘At this very moment, without thinking of
good or evil, show me the face you had before your parents were born!’
That was the first of some 1,700 so-called
koans-meaning icy conundrums and mad commands –which now constitute the
specifically Zen corpus of religious literature and instruction. Hui
Neng really started something. Roshis, or Zen masters of the Rinzai sect
in particular, set koan after koan to the monks in their charge. Each
koan, like Hui Neng’s own, appears designed to send disciples so far
round the bend that they may meet themselves on the return journey.
Examples are:
‘Listen to the sound of one hand clapping.’
‘Stop the ship on the distant ocean.’
‘Tell me, what is one?’
Famous replies to these koans, and hundreds
more like them, are common property. Yet these prove small help to the
student, for he is required to respond from heart, spontaneously, in
such a manner as to convince the roshi that he really does kushu
or understand the koan to the point of living it. Therefore sanzen,
as koan-work is known, almost invariably calls for of-repeated
confrontations with one’s roshi, leading to ever deeper despair,
near-breakdown and – on occasion – breakthrough as well. More than one
breakthrough is demanded, as a rule. Just how many, depends upon the
novice’s own ambition and strength of will rather than his intelligence.
Roshi-trainees themselves are said to pass an average 600 koans before
receiving permission to set up shop – or rather, temple – as practising
roshis themselves. In this respect, Zen ethics recall the old code of
psychoanalysis, according to which professionals in that field must
themselves have been psychoanalysed. All but the founder, Freud, that is
to say./.
^
Lời Phật dạy
TK. Tâm Thành
Ở Ấn Độ, khi những cơn mưa đầu mùa hạ bắt
đầu nặng hạt cũng là lúc Tăng đoàn đệ tử Phật cùng nhau tụ họp tại một
trú xứ để kiết giới an cư. Đây là một truyền thống rất quan trọng và có
nhiều ư nghĩa, v́ vậy mà các đệ tử Phật luôn tôn trọng và duy tŕ một
cách liên tục từ lúc Ngài c̣n tại thế cho đến ngày nay. Một mặt, kiết hạ
an cư là thể hiện ḷng tôn trọng những di ngôn của đức Đạo Sư
trước lúc Ngài nhập diệt , thể hiện ḷng từ đối với chúng sanh. Mặt
khác, an cư cũng là thời kỳ để Tăng Ni và Phật từ cùng nhau họp lại để
làm nhiều thiện sự.
Các bậc trưởng lăo, tôn túc gặp nhau để
trao đổi những kinh nghiệm tu hành và hoằng pháp trong thời gian chín
tháng du hành hóa đạo. Các đệ tử xuất gia khác cùng nhau sống hoà hợp,
thanh tịnh trong thời gian ba tháng tại một trú xứ để được học tập và
hành tŕ lời Phật dạy dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của những bậc Tỷ-kheo
thanh tịnh và thiện xảo về giới đức, tâm đức và tuệ đức cũng như kinh
nghiệm hành tŕ. An cư cũng là thời điểm mà mối quan hệ giữa hai chúng
xuất gia và tại gia đệ tử Phật được thắt chặt lại, v́ đây là khoảng thời
gian để chúng Phật tử tại gia thực hiện bổn phận hộ tŕ Tăng-già; đồng
thời tín đồ tại địa phương cũng có nhiều thời gian được thân cận, gần
gủi và tu học với nhiều bậc cao tăng thạc đức.
Khi Phật giáo truyền bá vào nhiều quốc gia,
xứ sở khác nhau, truyền thống này cũng được Phật giáo đồ mọi nơi
tuân thủ một cách nghiêm túc theo đúng mùa hạ của xứ Phật, dù thời tiết
của một số quốc độ không phải là mùa mưa. Do vậy, hằng năm khi biết được
Tăng-già tổ chức an cư kiết hạ tại một trú xứ nào đó -ví dụ như Úc Châu,
năm nay chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử an cư mùa đông tại Tu Viện Quảng
Đức, tiểu bang Victoria- th́ các vị xuất gia có bổn phận vân tập về trú
xứ mà đại tăng quyết định để cùng nhau tu học, ngoại trừ một vài trường
hợp đặc biệt.
Năm nay, tôi có duyên sự sang Brisbane,
thuộc tiểu bang Queensland, Úc Châu để hoằng pháp theo lời mời của Sư Cô
trú tŕ chùa Linh Sơn và một số Phật tử Brisbane đúng vào mùa an
cư. Đây có thể xem là một trong những trường hợp khá đặc biệt. Lúc đầu,
tôi khởi lên ư nghĩ rằng có lẽ chư tôn đức Tăng Ni cũng sẽ thông
cảm và hoan hỷ cho tôi nếu tôi không thể đến Tu Viện Quảng Đức để tu học
cùng Tăng-ǵa v́ một số khó khăn chủ quan cũng như khách quan. Với tâm
niệm như thế, tôi yên tâm để làm Phật sự tại Brisbane.
Tuy nhiên, một hôm, trong lúc soạn đề tài
“Ư Nghĩa Giới Luật” để giảng cho Phật tử, tôi đọc được mẫu chuyện sau
đây giữa đức Phật và tôn giả Kiếp Tân Na trong Yết Ma Yếu Chỉ.
Vào một thuở nọ, tôn giả Kiếp Tân Na đang
lưu trú tại một nơi thanh vắng. Nhân ngày bố-tát thuyết giới, tôn giả
khởi lên ư nghĩ rằng ḿnh vốn là người tŕ giới thanh tịnh th́ sự lắng
nghe thuyết giới xem ra không cần thiết lắm. Biết được ư nghĩ này của
tôn giả, đức Phật đích thân đi đến khu rừng nơi Kiếp Tân Na đang sống và
nói với tôn giả rằng: “Này Kiếp Tân Na, quả thật điều ngươi nghĩ, dù
ngươi có đến nghe thuyết giới hay không nghe thuyết giới th́ ngươi
vẫn là người tŕ giới thanh tịnh bậc nhất. Nhưng này Kiếp Tân Na, đối
với việc thuyết giới ngươi phải cung kính tôn trọng và chấp hành. Nếu
ngươi không cung kính, tôn trọng và chấp hành th́ c̣n ai sẽ là người
cung kính, tôn trọng và chấp hành sự thuyết giới.”
Sau khi đọc xong câu chuyện này, tôi nhận
ra sự sai lầm trong suy nghĩ của ḿnh, bởi v́ nếu chính tự thân tôi
không cung kính, tôn trọng và thực hành lời Phật dạy th́ làm sao quư
Phật tử có thể lắng nghe những ǵ tôi đang tŕnh bày và chia xẻ với họ.
Quả thật, lời dạy này vô cùng quan trọng và
cần được chuyển hoá vào đời sống hàng ngày của hàng đệ tử Phật, xuất gia
cũng như tại gia, đặc biệt là trong hoàn cảnh xă hội hiện nay. V́ chính
nếp sống như pháp, như luật của người con Phật sẽ là những bài pháp hùng
hồn, chuyển hoá tinh thần từ bi và trí tuệ của đức Phật vào cuộc đời,
vốn đang bị lối sống vật chất thực dụng làm xói ṃn các truyền thống đạo
đức, tâm linh của nhân loại. Nếu không, chỉ nói về, chỉ lư thuyết, chỉ
mơ ước th́ ảnh hưởng của Phật pháp không những rất ít, mà lắm khi lại
phản tác dụng.
Tu Viện Quảng Đức, Năm Giáp Thân-2004
^
Tu Viện Quảng Đức
Kính tặng Thầy Tâm Phương, Thầy
Nguyên Tạng
Thầy phát nguyện tinh tấn chí công.
Tâm Thầy bàn bạc tựa Pháp vân
Phương Trượng Linh Sơn thật tuyệt trần
Xây dựng điểm tô nền chánh pháp
Tu hành chơn chất để đền ân
Viện hoằng đạo cả truyền thừa măi
Quảng chi mệt nhọc khó muôn phần
Đức hạnh rồi đây đời ghi nhớ
Đại Tạng Kinh văn ngộ pháp thân
Già trẻ gái trai thầm nể phục
Lam lũ an bần dạ Thánh nhân.
TK. Thích Tịnh Minh
^
Hương Sen Mùa Hạ
TK. Viên Trí
Viết tặng quư Phật tử tại Tu Viện Quảng
Đức
nhân Mùa An Cư năm Giáp Thân-2004
Mùa kiết đông an cư đă về tại Úc châu.
Trong mấy ngày qua, Tu Viện Quảng Đức, thành phố Melbourne, ngập tràn
câu kinh tiếng kệ. Tăng ni và Phật tử tham dự khoá tu luôn y áo chỉnh tề
nghiêm tŕ lời Phật dạy. Các buổi pháp đàm, pháp thoại không những luôn
âm vang trong bầu trời giá lạnh ở đây, mà c̣n vọng đến những vùng đất xa
xôi như châu Âu, châu Mỹ qua phương tiện internet. Không khí trang
nghiêm và ấm cúng qua các thời khóa tụng kinh, ngồi thiền, nghe pháp,
vấn nghi... đă thật sự đem đến lợi ích và an lạc cho số đông. Việc duy
tŕ truyền thống đúng pháp này của Tăng-ǵa Phật giáo Úc Châu trong
chừng mực nào đó đă làm yên ḷng cho giới Phật tử tại gia trung kiên với
đạo. Bên cạnh đó, cuộc sống đạo vị này ắt cũng sẽ là chất kích tố đối
với ai đang có cảm t́nh với Phật giáo. Quả thật, tại ngôi chùa Việt Nam
này, một lần nữa, lời dạy: “Giới Luật là thọ mạng của chư Phật” lại được
tứ chúng đệ tử của đức Phật tôn kính và thực hành. Chắc chắn những ai
tham gia trường hạ này mà thanh tịnh giới luật của Phật chế sẽ là những
bông hoa tươi đẹp, tỏa hương khắp mọi chân trời, như kinh Pháp Cú đă
dạy:
“Hương thơm các loài hoa, chỉ ngược bay chiều gió,
Hương thơm người đức hạnh, toả ngát khắp muôn phương, Hương thớm bậc
chân nhân, tung bay mọi chân trời”
Tuy nhiên, một h́nh ảnh khiến tôi xúc động
và lưu ư nhiều nhất trong thời gian tu tập tại đây là hạnh tu thầm lặng
của một số Phật tử trong ban ngoại hộ, gồm các tiểu trai soạn, hành
đường, y tế, âm thanh ánh sáng, vệ sinh, vận chuyển, v.v... Cần lưu ư
rằng số Phật tử này không chỉ là thường trú nhân tại Melbolurne hay tiểu
bang Victoria, mà c̣n có những thiện nam, tín nữ đến từ Sedney,
Adelaide, thậm chí Darwin, cách đây gần 5.000km, và có cả một đệ tử đến
từ Philadelphia, Mỹ quốc... Họ bao gồm cả người Việt Nam lẫn người Úc.
Đây là những con người phải thức khuya dậy sớm, gánh vác mọi trách nhiệm
nặng nề, khó nhọc để chăm lo từng buổi ăn cho đại chúng hơn cả 100
người, lo sức khoẻ cho trường hạ, lo chăn áo mền chiếu cho toàn bộ khoá
tu, lo săn sóc bệnh tật cho từng thành viên, đón đưa chư tôn đức tăng ni
và tín đồ từ các tiểu bang khác tại nước Úc về dự khoá hạ an cư; bất kể
ngày đêm sáng tối, bất kể thời tiết buốt giá khắc nghiệt của thành phố
Melbourne. Quan sát công việc trong một ngày một đêm của trường hạ mới
hiểu được tấm ḷng hộ tŕ Phật Pháp của họ. Chính sự hy sinh thầm lặng
này đă giúp cho đạo tràng an cư kiết hạ luôn được thanh tịnh, khiến chư
tăng ni Phật tử thân tâm thanh thản, thư thái, tập trung toàn bộ tâm ư
vào việc hành tŕ Phật pháp.
Dù biết rằng đây cũng là một hạnh tu mà
hành giả sẽ cảm nghiệm được nhiều hỷ lạc khi trực tiếp thấy rơ kết quả
phục vụ của ḿnh v́ an lạc và hạnh phúc của tha nhân. Nhưng đây không
phải là công việc mà ai cũng có thể làm được, không phải là một thiện
hạnh mà ai cũng có thể sẵn sàng phát tâm, đặc biệt là số người đang độ
tuổi trung niên, thường nghĩ đến lợi ích của lănh vực vật chất nhiều hơn
là tâm linh. Mật hạnh này thật sự xứng đáng được cúi đầu lễ bái. Chính
v́ thế mà trong lễ chúc tán, sám hối hằng tháng của Tăng Ni Việt Nam có
câu: “Đệ tử chúng con nay v́ ân đức của những người đang phục vụ tại già
lam tự viện, nhất tâm đảnh lễ Thập Phương Thường Trú Tam Bảo” .
Chắc chắn công đức này đang kết tụ thành
đám mây lành, ngát thơm hơn cả hương sen mùa hạ, xứng đáng dâng cúng chư
Phật trong mười phương nhân mùa An cư của Tăng đoàn Phật giáo trên mọi
quốc độ./.
^
Pháp âm mầu nhiệm
Thích Phổ Huân
Thật là nhiệm mầu sự kiện lưu truyền pháp
âm của đức Phật! Ngày nay chúng ta được duyên đọc xem kinh điển giải
thoát, đâu ngờ rằng đó lại một đại thắng duyên không thể tưởng tượng
được. Nhân mùa An Cư Kiết Đông năm nay, trong bài giảng của Ḥa Thượng
thượng Huyền hạ Tôn chúng tôi lại càng thấm thía ư nghĩa đại duyên của
sự kiện lưu truyền kinh điển này.
Chúng tôi xin được chia xẻ niềm sung sướng,
cảm khái về nhân duyên được làm người mà nghe, hiểu được phần nào sự mầu
nhiệm kỳ đặc khi kinh điêån giải thoát xuất hiện sau khi đức Thế Tôn
nhập diệt, nhất là bộ kinh Lăng Nghiêm mà trong bài giảng của Ḥa Thượng
nói đến.
Phật tử chúng ta thường biết là Tam Tạng
Kinh Điển (Kinh, Luật, Luận) ngày nay có được, là do công sức lớn lao
của chư vị cao Tăng ngày xưa cố giữ lưu truyền. Nhưng không thể một quốc
gia nào lại tự nhiên có được lượng kinh điển khổng lồ như vậy. Quốc gia
đó dù phước báo nhân duyên đến đâu, sự thể cũng phải đ̣i hỏi bao người
hy sinh đời sống cá nhân, hy sinh cả đến tánh mạng, mới có thể đưa vào
lượng kinh vĩ đại như vậy. Ở Trường Hạ chúng tôi không có thời gian,
không đủ phương tiện, nên không thể t́m kiếm tài liệu nói về lượng kinh
điển đă lan tràn ra khỏi Thiên Trúc (Ấn Độ) rơ nét như thế nào, và quốc
gia nào mang được những kỳ tích thỉnh kinh ra sao, chúng tôi chỉ nói lên
được cảm nghĩ bằng vài h́nh ảnh mà chúng tôi có thể suy nghĩ được.
Hiểu biết của người Phật tử Việt Nam chúng
ta về kinh điển bằng quốc ngữ là hoàn toàn nhờ vào gia tài kinh điển của
Trung Hoa. Cho nên sự hiểu biết về truyền tích nhập kinh vào quốc gia
này th́ chúng ta thường quan tâm muốn biết.
Nhưng ở Trung Hoa không phải chỉ một Ngài
Huyền Trang hay một vài vị sau Ngài mà có thể làm giàu gia sản kinh điển
như hiện nay. Tuy nhiên Phật tử Trung Hoa và Phật tử Việt Nam chúng ta
không thể không tri ân kính lễ quư Ngài, v́ quư Ngài đă hy sinh tất cả
để góp phần rất lớn trong việc khởi đầu lập nên Đại Tạng Kinh ngày nay.
Tất nhiên các Ngài là những vị cao Tăng, mà đạo Phật là đạo du nhập vào
Trung Hoa, cho nên phải có các vị cao Tăng hơn nữa từ Thiên Trúc đi vào
mở ra một đại duyên, cho những nhân duyên theo sau huân trưởng, mà việc
thỉnh kinh nhập kinh có được là từ duyên khởi này. Chư vị cao Tăng Thiên
Trúc đă vượt qua một chặng đường rất dài, với tâm nguyện mang pháp giải
thoát lưu truyền cho thế gian; và đất nước Trung Hoa là cứ điểm mà các
Ngài nhắm vào như một điểm sáng cho Phật giáo khởi đi từ đó. Đúng như
vậy, sau khi hạt giống Bồ Đề đă đủ duyên nẩy mầm, lớn mạnh th́ chư vị
cao Tăng Trung Hoa lại hoằng truyền đến các nước lân cận khác, cũng như
khi các nước láng giềng có duyên học hiểu Phật pháp, liền cữ người đến
Trung Hoa học kinh, thỉnh kinh, hầu làm giàu giáo pháp ngày càng lan
rộng ra.
Khi chư vị cao Tăng Thiên Trúc du hành lộ
tŕnh từ Ấn đến Trung Hoa, trải qua đoạn đường xa như vậy, hẳn các Ngài
không thể đem được nhiều kinh điển, v́ điểm đến đích chỉ là dọ dẫm, khám
phá, chứ không phải như Ngài Huyền Trang thỉnh kinh trở ve,à tận dụng
hết mọi phương tiện chuyên chở kinh điển. Như thế chự vị Tăng sĩ Thiên
Trúc mang sứ mạng hoằng pháp phải có bản lănh, phải có kinh nghiệm, phải
có trí nhớ và phải có tất cả, vượt xa khả năng của phàm nhân, mới khả dĩ
đến một quốc thổ xa lạ không cùng ngôn ngữ, nói lên một giáo lư “lội
ngược ḍng đời”! Vậy chư vị đó là ai ? Để có thể làm được việc phi
thường như thế? Xin thưa chư vị là Thánh Tăng. Chỉ có Thánh Tăng chứng
quả mới có thể vượt qua bao khó khăn hiểm trở trên đường đi; chỉ có
Thánh Tăng chứng quả mới nói được một giáo pháp “ngược ḍng” vào thế
gian nhiễm ái, trong một đất nước xa lạ; và chỉ có Thánh Tăng mới tự tại
với ngôn ngữ, trong một thời gian quá ngắn, để chẳng những học trôi trải
mà c̣n trở thành các nhà dịch thuật tuyệt vời.
Tới đây chúng ta có thể nghĩ rằng, nếu thật
các Ngài là Thánh Tăng, th́ khó tránh được việc người ta thắc mắc; đó là
v́ sao chư vị không nhắc ghi lại hết toàn bộ kinh, mà phải để chư vị bổn
xứ (Trung Hoa) làm cuộc thỉnh kinh gian nan như thế? Như là Ngài Huyền
Trang vậy! Chúng ta chắc chắn nghĩ rằng Ngài Huyền Trang phải là Thánh
Tăng, và chư vị Bồ Tát Thánh Tăng thường dùng mọi phương tiện thiện xảo
độ sanh. Phương tiện thỉnh kinh của Ngài Huyền Trang chẳng phải là Bồ
Tát th́ ai làm nỗi? Cho nên Ngài phải là Thánh Tăng. Thiết nghĩ chúng
tôi không cần nói lên sự gian nan mà Ngài Huyền Trang phải trải qua, và
sự gian nan như vậy chỉ có Thánh Tăng mới vượt qua nổi. Cũng không khác
chư vị Thánh Tăng Thiên Trúc, Ngài Huyền Trang không một trở ngại ǵ
ngôn ngữ!
Như vậy chúng ta chưa phải là Bồ Tát, chưa
chứng đạo nên chưa hiểu được phương tiện độ sanh của chư vị. Hay ta có
thể đoán rằng, chư vị Bồ Tát phải thị hiện một h́nh ảnh Đại sư Huyền
Trang thỉnh kinh khó khăn như vậy, mới để lại dấu ấn đẹp của lịch sử
truyền thừa Phật pháp!
Trong bài thuyết tŕnh của Ḥa Thượng
(Huyền Tôn), chúng tôi lại được nghe việc xuất hiện bộ kinh Lăng Nghiêm
vô cùng kỳ lạ và nhiệm mầu! Ngày nay t́m bộ kinh Lăng Nghiêm để đọc,
thật là chuyện dễ trước mắt, thậm chí cả người không phải là Phật tử nếu
muốn t́m cũng c̣n dễ. Và ngày ngày người tu sĩ Phật Giáo Việt Nam theo
truyền thống Bắc Tông hầu như đều đọc chú Lăng Nghiêm mỗi buổi sáng,
cũng chẳng để tâm t́m hiểu làm ǵ, ai đă mang kinh Lăng Nghiêm ra khỏi
Thiên Trúc, và việc thỉnh bộ kinh này sự t́nh ra sao ?
Buổi thuyết tŕnh của Ḥa Thượng cho biết
rằng, kinh này được Ngài Long Thọ thỉnh tại Long Cung và thỉnh qua h́nh
thức đọc “trộm”, ghi hết vào tâm, chứ không thể có bộ nào dư để mượn!
Việc này nghe qua khiến phải suy nghĩ! Thứ nhất làm sao Ngài xuống được
Long Cung? Thứ hai làm sao đọc “trộm” mà nhớ hết? Trả lời nghi vấn trên
thế nào, thiết nghĩ không bằng sự kiện phi thường sau khi bộ kinh được
mang về đất liền rồi trở thành quốc bảo, để rồi xuất hiện Ngài Bát Lật
Mật Đế khởi đại bi tâm muốn tiết lộ đến mọi người bộ kinh này, mà phải
xẻ thịt nhét bỏ vào thân. Bộ kinh được viết lên vải lụa thật mỏng, thật
nhỏ trong mọi cố gắng để đủ không làm hư hoại kinh và hư hại thân. Việc
làm này nghe qua hết sức kính phục và cảm động ḷng hy sinh cao cả của
Ngài. Cuối cùng kinh được mang ra khỏi nước, nhập vào Trung Hoa. Đến đây
lại một lần khó khăn lấy kinh ra; tưởng không c̣n đọc được, v́ lâu ngày
máu mủ thấm nhiễm vào vải lụa. Nhưng mầu nhiệm của chân lư, mầu nhiệm
của Phật pháp, để cuối cùng tất cả đă được ghi lại, sao lại y như nguyên
bản.
Ḥa Thượng cho biết, thời gian nghiên cứu
kinh Lăng Nghiêm Thầy đă đọc duyệt qua nhiều kinh; biết được rằng khi
Phật sắp nhập Niết Bàn, Phật chọn dạy một số Bồ Tát cần phải trụ lại Ta
Bà, hoằng truyền đạo pháp đợi đến ngày Phật Di Lặc ra đời th́ tiếp tục
độ sanh. Tất nhiên khi thời kỳ mạt pháp đến tận cùng th́ các Ngài chỉ
lánh mặt chứ không phải biến mất. Cho nên Ḥa Thượng khẳng định hiện
thời một số Bồ Tát được Phật chỉ dạy mang trách nhiệm hoằng pháp, hiện
vẫn c̣n đang làm nhiệm vụ hoằng pháp. Tuy nhiên rất khó mà chúng ta biết
được nơi đâu có mặt các Ngài, và các Ngài đang là ai ?? Như vậy trở lại
vấn đề Ngài Long Thọ xuống được Long Cung, đọc kinh ghi được hết vào
tâm, đă được trả lời; v́ Ngài phải là trong số Bồ Tát được Phật dạy làm
trách vụ hoằng truyền Phật pháp. Nói thẳng ra đă chứng đạo tất sẽ tự tại
vô ngại mọi chướng duyên vật chất.
Tóm lại ngày nay người Phật tử chúng ta vô
cùng hữu duyên, không phải trả một giá đắc nào, không phải tổn hại chi,
và cho đến không chút mệt nhọc phí công khi muốn làm chủ một quyển kinh,
một quyển sách luận Phật pháp nào. Ngày nay phương tiện truyền h́nh,
truyền thông, tin học lại tăng thêm phương tiện dễ dàng t́m học Phật
pháp, và ngày nay có lẽ cả đến người không biết đạo Phật cũng c̣n nghe
và biết được Phật pháp. Tuy nhiên dù thế nào đi nữa, Ta không thể không
nhớ về những sự kiện nhiệm mầu ngày xưa mà chư Tổ đă thị hiện giữ và lưu
truyền kinh điển đến ngày nay. Sự thị hiện các Ngài qua mọi h́nh thức
khác nhau cũng chỉ là phương tiện quyền xảo thể hiện ḷng từ bi nối tiếp
con đường của Phật.
Do vậy, nếu ta ngày nay gặp được hữu duyên
dễ dàng t́m đến kinh điển, th́ ta nháát định phải ghi tâm niềm tri ân
kính mộ người xưa. Không phải v́ ta đă có duyên Phật pháp trong tiền
kiếp nên kiếp này tự hào cho đó là nhân quả tốt như vậy. Nhưng từ đây
cũng là nhân quả ngược lại, nếu ta chẳng ư thức điều nhiệm mầu huyền
diệu của nhân duyên t́m thấy được kinh; ta sẽ chẳng phát được Bồ Đề Tâm,
chẳng thể tiến xa trên đường học Phật.
Tư duy, suy nghĩ được vậy, th́ tất cả Phật
tử hai giới xuất gia, tại gia không những t́m được kinh điển qua h́nh
sắc cụ thể, mà c̣n giác ngộ được ư nghĩa chân kinh nhiệm mầu, đó mới là
quyển kinh vô ngôn, vượt khỏi nhị biên đối đăi.
Mùa An Cư Kiết Đông tại Tu Viện Quảng Đức năm 2004. TPH.
^
Tinh thần Quảng Đức
Bốn mươi năm trước
Một chín sáu ba (1963)
Lửa Quảng Đức
Thắp sáng cơi u minh
Thiêu rụi cường quyền phiền năo
Để lại trái tim bất diệt
Làm, rung chuyển ḷng người
Năm nguyện vọng thành công
Phật giáo Việt Nam
Gom về một mối
Nền Phật Giáo Thống Nhất ra đời
Đem chân lư rạng ngời
Sáng soi bao tăm tối
Dẫn lối về cho lắm kẻ vô minh
Bốn mươi năm sau
Hai ngàn không trăm linh ba (2003)
Thượng Tọa Thích Tâm Phương
Khánh thành Tu Viện
Tôn danh Quảng Đức
Nối tiếp hành trạng của Ngài
Khai sơn chùa trên đất Úc
Tiếp Tăng, độ chúng
Hoằng hóa lợi sanh
Tùng duyên sự nầy
Phật giáo Việt Nam khắp thế giới
Gồm chư Tôn Đức Tăng Già
Cùng toàn thể Phật Giáo đồ
Đại Hội bất thường
Suy tôn Ngài Trưởng lăo Huyền Quang
Ngôi đệ Tứ Tăng Thống
Và Hội Đồng Lưỡng Viện
Cũng tại Quảng Đức Tu Viện
Truyền thống phương tiện
“Điện tử thư viện”
Đại Đức Nguyên Tạng
Vinh danh Ngài măi măi
Bằng trang Web quang duc com.
Thông tin đức truyền pháp âm
kHắp thâm sơn, cùng cốc
Và từ đây
Phật Giaoviệt Nam
Chuyển ḿnh vươn tới
Rộng tỏa năm châu
Tăng già ḥa hợp
Hoằng dương chánh pháp
Và hôm nya, lại một lầu nữa.
Tại châu đại dương nầy
Tu viện Quảng Đức
Là đạo tràng An Cư tứ chúng
Tiếp theo chân Phật
Nối được truyền thừa
Tăng già thanh tịnh
Giáo hôi trang nghiêm
Muôn hướng một ḷng
Hiệp tâm nhất ư
Hơn sáu mươi Tăng Già ḥa hợp
Y vàng rực rỡ
Bảy chục áo lam, ṭng chúng tập tu
H́nh ảnh tuyệt vời
Muôn đời ngời sáng
Lịch sự thêm trang
Tinh thần Quảng Đức
Kỹ niệm mùa An Cư Kiết Đông. 2004
Thích Viên Thành
^
Tùy Duyên Bất Biến
Thích Nhuận Chơn
Cư trần lạc đạo khả tuỳ duyên
Cơ tắc san hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
(Ơû đời vui đạo hăy tuỳ duyên
Đói ăn khát uống, mệt ngủ liền
Của báu trong nhà không t́m kiếm
Đối cảnh vô tâm chế hỏi thiền)
(Trần Nhân Tông)
Tất cả chúng ta đang sống trong cơi diêm
phù này vui ít khổ nhiều, trầm luân trong bể khổ. T́nh trạng chiến
tranh, khủng bố đang tiếp diễn ngày càng mạnh, luôn luôn đe dọa và ŕnh
rập cướp đi mạng sống của chúng ta. Đó là thảm cảnh đă, đang và sẽ xảy
ra trên trần gian này.
Đức phật dạy: “Tuỳ duyên bất biến, bất biến
tuỳ duyên”. Đó là nguyên lư vô cùng cao thâm của Phật giáo. Đạo Phật tồn
tại theo thời gian, không biến hoại theo không gian là do đạo Phật vượt
qua cả không gian lẫn thời gian, không bị thời gian và không gian thay
đổi, cũng là do thực hành theo nguyên lư này “tuỳ duyên bất biến, bất
biến tuỳ duyên”. Bởi v́, đức Phật chủ trương con đường trung đạo, nghĩa
là không buông lung phóng dật và cũng không quá khắc khe với chính ḿnh,
mà phải sống đời sống tự tại giải thoát. Không bị bất cứ dục lạc nào
trên thế gian cám giỗ.
Không phóng dật đường sống
Phóng dật là đường chết
Không phóng dật không chết
Phóng dật như chết rồi” KPC21
Đối với những ai sống đời sống bung lung,
phóng dật th́ người ấy tuy c̣n sống nhưng đă chết rồi, nhưng những ai
sống khổ hạnh quá cũng không được. Chúng ta thử lấy cuộc đời đức Phật
làm minh chứng. Khi Ngài c̣n là thái tử, sống trong hoàng cung đầy đủ
dục lạc thế gian, nhưng Ngài không hưởng thụ mà bỏ đi t́m chân lư. Đến
lúc vào rừng sống đời sống khổ hạnh, cũng không t́m ra ánh sáng chân lư.
Ngài bèn quyết định từ bỏ lối sống khổ hạnh và t́m đến cội bồ đề thiền
định suốt 49 ngày đêm và t́m ra ánh sáng chân lư. Tức là đạt đến vô
thượng bồ đề. Do vậy, Ngài dạy các tỳ kheo hăy từ bỏ đời sống dục lạc
thế gian và cũng không nên t́m lối sống khổ hạnh, mà phải thực hành theo
con đường trung đạo.
Trần Nhân Tông đánh bóng con đường trung
đạo của đức Phật qua bài thơ này.
Ở
đời vui đạo hăy tuỳ duyên
Đói ăn khát uống mệt ngủ liền
Chuyện ăn, uống, ngủ, nghỉ là chuyện thường
t́nh của nhân thế. Tuy thường nhưng chẳng phải thường. Biết bao nhiêu
ngựi v́ miếng ăn mà anh em bất hoà, biết bao nhiêu người v́ miếng ăn mà
tán gia bại sản, biết bao nhiêu người v́ miếng ăn mà nước mất nhà tan
v.v... cùng là v́ miếng cơm manh áo mà ra. Chiến tranh xảy ra cùng là
giành ăn đó mà thôi, nhiều người sống không có cơm ăn áo mặc, nay đây
mai đó cùng v́ miếng ăn đó mà thôi. Vậy thử hỏi ai dám tuyên bố rằng
chuyện ăn uống ngủ nghỉ là chuyện nhỏ, là b́nh thường. Đối với người
Phật tử sống theo lối sống phạm hạnh, th́ xem những chuyện ấy b́nh
thường, v́ họ thực hành theo lời dạy đức Phật, sống đời sống tri túc.
“Tri túc tiện túc, đăi túc hà thời túc
Tri nhàn tiện nhàn, đăi nhàn hà thời nhàn”
Người biết đủ th́ dầu có nằm trên đất cũng
thấy an nhàn, người sống không biết đủ th́ dầu có ở trên thiên đàng cũng
vẫn thấy thiếu. Do đó, có sự khác nhau rơ rệt giữa người sống phạm hạnh
và người sống đời sống không phạm hạnh, người hiểu đạo và người không
hiểu đạo. Đối với người sống phạm hạnh th́ mặc cho thế gian vô thường,
sinh tử sự đại, đứng trước sự hỷ, nộ, ái, ố của thái thế nhân t́nh th́
vẫn giữ b́nh thản tâm hồn, không bị giao động bởi vật chất và dục lạc
thế gian. Do vậy tăng đoàn đức Phật luôn coi trọng, xiển dương đời sống
phạm hạnh.
Chính vật chất thế gian làm cho con người
ta đau khổ, trầm luân. Đức phật dạy rằng hăy từ bỏ những lợi dưỡng thế
gian, mà hăy quay về sống với nội tâm, quay về với thế giới nội tại vô
cùng quư giá mà chúng ta đă hằng quên. Tức là chơn tâm thường trú vắng
lặng trong chúng ta.
Của báu trong nhà không t́m kiếm
Đối cảnh vô tâm chế vấn thiền
Đức Phật dạy: “này các tỳ kheo, hăy tự ḿnh
thắp đuốc, thắp lên với chính ḿnh đừng thắp lên với một pháp nào khác.
Hăy nương tựu chính ḿnh, đừng nương tựu một pháp nào khác”. V́ chính
chúng ta mới quyết định được đời sống của chúng ta mà thôi. Ngài cũng
không ép buộc bất cứ một người nào tin và nghe theo Ngài. V́ nếu tin
Phật mà không hiểu Phật nghĩa là đồng thời huỷ báng Phật vậy.
“Tự ḿnh y chỉ ḿnh
Nào có y chỉ khác
Nhờ khéo điều phục ḿnh
Được y chỉ khó được” KPC 160
Người Phật tử đối với việc khen chê, chỉ
trích, công kích, đả phá chúng ta không vội tin theo mà phải suy xét
tường tận rồi mới tin. Nếu như người Phật tử mà mê tín th́ không phải là
Phật tử chơn chánh, người Phật tử cần phải chánh tín. Đối với sự khen
chê, yêu thương, ganh ghét là chuyện thường t́nh của người đời, chúng ta
không v́ khen mà vui, chê mà buồn, mà phải giữ tầm hồn trong sạch và
t́nh tĩnh khi đối diện với nó. Không nên tin vào những ǵ dù đó là những
chuyện được người đời tin theo, không tin vào điều ǵ dù đó là điều của
vĩ nhân ở đời, không tin vào điều ǵ dù đó là của bậc thánh nhân để lại,
mà phải tin vào điều ǵ chúng ta hiểu và đem lại lợi ích cho ḿnh và cho
người.
“A tu la nên biết
Xưa vậy nay cũng vậy
Ngồi im bị người chê
Nói nhiều bị người chê
Nói vừa phải bị chê
Làm người không bị chê
Thật khó t́m ở đời” PC 227
Ngày xưa vua Đường Thái Tông hỏi Hứa Kính
Tôn rằng: trẫm thấy ngươi đâu phải là phường sơ bạc mà sao lại bị tiếng
thị phi chê ghét như thế.
Hứa Kính Tôn trả lời: tâu bệ hạ: trời mưa
tầm tă người nông phu vui mừng cho ruộng đất được tốt tươi, thấm nhuần,
kẻ bộ hành lại ghét v́ đường trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc hàng
thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng phường đạo chích
lại ghét v́ ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên
vị, mà cơn mưa nắng của thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương,
c̣n hạ thần cũng đâu phải người vẹn toàn th́ làm sao trách khỏi tiếng
thị phi chỉ trích. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc c̣n hơn rắn rết,
bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.
Qua đó chúng ta thấy được rằng người Phật
tử không được chê bai chỉ trích ai, mà cũng không nên tin theo những lời
thị phi chỉ trích của thế gian. Chúng ta giữ được tâm ư trong sạch, b́nh
thản trước những khen chê, thành bại. Thế mới xứng đáng là người Phật
tử. Chúng ta phải có niềm tin vững chắc mới có thể vượt qua những chướng
ngại của cuộc đời, có những trở ngại mà vượt qua th́ những việc làm của
chúng ta mới tăng phần giá trị. Và phải tự chiến thắng với chính ḿnh
đừng để trần gian mê hoặc.
Ví như đường đời bằng phẳng cả
Anh hùng hào kiệt có hơn ai
^
Giới luật là thọ mạng của
chư Phật
TT Thích Bổn Điền
Ư niệm về Luật là ư niệm về một tổ chức,
một chính quyền, một xă hội.
Khi ư niệm về Luật và Pháp, th́ chính tự
trong nó đă mang một ư niệm về quyền lực và bạo lực, hai ư niệm đó không
thể tách ĺa nhau được, như bóng và h́nh.
Một đạo luật hay sắc luật của một nhà nước
hay tôn giáo được ban hành, th́ tự nó đă buộc một cá nhân hay tập thể có
liên hệ phải thi hành những điều luật đó; nếu cá nhân hay tập thể không
tuân hành theo, th́ cá nhân hay tập thể đó sẽ bị khiển trách, cảnh cáo
phạt vạ, cách chức, bỏ tù. Nếu cá nhân hay tập thể đó không tuân thủ th́
sẽ phải dùng đến quyền lực và bạo lực để chế tài đối tượng đó.
Tất cả những h́nh thái của các tập thể tôn
giáo hay chính quyền đều dựa vô quyền lực và bạo lực để bảo vệ và
duy tŕ chính thể hay tổ chức tôn giáo của họ.
Đức Phật đến với cuộc đời trong tư cách của
một con người, tự ḿnh đi t́m một phương pháp hóa giải những trói buộc
cuộc đời, Ngài không nêu danh một đấng quyền năng ban phước giáng họa.
Trong tất cả lời dạy của Đức Phật đều hàm
chứa tính tự ư thức và trách nhiệm. Do giới luật của Đức Phật dạy chúng
ta, nó có tính tự nguyện, không mang tính bắt buộc, quyền lực hay bạo
lực trong đó. Bởi v́ theo quan niệm đạo Phật, nếu dùng quyền lực để duy
tŕ Phật pháp th́ chỉ giữ được cái xác khô của Đạo chứ không chuyển tải
được chất liệu sống đạo bên trong, th́ sự tồn tại đó cũng không đem đến
sự ích lợi thiết thực cho con người là chúng sanh. Giữ ǵn giới hạnh, ư
thức trách nhiệm nơi tự thân của mỗi chúng ta chính là làm cho mạng sống
Phật pháp tồn tại dài lâu nơi cuộc đời này.
Sự sống của Đạo Pháp mà Giáo Hội, không cần
đến một sức mạnh hay thậm chí mang tính Giáo quyền trong ngôi nhà Phật
pháp. V́ những ư niệm về quyền lực hay Giáo quyền đó, không mang lại sự
b́nh yên, an lạc, mà nó là mầm móng của bạo động, và hận thù. Từ bi,
t́nh thương yêu, ư thức trách nhiệm và bổn phận nơi mỗi tự thân là những
yếu tố không thể thiếu trong sự duy tŕ và tồn tại mạng mạch Phật pháp.
Như vậy, ư niệm giới luật trong đạo Phật
không mang tính bắt buộc, nghiêm trị, mà nó mang tính tự nguyện, nhân
quả, khuyên văn, ư thức tự chuyển hóa nội tâm trong mỗi chúng ta. Do đó,
giới luật mà đức Phật dạy cho chúng ta, nó chỉ có giá trị, khi mỗi trong
chúng ta chấp nhận tuân phục trong tinh thần tôn trọng và sẽ không có
giá trị đối với những người không cảm nhận được ư nghĩa đích thực của
giới luật.
Mùa Kiết Đông tại Tu Viện, 2004
^
Châu viên một đóa tinh anh
mỉm cười
TT Thích Nhật Tân
Cảm tác sáng chủ nhật, 11-7-2004 Nhân
Mùa An Cư tại Quảng Đức
An Cư Kiết Hạ
Đức Phật đă chế từ xưa đâu có lạ
Tăng Đoàn câu hội, thất chúng đồng tu
Con đường tu, không lẽ chỉ tu mù
Tu mà không học th́ làm sao tu được?
Đường sinh tử đă mang nhiều uế trược
Nghiệp chúng sinh, vốn triền phược trầm luân
Mỗi vào ra, đày đọa biết bao lần
Không tỉnh ngộ hồi đầu, chi cho khổ!!!
An Cư Kiết Hạ
Đức Phật đă chế ra từ độ
Chuyển pháp luân vi diệu tại vườn nai
Đến hôm nay, hai mươi sáu thế kỷ dặm dài
Thuyền bát nhă, tam thừa đăng bỉ ngạn
Aùnh đạo huy hoàng
Muôn đời tỏa rạng
Đệ tử hàng hàng
Quy bóng từ quang
Thượng cầu Phật đạo
Hạ hóa cưu mang
Đó mới là bản hoài của ba đời chư Phật
An Cư Kiết Hạ,
Vạn vật duy tâm
Vạn pháp quy nhất
Ta hỏi người nghe:
Một là tất cả
Tất cả là một
Thấu triệt, nhận chân, cho cùng, cho tột
Quy nhất là một
Vây th́, một sẽ đi về đâu ???
Núi cao gối tựa kê đầu
Cùng ngưu ḥa thể, kiếm trâu lầm ǵ!
Ánh trăng, đă thấy, hỏi chi
Nh́n tay, lại hỏi, đến - đi, gậy
nầy !!!
Đạo mầu, không đó không đây
Pháp thân tự thể, không này không kia
C̣n không, một giọt sương khuya
C̣n không, một tiếng chuông, ĺa điểm
canh
An Cư Kiết Hạ trong lành
Châu viên một đóa tinh anh mỉm cười.
^
An Cư nơi Chùa Quảng Đức
Chùa là xứ sở của dân ta
Chùa giữa thành đô nghĩa đậm đà
Chùa rắc niềm tin cho nhân loại
Chùa gieo hạnh phúc khắp gần xa
Tu Viện Quảng Đức là một ngôi chùa Việt vừa
rộng lớn, vừa trang nghiêm, có thể nói đây là ngôi chùa mang nhiều nét
đặc thùa của văn hóa, quê hương mà tôi được chiêm ngưỡng ở xứ người.
Hôm nay, mùa An Cư được được Giáo Hội tổ
chức tại đây. Thật là một phúc duyên lớn cho chúng tôi có được nơi an cư
đầy đủ phương tiện. Sáng nay, một buổi sáng mùa Đông, mặc dù tiết trời
lạnh buốt, nhưng ánh nắng ban mai toả chiếu những tia nắng thật ấm áp.
Chư tôn Đức Tăng Ni cùng Phật tử, đều vân tập đông đủ tại đạo
tràng để kiết giới. Phải chăng đây là truyên thống tam ngoạt hạ an cư mà
ngày xưa đức Thế Tôn đă chế.
Tôi c̣n nhớ trong luật đức Phật có dạy rơ
v́ sao phải kiết hạ an cư. Nguyên nhân là do lục quần Tỳ kheo vào thời
Phật c̣n tại thế, những vị này ở trong tất cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu,
Đông đều dạo đi trong nhân gian.
Các cư sĩ thấy vậy chê rằng: “Chúng tôi
thấy hàng ngoại đạo c̣n biết ba tháng an cư, cho đến loài chim muông đều
có hàng tổ để nghỉ ở, là đệ tử Phật mà không cấm túc an cư ở trong tất
cả thời đi lại trong nhân gian, dậm chết cỏ tươi, hại loài trùng kiến.
Như vậy đâuxứng đáng là sa môn Thích Tử “
V́ lư do này nên đức Phật dạy cho ba tháng
kiết hạ an cư .
Lại nữa trong Luật Tăng Kỳ có chép : Tỳ
Kheo không an cư phạm tội đọa.
C̣n Luật Tứ Phần ghi: Tổ Xá Lợi Phất và tổ
Mục Kiền Liên muốn cùng đức Thế Tôn an cư nhưng ngày 17 tháng 4 mới đến
- Phật dạy cho hậu an cư. Như vậy nếu không tiền an cư th́ hậu an cư chứ
không thể bỏ an cư . Ngày nay ở Hải ngoại v́ quốc độ, v́ thời tiết cay
nghiệt, chư Tăng không thể an cư ba tháng như trong Luật Phật dạy. Đây
cũng là sự linh động uyển chuyển của các Ngài. Bởi v́ Phật pháp nhập
cảnh tùy tục, lư hành đến quốc độ nào th́ pyhải thích nghi với quốc độ
ấy. Tuy là trên h́nh thức mười ngày nhưng ở mỗi trú xứ mỗi trị viên đều
có làm lễ từ rằm tháng tư cho đến rằm thán bảy mới giải chế. Lúc nào các
Ngài vẫn tâm niệm an cư vẫn kiên tŕ giới luật.
Hôm nay, ngày an cư sắp viên măn, từ buổi
đầu tiên cho đến nay đạo tràng Quảng Đức ngày nào cũng đông rợp bóng
người, những chiếc y vàng giải thoát của chư Tôn Đức và những tà áo lam,
thanh nhă của Phật tử ḥa nhập theo lời kinh tiếng mơ vang vọng ngân đưa
làm cho ngôi Đại Hùng Bảo Điện thêm vẽ uy nghiêm mầu nhiệm. Tất cả người
con Phật lúc bấy giờ cảm giác một trạng thái nhẹ nhàng thanh thoát, mọi
gánh nặng họ đều quăng bỏ, tuy chưa đến Bảo sở nhưng cũng được thong
dong nơi hóa thành. Trong mười ngày tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng lợi ích,
với tinh thần vô ngă vị tha các Ngài bất từ bi quyện quang lâm về một
trú xứ ḥa hợp tác pháp, truyền tŕ mạng mạch tiếp nối ngọn đèn chánh
pháp của đức Như Lai, soi sáng bằng lư tưởng chân lư cao đẹp theo tâm
nguyện “Tục diệm truyền đăng”.
Chúng tôi thiết nghĩ trong những ngày qua
không có niềm an lạc nào bằng sự tỉnh tâm, cũng như không có niềm
vui nào bằng sự tĩnh tâm, cũng như không có niềm vui nào bằng được an
trú trong chánh pháp và Quảng Đức là nơi đạo tràng trang nghiêm thanh
tịnh che chở trong suốt thời gian an cư kiết hạ .
Quả là: Đây chốn ṭng lâm chốn tịnh nhàn
Trầm hương quyện tỏa ngát muôn phang
Chư tôn đức hạnh quang lâm điện
Đại chúng oai nghi đáo đạfo tràng
Giới luật kiên tŕ tâm tịch tịnh
Tỳ ni vâng giữ tướng nghiêm trang
Hai lăm thế kỷ lưu truyền măi
Đuốc pháp mầu soi sáng thế gian.
Mùa An Cư Năm Giáp thân
TKN Thích Nữ Như Tuyết.
^
An Cư một niệm quay về
TK Thích Đạo Hiển
An Cư là một truyền thống ngàn xưa, khi đức
Thế Tôn c̣n tại thế, luật ấy được áp dụng và tuân thủ một cách đều đặn.
Trải qua trên 2600 năm cho đến ngày nay, chúng ta cũng được áp dụng quy
chế đó và nhiều Thanh Quy do chư Bồ Tát, tỏ sự quán chiếu nơi căn tánh
của Tăng đoàn hay tất cả chúng sanh đặt ra những quy củ thiền môn và
điều lệ. Nhằm mục đích ngăn ngừa tội lỗi, phản chiếu nội tâm.
Bởi thế, An Cư là một phương pháp thật diệu
vô cùng. Nó đưa tất cả những người con Phật trở lại thực tại của nguồn
chơn, Sống trong ánh hào quang chánh niệm tỉnh giác, dẹp trừ tất cả
những nghiệp chướng vọng sanh,
An Cư tu học, chánh niệm theo thời khắc.
Không bị vọng tưởng ngoại trần chi phối; không bi ngoại duyên tác động
lôi cuốn; đoạn trừ những nghiệp bất thiện, tạo cho nội tâm một chỗ trụ
vững chắc, nh́n cuộc đời đang cuồn cuộn trôi trong nhăn quan chánh kiến
của vô thường. Thấy rơ được tṛ chơi ảo hóa của cuộc đời là giả tạm
không thật. Rồi tự “Phản quan tự kỷ” – hồi đầu bỉ ngạn cho chính ḿnh.
Như Thiền Sư Trần Nhân Tông có dạy:
“Cảnh tịch an cư tự tại tâm
Lương phong xuy đệ nhập tùy âm
Thiền đường thọ hạ nhứt kiện quyển
Lưỡng tự thanh nhàn thắng nạn câm”
Nhưng đối với hoàn cảnh là một điều rất
quan trọng đối với người tu tập bước vào “tâm tự tại“. V́ cảnh
lục trần là nơi để cho lục thức tiếp xúc sanh khởi. Nếu duyên cảnh thiện
th́ khởi lên tác ư thiện, bằng không th́ ngược lại. Cho nên, An Cư thời
khắc tu học hay ngồi thiền tụng kinh bái sám cho đến học hỏi Phật pháp,
đều hầu mong đem lại sự an tịnh, giác niệm hồi đầu, tri kiến nơi bản
giác nội tâm. Sống làm chủ mọi t́nh huống do lưới nghiệp vọng tưởng gây
ra. Huân tập thành một tập quán thiện theo suy nghĩ thiện và đến hành
động thiện, tạo thành những chuỗi ngày an lạc. Không để nghiệp bất thiện
làm chủ sai khuyến. V́ tất cả những suy nghĩ, hành động của mỗi con
người đều do nghiệp lực gây ra. Nên tổ Quy Sơn dạy rằng: Lưới thủng chim
bay, tâm tùy nghiệp lực”
Bởi thế, tất cả những hành động bên ngoài
đă huân tập đầy đủ theo thánh giác viên minh từ bên trọng. Tức là “Nhứt
thiết duy tâm tạo” sáng suốt th́ trực giác hiện tiền. Xua đuổi đi những
nghiệp chướng của màn tối vô minh. Sống thực sự quay trở về với bản giác
tự tâm, trong ôn ḥa thánh đức Như Lai. Trực tâm biểu hiện trong ngôi
nhà Phật pháp. Như Kinh Pháp Hoa đức Phật dạy:
“...nhà của Như Lai, là tấm ḷng đại từ
đai bi đối với chúng sanh. Áo của Như Lai là cái áo đức tánh ôn ḥa nhẫn
nại ở nội tâm. Chỗ của Như Lai là tánh chơn không, nơi nhứt thiết pháp”
Hi hữu thay! Ngày nay chúng ta đă được ở
nhà Như Lai, khoát áo Như Lai, tu luyện theo hạnh đức của Như Lai, để
mong ngồi ṭa Như Laị Ư niệm đó được phát khởi nơi tự tâm của mỗi con
người chúng ta. Nhưng ư niệm ấy dối với mọi hành giả tu tập phải giữ ǵn
và dọn quét như thế nào? Làm cho ư niệm bản thức được tỏ ngộ hoàn toàn
và tâm thức được an cư tự tại trong mỗi hành xứ .
Vấn đề này được chư Phật và Chư vị Tổ sư
dạy rất nhiều trong kinh điển. Hay là thân chứng tự nội của kinh Lăng
Già mà Bồ Đề Đạt Ma truyền tâm ấn cho Huệ Khả. Nghĩa là đặt nặng nơi
giác tỉnh và kiến tánh. Có kiến tánh mới thấy được thật tánh cuả các
pháp hiện hữu ở ngoài tâm. Nếu chưa thấy tánh mà đi t́m thật tánh th́
cũng giống như lặn xuống nước t́m mặt trăng. Theo cái bóng bỏ thân h́nh,
dong ruổi t́m cũng vô ích, không làm sao thấy được. Khi ngộ được thật
tánh, nội tâm hay ngoại cảnh đều uyên nguyên thông suốt, nh́n tất cả các
pháp hiện hữu chỉ qua là duyên sinh giả hợp, duyên sinh biến đổi vô
thường, mà vô thường là không có một cái ngă trường tồn. Như sắc thân
ngũ uẩn của mỗi con người đem phân tích chi ly th́ cũng không t́m ra một
cái ngă thật sự. Mà nó cũng biến đổi vô thường trong từng sát na, như
Trần Nhân Tông có nói: “Mệnh tựa ngọn đèn trước gió, thân như bọt
nước đầu ghềnh” trong lời nhắn
nhủ đến mọi người hăy cảnh tỉnh về sự vô
thường của sanh tử. Hoặc Tổ Quy Sơn có dạy trong Quy Sơn Cảnh Sách
“Vô thường lăo bệnh, bất dữ nhân kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị thế?
Thật vậy, thân như bọt nước, như phù vân, điện chớp, sáng có chiều
không...chỉ có một sát na, th́ không phải là một con người uyên
nguyên nữa. Nếu không có một niệm Chánh giác quay về th́ không biết sanh
tử về đâu?
Tổ sư Trần Nhân Tông dạy
”luôn luôn ch́m đắm trong biển mê măi măi nổi trôi nơi bể khổ,
mù mù mịt mịt nào biết nào hay, lẩn quẩn lanh quanh chẳng tỉnh chẳng
ngộ. Hết thảy đều buông lung tâm ư, chẳng ai nắm mũi lôi về.”
Ngày nay, Giáo Hội tổ chức An Cư tại Tu
Viện Quảng Đức Úc Đại Lợi, nhắm hướng về bến giác của tự tâm sẽ “nắm
mũi lôi về” ngăn chặn sự buông lung tâm ư. Mở tung cánh cửa giác ngộ
giải thoát mà lâu nay măi măi làm khách phong trần. Lặn hụp trong cồn
biển vô minh. Được giây phút thiền tọa lắng đọng lại sóng nghiệp của
biển trần; tâm tâm niệm niệm từng giây phút trong suốt một mùa An Cư.
Sống thật sự với Giáo Pháp vô ngă của đức Như Lai, hành động theo phương
pháp Tỳ Ni. Từ ăn uống cho đến ngủ nghỉ đều trong chánh niệm giác tỉnh.
Sống thật sự trở về với người cha hiền muôn thuở. Đích thực là nguồn
chơn nơi bản giác của chúng ta. Sống chan ḥa trong ḍng pháp diệu của
Thế Tôn Từ phụ, có đầy đủ thất chúng an cư tu học. Đây là một truyền
thống tốt đẹp mà mọi người con Phật của chúng ta phải nhớ đến mà quay
về./.
^
Vui thay khi Phật ra đời
Hạnh phúc thay chư
Tăng ḥa hợp
Giác Hóa
Mùa an cư kiết hạ năm nay thật là một nhân
duyên lớn đă đến với con, khi con được tham dự khóa tu học tại Tu Viện
Quảng Đức Melbourne trong không khí trang nghiêm và long trọng, được tổ
chức tại Đại Hùng Bảo Điện của buổi lễ khai mạc con vô cùng xúc động khi
quỳ dưới chánh điện của Tu Viện Quảng Đức trước quư Ḥa Thượng, Thượng
Tọa, Quư Thầy Cô như là mỗi vị Bồ Tát đang xuất hiện trước mắt con. Oâi!
Ḷng con thật là hạnh phúc, sung sướng. Sau buổi lễ khai mạc đó quư
Thầy, cô thọ trai tại trai đường và con đă có một phước báu lớn được vào
ban hành đường.
Lần đầu tiên được hầu cận quư Ngài con cũng
có phần lo sợ và lúng túng nhưng với tấm ḷng thiết tha cung kính và
trong tâm luôn niệm Di Đà, nên con cũng bớt phần lo sợ (bửa ăn
chay tịnh của những ngày tu học được dọn đến, nh́n những món ăn chay tuy
đạm bạc nhưng vô cùng tinh khiết của mỗi Phật tử đă bỏ tâm, bỏ công, bỏ
sức để lo mỗi bửa trai tịnh được chu toàn, thật là công đức vô lượng)
Ban hành đường của chúng con gồm có: Quảng
Hiền , Ni Cô Giác Trí, Diệu Khánh, Hải Hạnh và một số Phật tử khác chúng
cơn đă làm trong tinh thần lục ḥa, vui vẻ và tích cực. Mặc dầu những
lúc mệt mỏi nhưng với tâm trạng đang tràn đầy hạnh phúc nên những cái
mệt mỏi đó biến thành cái sung sướng, hoan hỷ lúc nào con cũng không
hay.
Thật là đẹp đẽ biết bao khi chư tôn đức
dâng những b́nh bát màu nâu lên cúng dường trong không khí thật trang
nghiêm và những lời tác bạch của quư thầy, Cô được xin vê cùng an cư.
Với cái lạnh khắc nghiệt của Melbourne đă khiến cho một số thầy cô không
được khỏe, ḷng con thật xót xa vô cùng. Con cầu mong chư Phật, Bồ Tát
phù hộ cho chư tôn đức Tăng Ni pháp thể khinh an, thân tâm an lạc để d́u
dắt chúng con trên con đường tu học. Trong những ngày tu học của khóa an
cư này con cảm thấy như ḿnh đang sống trong Cực Lạc của cơi Ta Bà này.
Hàng ngày con được gặp Phật ngay trong chánh điện, mồi lần bước vào
chánh điện, ḷng con ấm áp lạ thường, nh́n mọi người cùng nhau hoan hỉ
con sung sướng biết bao và rồi con được gặp pháp khi được chư Tôn Đức
Tăng và Ni. Các thầy các cô đă luôn luôn nhắc nhở chúng con phải sông
trong tỉnh thức từng phút, từng giây trong chính con người của chúng
con. Chúng con c̣n được phước báu được sống bên cạnh của 60 Tăng Ni
trong thời gian suốt 10 ngày. Ngày ngày gặp Phật, gặp Pháp, gặp Tăng đối
với con đó là cả một thế giới Cực Lạc A Di Đà hiện tiền. Những Phật tử
nào muốn có được cái tâm thanh tịnh, cái thân an lạc và muốn thấy cảnh
Cực Lạc A Di Đà đó hăy tham dự những khóa tu học sau, được Giáo Hội tổ
chức.
Mùa an cư Kiết Đông này đă để lại cho con
một ấn tượng sâu sắc. Để báo đáp hồng ân của chư Phật, và công đức của
chư Tăng Ni con nguyện sẽ đem hết sức, hết lực và trí để hộ tŕ Tam Bảo.
Giác Hóa
^
Nguyện tinh tấn tu học
Phước thay cho chúng con có được đủ duyên
lành về đạo tràng Tu Viện Quảng Đức dự khóa An Cư Kiết Hạ năm Giáp Thân
cùng quư Chư Tăng Ni. Đây là lần đầu tiên con dự khóa An Cư Kiết Hạ tại
thành phố lạnh Melbourne. Một ngày có bốn mùa đó là điểm đặc biệt
về khí hậu của tiểu bang này. Bây giờ đang là tiết đông giá lạnh đêm về
dưới không độ nhưng những ngày qua, tâm chúng con chỉ có mùa xuân tràn
đây những màu sắc của hoa an lạc và chúng con cảm nhận được nghĩa “Từ
Bi” khi chúng con chiêm bái quư Ngài. Quư Ngài đă giúp cho hạt Bồ Đề
trong tâm chúng con được tươi mát nẩy mầm.
Trong không khí trang nghiêm và khung cảnh
thanh lịch của Tu Viện Quảng Đức đă trợ duyên cho chúng con phát triển
Phật pháp dù bận rộn tu học nhưng ḷng từ bi của quư Ngài vẫn ban cho
chúng con cùng tất cả Phật tử trên toàn thế giới qua các diễn đàn Phật
pháp trên Paltalk, Internet, ba buổi giảng và thoại pháp mỗi ngày, ḷng
chúng con vô cũng cảm kích. Khi những hạt sương mai c̣n đang đọng trên
ngọn cỏ cơn rét lạnh vùng Fawkner thân thương, thấm đến tâm can, quư
Thầy luôn thức chúng hô canh niệm Phật để giúp chúng con tỉnh thức và
tinh tấn tu hành.
Chúng con xin cúi đầu đảnh lễ Mười phương
chư Phật, Chư Bồ Tát, La Hán, Thanh Văn, Duyên Giác, chư Hộ Pháp Long
Thiên, chư Ḥa Thượng cùng chư tôn đức Tăng Ni và chúng con cũng xin cảm
tạ TT Hóa chủ Thích Tâm Phương, Thầy đă cho chúng con cảm nhận được t́nh
ấm áp của bậc từ phụ, với ḷng đại từ bi Ngài đă lo cho đại chúng có nơi
ngủ nghỉ yên ấm đến từng miếng ăn thức uống, cả đến thuốc men. Ôi không
có lời nào diễn tả được ḷng kính phục tri ân của chúng con. Sau khóa tu
học và được lực hộ tŕ của quư Ngài, con tự hứa sẽ cố gắng tinh tấn tu
học chăm bón hạt giống Bồ Đề vững mạnh tăng trưởng.
Mong lắm thay được quư Ngài dạy dỗ thêm cho
chúng con.
Thành tâm tôn kính
Diệu Khánh
^
24 giờ tu tập
Năm giờ thức chúng hô canh
Toạ thiền niệm Phật thực hành pháp tu
Sáu giờ kém (5.45) thời công phu
Lăng Nghiêm thần chú nhuyễn nhu trầm hùng
Độ một giờ thời khóa xong
Là lời sách tấn từ hàng chư tôn
Bảy giờ rưởi sáng điểm tâm
Tám giờ công tác phân công rơ ràng
Chín giờ rưởi lớp sẵn sàng
Học tập nghiêm chỉnh góp bàn hăng say
Lớp tại gia lớp xuất gia
Tăng Ni Phật tử hài ḥa đổi trao
Chín mươi phút trôi qua mau
Giờ ngọ trai tiếp theo sau liền liền
Đại chúng vân tập trai đường
Tay nâng b́nh bát cúng dường niệm kinh
Thọ thực xong đi kinh hành
Tiếng niệm Phật vang thanh khắp cả chùa
Buổi trưa được nghỉ sơ qua
Hai rưởi quy định phải là
Tŕ tụng Thủy Sám đậm đà ư sâu
Tội phúc báo ứng theo nhau
Như h́nh với bóng trước sau chẳng rời
Ba mươi phút được nghỉ ngơi
Bốn giờ lớp học đúng thời diễn ra
Luật học cho lớp xuất gia
Giáo lư Phật tử nghiệm qua pháp hành
Năm giờ thí thực mông sơn
Cúng thí ngạ quỉ nhờ ơn ấm ḷng
Năm rưỏi dược thực giúp thân
Ngồi lâu tu khỏe vững tâm an lành
Bảy giờ Tinh Độ khóa tŕnh
Niệm Phật tŕ chú tâm thành thiết tha
Buổi tối tại gia, xuất gia
Hai lớp học tập diễn ra vui vầy
Tám giờ đến chín rưởi (8 – 9.30) đây
Tu tập kinh nghiệm, truyền trao pháp đàm
Mười giờ hô canh toạ thiền
Nhiếp tâm chánh niệm vạn duyên dứt ĺa
Hồi chuông chỉ tịnh giữa khuya
Lúc mười giờ rưởi ngăn chia đêm ngày
Giờ ngủ nghỉ hạnh phúc thay
Mọi người an giấc lúc này thần tiên
Đạo tràng thanh tịnh tịch nhiên
Suối nguồn an lạc giữa miền trần gian
Về đây về hội Linh Sơn
Thầy tṛ huynh đệ nhuần ơn Cha lành
Trời cao biển rộng mông mênh
Nguyện tu nguyện học nguyện đền bốn ân.
Melbourne ngày 8/7/2004
Sông Thu
^
Áo Cà Sa
Áo cà sa mà Thầy con đang mặc
Con thương thầy, thầy mặc áo cà sa
Mới vừa trông thấy như Phật Di Đà
Con càng nh́n càng thiết tha kính mến.
Áo cà sa mà Thầy con đang mặc
Đă khoác lên lớp vải áo cà sa
Áo cà sa ơi áo cà sa
Chiếc áo ấy mà con hằng tôn kính.
Áo cà sa mà Thầy con đang mặc
Ánh Đạo Vàng soi sáng áo cà sa
Áo cà sa ơi áo cà sa
Đem bao t́nh thương về cho nhân loại.
Kính tặng các quư Thầy Cô
Đệ tử Lệ Ánh
^
Tu học
Mỗi sáng thức dậy tụng canh khuya
Tiếng chuông réo rắc gọi ai về
Cùng tụng Lăng Nghiêm để tỉnh thức
Giác ngộ quay về dưới bóng từ bi
Ơn Thầy giáo huấn lời khuyến từ
Gắng tu tinh tấn cầu về Tây Phương
Nhóm Phật tử Liêu Huyền Quang
^
Cầu an
Thích Hạnh Tri
Hàng năm, vào rằm tháng giêng, Ngọc Hoàng
Thượng Đế họp các vi Tinh Quân trị v́ sao hạn cho người phàm mà dặn bảo:
-Thái AÂm Tinh Quân phụ trách gia đạo cho
những người thuộc sao Thái AÂm,
Thái Dương Tinh Quân phụ trách gia đạo cho
những người thuộc sao Thái Dương...
Tại một ngôi chùa nọ làm lễ cúng sao giải
hạn, có sắp xếp đèn cầy theo kiểu các sao mà cúng, có cả người lớn trẻ
em cùng tham dự. Xong lễ, người lớn quay quần bên bàn trà cùng tṛ
chuyện với quư Thầy. Bên ngoài trẻ em tha hồ mà đùa giởn. Chúng thi nhau
thổi tắt các ngọn đèn; không may sáp đèn văng vào mắt khiến chúng khóc
la inh ỏi. Người cha thấy chuyện lữa giận phát lên, la mắng um tùm làm
mất thanh tịnh chốn già lam.
Ngọc Hoàng kêu các sao lại quở.
-Tại sao các khanh phụ trách vận hạn lại để
xảy ra những chuyện như vậy ?
-Muôn Tâu Bệ Hạ, việc đó nằm ngoài khả năng
của chúng hạ thần./.^
|
2004 Winter Sangha Retreat
Once again we meet,
Reunited as one family
Over flowing with sincerity
We seek self-improvement
On the top of our lips,
Are four brave vows
Our mind strive to awaken,
During these cold Melbourne days
At night we shiver,
As the icy air, hug our body
Underneath the bed sheets we shiver,
Trying to pray as our teethes chatter.
Although our limbs are touched by frost
Within our hearts remains a brilliant flow
Do you feel the fire within
The roaring hungry fire
Forgotten under infinite impurities
May it destroy our pitiful gloomy futures
The chains that bind our feet together
Are rusting away, with diligence and repent!
With eyes close our palms meet with respect
We engage in the daily battle,
The great challenge against internal wars
Externally our flesh cries out
Demanding collapse and surrender
And although our eyes are heavy
Moreover, our legs are weak,
We remain strong with faith and love
Oh! How the heart overwhelms with
gladness!
"Oh what treasured moment"
Seeing fellow cultivator show selflessness
Sincere volunteers: those unsung heroes, those silent stars
Willing to sacrifice precious time
To quietly pour tea and to patiently cook meals
Yes, our egos are punctured
However, they hurt less through time
The old scars have healed,
And words of hate sound sublime!
For the sake of sentient beings,
With each and every day...
We can only hope, the burdens of kind
Venerable, be lifted and relieved.
He has done so much,
Accepted to carry a thousand
pound burden!
His responsibilities are endless,
In addition, we are equally grateful
His effort are paid off, as he see
glowing healthy children, laugh and play
They bow in respect to elders
And steadily learn the Buddha Dharma
Imagine a future with filial devotees,
who appreciate every breath and everyone
And the clouds that overwhelm their minds may gently blow away.
With sweet whispers of Namo Amitabha
Tâm Lạc
^
|
Giờ Chia Tay..... ôi xao
xuyến !
Cảm nghĩ của con trong mùa An Cư năm nay có
lẽ tốn nhiều bút mực lắm mới nói hết tâm tư t́nh cảm của con được Nhưng
v́ thời gian không cho phép cho nên con có đôi ḍng tâm sự trong mấy
ngày qua.
Từ ngày con xa quê hương đến nay cũng đă
được 16 năm rồi. Trăi qua biết bao nhiêu thăng trầm sóng gió của kiếp
sống tha phương. Thật không thể ngờ được nơi xứ lạ quê người mà con có
được diễm phúc tham dự khoá An cư cùng chung với quư Thầy quư cô và Phật
tử. Có thể nói rằng con chưa bao giờ cảm nhận được những ngày an vui và
hạnh phúc như vậy. Tuy rằng thời gian ngắn ngủi nhưng nó đă đem đến cho
con nhiều lợi lạc. Mặc dù thân thể khá thấm mệt (v́ do thiếu ngũ), nhưng
tinh thần quá mạnh con đă đánh gục được con “ma bệnh” (Nếu như ở
nhà con thiếu ngũ chừng hai đem là con bị ngă gục trên “chiến trường”).
Con thật sự hạnh phúc và vui quá quư Thầy
quư cô ơi! Ước mong sao thời gian kéo dài thêm măi th́ con mới hy vọng
dễ dàng bỏ hết được những tập khí xấu xa và những con ma “tham, sân,
si” mà con quá ư là ích kỷ không chịu buông xả nó. Con biết rằng
cuộc đời vốn dĩ vô thường, có hợp th́ phải có tan nhưng sao con cảm thấy
xao xuyến, bồi hồi, nhớ thương...khi nghĩ đến ngày chia tay. Biết làm
sao đây. Con sẽ cố gắng hết sức ḿnh tu tập theo những lời khuyến nhủ và
dạy bảo của quư Thầy, quư cô trong thời gian qua để khỏi phụ ḷng của
quư Ngài đă không ngại đau ốm, bệnh tật hoặc bận rộn...đă đành nhiều
thời gian quư báu hữu ích cho chúng con. Con xin nguyện cầu hồng ân Tam
Bảo gia hộ cho quư Ngài sống lâu trăm tuổi thân thể tráng kiện để dần
dắt chúng con trên bước đường tu tập giải thoát.
Nam Mô A Di Đà Phật
Đệ tử Thục Đức – Giác Trí
^
Quảng Đức Lưu Phương
Quảng Đức từ bi cứu đạo ngàn
Đem đạo vào đời khắp rạng soi
Nơi Tu Viện tiếp tăng độ chúng
Quảng độ chúng sanh hết năo phiền!
Thích Hải Ấn
^
Tấm ḷng Bắc Úc
Chúng con ở Darwin, tận cùng miền Bắc nước
Úc, xa cách nơi đa số ngựi Việt sinh sống như Sydney, Melbourne, cũng
xa cách những Già Lam Tự Viện do các bậc tôn túc kiến lập để duy
tŕ nếp sống Phật Giáo thuần túy Việt Nam. Ở Darwin chỉ có một ngôi chùa
được nhà nước cấp đất cho các cộng đồng theo đạo Phật tôn tạo. Trong
chánh điện thờ tôn tượng Đức Bổn Sư với h́nh tướng Thái Lan và Miến
Điện, Lào; gần đây mới có vị Tăng người Trung Hoa. Các lễ hội Phật Giáo
theo Nam truyền, chủ yếu là Vesak và các ngày nhập hạ và ra hạ. Vào
những ngày lễ ấy, Phật tử các cộng đồng về chùa, được sư thuyết pháp
bằng tiếng Anh và tụng kinh bằng tiếng Pali. Đa số Phật tử Việt Nam sinh
sống bằng nghề nông và nghề biển nên do ngôn ngữ khác biệt cũng ít khi
về chùa.
Từ năm 2000, Phật tử Việt Nam có đủ duyên
phước nên được Thượng Tọa thượng Quảng hạ Ba nhủ ḷng thương xót, không
nề lao nhọc, từ Canberra vân du Darwin để đem ánh đạo vàng đến với chúng
con. Chúng con càng cảm niệm ân đức sâu dày của Thượng Toạ khi biết ngài
tuy đa đoan nhiều Phật sự nhưng vẫn dành thời gian cho Darwin.
Mỗi khi quang lâm Darwin, Thượng Tọa thường
nhắc đến sinh hoạt của Giáo Hội, nhờ đó chúng con mới có duyên phước
tham dự các khoá tu học do Giáo Hội tổ chức. Năm trước, chúng con được
biết về Khóa An Cư Kiết Đông của Giáo Hội tổ chức tại Canberra, nhưng v́
con đă quen khí hậu ấm này của Darwin nên v́ sợ cái lạnh của mùa đông
Canberra mà ... thoái tâm Bồ Đề. Năm nay, Giáo Hội tổ chức Khóa An Cư
Kiết đông tại Melbourne. Con trước không đi Canberra, sau này tiếc măi.
Bây giờ lại sợ cái lạnh của mùa đông Melbourne mà chần chờ măi sao?
Nhớ lại khi c̣n ở quê nhà, mỗi mùa An Cư
Kiết Hạ, chúng con thường đi cúng dường hộ hạ, nhưng dường như các
Trường Hạ chỉ dành cho hàng xuất gia, c̣n Phật tử tại gia không thấy
tham dự. Nay Giáo Hội nhũ ḷng lân mẫn tạo thuận duyên cho Phật tử tại
gia tùng hạ, lẽ nào v́ sợ lạnh mà không đi.
Hơn hai ngàn sáu trăm mùa mưa đă qua, Tăng
đoàn kiết giới an cư khắp những nơi ánh đạo vàng của Đức Phật tỏa đến.
Mùa hạ năm (mùa đông ở Nam BánCầu), nơi đạo
tràng trang nghiêm thanh tịnh Quảng Đức, chư tôn đức tăng ni tiếp nối
truyền thống mấy ngàn năm, lại thùy từ tạo duyên cho Phật tử tại gia
tham dự, đó là chuyện hy hữu chưa từng có, bỏ qua rất uổng. Được dịp
thân cận Tăng Bảo là bậc thiện tri thức là phước đức rất lớn, lẽ nào bỏ
qua luống uổng. Các Ngài tạo thuận duyên cho giới tại gia sống đời xuất
gia thanh tịnh an ḥa, lẽ nào để bỏ qua cơ hội. Các Ngài ban răi châu
báu rộng răi, sao không mau đi lănh nhận? Sự nghiệp thế gian thêm mươi
ngày cùng chẳng tiến triển, bớt mươi ngày cũng chẳng đ́nh trệ, c̣n mười
ngày gây tạo sự nghiệp xuất thế gian, duyên phước qua đi không t́m
lại được. Nếu hẹn đến năm sau, lở khi vô thường đến có phải là
“uổng một đời chơi nẻo nhân gian” ? Thế là “ muốn đi có một đường này
con bèn sắp xếp công việc“ nhập trường, tùng hạ”
Vừa đến phi trường Melbourne, đúng là “làm
việc thiện mà hối hận“ Sao mà lạnh quá vậy? Gió thổi càng thêm lạnh!
Nhưng mà lở rồi, đành liều...
Nhưng mà cái lạnh của mùa đông Melbourne
không c̣n là chướng duyên nữa khi mà ân đức của chư tôn đức chan ḥa lên
tất cả chúng con. Thầy Nguyên Tạng đích thân ra phi trường đón con v́
con đến quá sớm, Thầy không sắp xếp được huynh đệ nào đăi lao cho thầy.
Những lời thân mến của sư cô Hạnh Nguyên
khi những món hoa quả đơn sơ của Phật tử Bắc Úc cúng dường Trường Hạ đă
làm ấm ḷng con. Nhất là Thầy Tâm Phương trong lúc đa đoan nhiều Phật sự
trước khi khai trường, đă vào tận nhà trù và chứng minh tấm ḷng của
những người con Phật ở phương xa khát khao chánh pháp
Mấy ngày tu học êm đềm trôi qua, thức sớm
công phu, thúc khuya tọa thiền, trong ngày công tác chúng, học Phật
pháp, tụng kinh bái sám, ngọ thực kinh hành. Chúng con muôn vàn cảm niệm
ân đức chư tôn Ḥa Thượng, mặc dầu tuổi cao sức yếu, tứ đại chẳng điều
ḥa, mà vẫn không nề lao nhọc, ban bố cho chúng con những lời khai thị
nghiêm từ. Ngồi trong đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh này, nghĩ nhớ
đến ân đức sâu dày của chư Tôn Thiền đức đă khai sơn lập tự
để thời giờ này, cách quê hương muôn dặm trùng dương, Phật đường vẫn rực
rỡ sắc y vàng, tiếng tụng kinh vần trầm hùng vang lên những pháp âm vi
diệu, ḷng con rưng rưng thổn thức. Biết làm ǵ để đền đáp ân sâu trong
muôn một?
Chúng con chỉ biết y giáo phụng hành ,
nương tựa Phật Pháp Tăng, ngày đêm sống trong tỉnh thức. Chẳng những
trong những khóa tu học được nương tựa hải chúng, mà cả khi trở về trụ
xứ, chúng con nguyện giữ ǵn chánh niệm mỗi khi làm những công việc hằng
ngày.
Con muôn vàn cảm niệm ân đức của chư Tôn
Thiền Đức đă thùy từ lân mẫn tạo thuận duyên cho hàng Phật tử tại gia
chúng con được sống nếp sống thiền môn quy cũ. Chư Tôn túc cũng đă
thường nhắc con lời di giáo của vị Bổn sư khả kính, vốn là một bậc ni
lưu giới đức kiêm ưu, lời từ huấn mà đă bao năm trôi lăn trong ḍng đời,
con vâng giữ chưa trọn vẹn.
“Thầy không muốn các con là học giả, Thầy
muốn các con là hành giả”
Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát
Tâm Quang
Trường Hạ Quảng Đức
Mùa Đông 2548, Melbourne
^
Thành Kính Tri Ơn
Thắm thoát rồi mùa Kiết hạ cũng đă đến,
thật ra con đă chuẩn bị và chờ đợi từ mấy tháng trước đây. Cách đây gần
một tháng con có nhận tin mẹ con ở Việt Nam nhắn về. Nhưng con cũng gác
lại v́ sợ bỏ đi cơ hội mà một năm chỉ có một lần tu học. Để bắt chước
theo hạnh của quư Thầy. Bởi v́ con là Phật tử tại gia. V́ gia duyên c̣n
bận buộc hay v́ nhân duyên con chưa đến. Nên con chưa thể xuất gia được.
Nên con có ư nguyện với ḷng, nếu các chùa có tổ chức những khóa tu học
th́ con sẽ tranh thủ đến tu học để mong noi theo hạnh nguyện của ĐứcThế
Tôn; v́ giáo pháp giải thoát đă được Đức Phật dày công t́m kiếm, để cho
con học hỏi và noi theo con đường giải thoát. Đức Thế Tôn dạy học giáo
pháp giải thoát, để khỏi ch́m đắm trong cơi luân hồi, mà chúng sinh ai
ai cũng đă biết là dẫy đầy phiền hà và khổ lụy cho nên Đức Phật đă nói
đời là bể khổ. Chính lẽ đó con đây muốn tu theo hạnh nguyện của Ngài, để
mong sao con thoát được ṿng sinh tử luân hồi. Con nguyện con sẽ cố gắng
và sẽ cố gắng để vượt qua mọi khó khăn thử thách để tiến tu trên bước
đường học Phật, không uổng công chỉ dạy của quư Thầy.
Con thành thật biết ơn quư Thầy cô đă cho
con những lời thuyết giảng thật là bổ ích. Con nghĩ đó cũng là một liều
thuốc cho chúng sinh trị bịnh khô gầy.
Con ước mong trong tương lai sẽ có nhiều
khóa tu khác mà các chùa sẽ mở ra để dẫn dắt chúng con cùng được tu tập.
Melbourne, Kiết Đông tháng 7/2004
Đệ tử Lệ Ánh
^
Cúng Thầy
Ngày mai Húy kỵ Thầy (1)
Đêm nay xứ lạnh vọng về quê
Ḷng thành:
Dâng ba nén tâm hương
Tỏa bay chiều gió muôn phương
Cơm chánh niệm con hiến
Hoa Tuệ giác con dâng
Trà duyệt thực xin cúng
Với tấm ḷng đơn sơ
Như vẫn tự bao giờ
Thích Thiện Hiền
Đêm mùa Đông 10/7/2004 (23/4 AL)
(1)
Giỗ Thầy ngày 14/5 AL (12/7/2004)
^
Chiếc áo tràng
Ngắm em trong bộ áo tràng
Lan man tâm tưởng, giữa đàng trầm luân
Cao sang em khước từ phần
Lánh vào cơi tịnh, ḷng trần sạch không?
Nam Mô! Tiếng tụng bâng khuâng
Hồi chuông an lạc, tâm thân b́nh ḥa
Du dương tiếng mơ kiêu sa
Lời kinh ấm cúng, nhă ca Phật đà
Dẫn hồn ta vốn lạc loài
Bơ vơ không trụ, bài hoài vấn vương
Nhận ra! Em lănh t́nh thương
Gieo duyên cơi hạ, mở đường viễn thương
Lời em tụng, giải vô thường
Nhịp chuông, tiếng mơ, thân thương dạt dào
Niệm Nam Mô! Giọng ngọt ngào
Đưa hồn anh nhập thanh cao cơi thường
Vấn vương buông bỏ dặm trường
Theo em luôn tới Phật đường tu thân
Thuận duyên ngộ đạo lư chân
Đồng tu giải thoát vẹn phần duyên cơ.
Nhân mùa, Trường hạ Quảng Đức
Nguyên Khang
(6/7/04 – 16/7/2004)
^
Hạ Trường Quảng Đức
Giáo Hội khai mạc kiết đông
Tăng Già quy tụ cộng đồng tham gia
Diển văn khai mạc Tăng Già
Meo-b́nh (Melbourne) Quảng Đức khai hoa
hoàn thành
Trung tâm câu hội phát thanh
Mười ngày đâu có chưa thành ngày xưa
Chư tôn nhóm họp cũng vừa
Cam ḷng ghi nhớ người xưa muôn đời
Bổn sư căn dặn nhiều lời
Hằng năm kiết hạ trọn đời Tăng Ni
Đạo hữu đăng kư gắng đi
Chư Tôn đầy đủ quản ǵ tham gia
Nguyện cầu chư Phật thiết tha
Gia bị Châu Úc trẻ già b́nh yên
Cầu cho thế giới hằng niên
Ḥa Thượng Quảng Độ con thuyền tương lai
Mong sao Ngài được lâu dài
Hướng dẫn đại chúng tương lai đời đời
Sa Di Thị Đắc
^
Giáp Thân An Cư Cảm Niệm
Mùa hạ năm nay lại trở về
Tháng ngày thấm thoát lá vàng rơi
Mai này các vị về trú xứ
Chánh pháp được truyền khắp mọi nơi
Mới ngày nào đây con từ Sydney, theo chuyến
bay trở về Đạo Tràng Tu Viện Quảng Đức để An Cư Kiết Đông, tất cả niềm
hoan hỷ của ngày Kiết Đông đầu tiên trong ư nghĩa thiêng liêng, với
truyền thống an cư Quư Dậu mà chư Phật đă lưu truyền sau đó con được an
vui tu học trong sự đùm bọc, cưu mang trong hơi ấm t́nh thương của chư
Tôn Đức. Thế rồi từng ngày qua đi, khi chiếc lá vàng đông rơi xuống bên
hiên, trước mặt của những người Tu sĩ đang ngồi trong tỉnh lặng, con
nhận ra là ngày măn hạ đă đến. Chính v́ thế ngày hôm nay, trong không
gian thấm nhuần đạo vị, buổi chia tay tạm biệt đă đến rồi. Con biết nói
ǵ đây khi những ḍng cảm xúc cứ tuôn trào rất lạ trong cảm tưởng của
ḿnh, đă tạo cho con sự mạnh dạn nói nên lời thành kính biết ơn và cảm
nghĩ của ḿnh đến với chư Tôn Đức trong Ban Chức Sự Trường Hạ. Mỗi ngày
tu học trong trường hạ, là mỗi ngày con càng mang nặng ơn đức của chư
tôn trưởng thượng, và ơn của đàn na tín chủ dày công, đă cho con sống
trong an vui, tứ sự đầy đủ, với sự hết ḷng lo lắng ấy con nào quên
được, bên cạnh đó sự tu học dâng cao giác trí, chư Tôn Đức đă hết ḷng
chỉ dạy lại tất cả những kinh nghiệm của ḿnh, giảng giải những lời kinh
pháp.Trong mỗi giờ tu các Ngài khuyên nhắc trong oai nghi các Ngài
nghiêm dạy, trong từng lời giảng kinh các Ngài như đem hết tâm huyết của
ḿnh để truyền trao, rồi mai này con không c̣n dịp để nghe các ngài dạy
nữa, th́ sự nuối tiếc tràn ngập cơi ḷng, với những ngày sống chung tu
học, sự ḥa hợp của Giáo Hội trong Trường Hạ đă tạo cho con nhận ra được
sức mạnh ḥa hợp của Giáo Hội giờ đây, con thành tâm, kính chúc như Tôn
Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni sức khoẻ dồi dào, tâm huệ thường
lạc để d́u dắt chúng con và chúng sanh trên bước đường giải thoát, và
cũng xin cầu chúc cho quư nam nữ Phật tử thân tâm an lạc, tu hành tinh
tấn theo chánh pháp của chư Phật.
Mùa kiết đông tại Tu Viên Quảng Đức 2004
Thích Minh Tri
^
Cảm niệm những mùa an cư ở Úc
Hải Hạnh Ngọc Dung
Hằng năm, y theo lời đức Phật dạy, hàng đệ
tử xuất gia phải câu hội về một trú xứ để an cư kiết hạ trong ba tháng
để thúc liễm thân tâm và tránh sự vô ư sát hại các loại côn trùng nhỏ
bé. Cũng vậy, đặc biệt tại Úc, v́ do khí hậu và thời tiết khác
biệt nên mùa an cư được tổ chức vào mùa Đông trong ṿng 10 ngày. Đến
nay, thắm thoát cũng năm mùa an cư đă trôi qua.
Theo truyền thống có từ thời đức Phật, chỉ
có chư tôn đức tăng ni tham dự mùa an cư; nhưng ở Úc châu một nét tu tập
độc đáo đă được phương tiện mở bày. Đó là chư tôn đức của Giáo Hội đă mở
ra một tiền lệ cho phép giới Phật tử tại gia được theo tu học trong mùa
an cư của chúng xuất gia. Quả thật đây là cơ hội quư giá đối với giới cư
sĩ Phật tử, v́ nếu ai có duyên lành tham gia những khoá hạ này sẽ có
nhiều thời gian thân cận, gần gũi, nghe học Phật pháp với nhiều vị giảng
sư, pháp sư khắp nơi tụ hội về. Đặc biệt các buổi giảng tại trường hạ
Quảng Đức năm nay được trực tiếp lên mạng internet, v́ thế Phật tử khắp
mọi nơi có thể nghe pháp thoại và có thể trực tiếp tŕnh những nghi vấn
của ḿnh về Phật pháp nhờ chư vị giải thích. Theo thống kê của ban tổ
chức, hằng ngày có gần cả 100 người học Phật bằng phương tiện này. Đây
có lẽ là nét đặc thù nhất của mùa An Cư tại Úc châu này. Khi tham dự
khoá tu học năm nay tại Quảng Đức tôi bỗng nhớ lại mùa Kiết Đông An Cư
đầu tiên vào năm 2000 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải
Ngoại-UĐL-TTL được tổ chức tại tổ đ́nh Pháp Hoa, Adelaide, tiểu bang Nam
Úc. Một mùa an cư thật sự đă để lại trong tôi nhiều kinh nghiệm quư báu.
Những cảm xúc của mùa an cư đó như sóng biển dạt dào phủ kín ḷng tôi.
Những h́nh bóng thân thương của quư thầy cô và pháp hữu đang tu tập tại
Quảng Đức mà tôi cứ ngỡ là tại chùa Pháp Hoa thân yêu của ḿnh. Tuy
nhiên, năm nay trong đại chúng này lại thiếu vắng h́nh bóng của cố Hoà
Thượng Thích An Thiên, một bậc thầy đáng kính. Sự ra đi của thầy là một
mất mát của Giáo Hội và tín đồ tại Úc châu. Viết đến đây tôi chợt nhớ
đến lời dạy của thiền sư Vạn Hạnh:
Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thịnh cuộc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành
(Ngô Tất Tố dịch)
Quả thật, đời thật vô thường! Vô thường
trong từng tâm niệm, vô thường trong từng sát na. Nhưng khi quán chiếu
đến lời dạy này tôi cảm thấy sự bỗ lực của tựï thân ḿnh c̣n quá
yếu kém trên con đường học Phật. Tôi thật sự cảm thấy hổ thẹn với số
thiện hạnh bé nhỏ của tự thân và thấy sợ hăi với những bất thiện hạnh mà
ḿnh đă và sẽ tạo. Tự hứa với ḷng là phát tâm dơng mănh tinh tấn hành
tŕ nhiều hơn nữa lời Phật dạy để không phụ công oơn chư tôn đức tăng ni
đă dạy. Những bài học căn bản về Phật pháp mà tôi học được từ những khoá
tu này thật sự là những hành trang vô giá đối với tôi trong hiện tại
cũng như tương lai. Tuy nhiên, tôi và có lẽ cả những đạo hữu đang tu học
tại Quảng Đức cũng như Phật tử khắp mọi nơi đang nghe pháp trên
internet, paltalk, v.v... tha thiết ước mong chư tôn đức sẽ có những bài
giảng tập trung vào các bài kinh ngắn như kinh Thiện Sanh , Bát Đại Nhân
Giác, Vô thường ...mang tính thiết thực và khả thi vào chính trong đời
sống thường nhật, mà cụ thể là trong khoá An cư 10 ngày này.
Tu Viện Quảng Đức, Melbolurne, 7-2004
^
Lời Tác Bạch Kiết Giới An Cư
Nam Mô A Di Đà Phật
Kính Bạch Ḥa Thượng một ḷng thương
xót, con Tỳ Kheo ...( Tỳ Kheo Ni/ Thức Xoa Ma Na Ni/ Sa Di/ Sa Di Ni)
nay nương tựa nơi Quảng Đức Tăng Già Lam, xin an cư tu học 10
ngày. Kính xin Ḥa Thượng từ bi hoan hỷ chứng giám ( đọc 3 lần)
Ḥa Thượng hỏi: Thiện
Đáp: Nhĩ
T́nh cha
Trước Phật Đài hương trầm bay ngào ngạt
Chấp hai tay đảnh lễ Đức Từ Tôn
Chuông ngân êm nghe thánh thót bên tai.
Làm rung động tâm hồn người con hiếu
Trước làn khói tan dần trong gió thoảng
Mất cha lành con chịu kiếp mồ côi
Rồi từ đây trong con thấy trống vắng
Ơn dưỡng dục sanh thành chưa đền đáp
Cha yêu ! nhớ từ hôm con cất bước
Ai đưa con đến chốn cửa thiền?
Ai đưa khuyên con gắng niệm chuyên cần
Lo tinh tấn trên bước đường tu học
Dầu phải chịu những gian nan khổ nhọc
Lời khuyên xưa con nhớ măi cha ơi
Dầu hôm nay cha đă mất đi rồi
Dù không muốn nhưng con cũng cam đành
Thân xác cha vùi chôn trong đất lạnh
Nhớ bóng h́nh vẫn sống măi trong con
Măi nhớ rằng ơn nặng đáp chưa tṛn
Vu Lan đến gợi ḷng con tưởng nhớ.
Dâng tâm thành con hết ḷng cầu nguyện
Kính lạy Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên
Noi gương Ngài con quyết chí tu hành
Mong độ được phụ thân và sanh chúng
Mùa an cư Tu Viện Quảng Đức 6-7 đến 16 -7
Thích Minh Tri
^
Yêu thương là tha thứ.
Có một câu chuyện kể lại như sau:
Một cặp vợ chồng nọ căi nhau như cơm bữa.
Một hôm giữa lúc người vợ đang hăng say to tiếng, người chồng liền đề
nghị:” Chúng ta đă căi nhau quá nhiều lần, anh đề nghị một giải pháp.
Mỗi người lấy một mảnh giấy viết lên đó tất cả những lầm lỗi thiếu sót
của nhau, rồi trao cho nhau đọc. Anh hi vọng đây là lần cuối cùng chúng
ta kết tội nhau”. Người vợ đồng ư.
Người chồng liền đặt bút xuống tờ giấy, Ông
nh́n sang bà vợ rồi viết một câu. Thấy thế, người vợ liền hạ bút viết
liên hồi, bà kể ra vanh vách các tật xấu thiếu sót của chồng. Trong khi
đó thỉnh thoảng người chồng mới viết một câu rồi đến lúc không c̣n ǵ để
viết nữa, họ trao cho nhau bản kết tội. Nét mặt người vợ bỗng biến sắc
v́ xúc động. Bởi v́ trên mảnh giấy của người chồng vừa trao, bà chỉ thấy
có mỗi một câu, được lặp đi lặp nhiều, “Anh yêu em”.
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy được
rằng trong các mối quan hệ của đời sống, ta nên biết thương yêu nhau, có
thương nhau mới có sự tha thứ cho nhau những lầm lỡ. Đừng lấy ác báo ác,
lấy lời nguyền rủa đáp lại nguyền rủa. Hăy đến với nhau bằng tâm hồn
hiền ḥa, với ánh mắt sáng trong. Hăy nắm tay nhau như loài hoa Tigon,
hể có một dây hoa buông giàn th́ sẽ có một dây khác đưa ra để nâng lấy.
Nên không bao giờ có một dây Tigon nào sà
xuống đất. Cuộc sống con người rất ngắn ngủi so với vũ trụ, thật không
sánh bằng hạt cát trên sa mạc. Nhưng con người lại có trái tim biết sầu,
biết cảm, biết thương yêu và tha thứ. “Tâm hồn không phải là con tim,
con tim có nhịp đập riêng của nó”. Vậy chúng ta nên nối lại
nhịp cầu muôn thuở, đến với nhau, xích lại gần nhau trong t́nh huynh đệ,
cho nhân loại tăng thêm sức sống.
Quảng Hỷ.
^
Mặc Niệm
Ta nhớ măi mùa an cư tu học
Tại Melbourne giữa tháng bảy mùa đông
Tiếng chuông ngân d́u dặt chốn thinh không
Tu Viện Quảng Đức An Cư Kiết Hạ
Ta đội ơn chư Tôn Đức Tăng Ni
D́u Phật tử trở về nơi thanh tịnh
Lời thuyết pháp soi tường thân tâm nghiệp
Đoạn oan khiên, tam nghiệp chướng duyên trần
Ta sám hối trong lời kinh tiếng kệ
Ta ăn năn khi chuông đổ công phu
Ta thọ nhận dưa muối bát tương đầy
Ḷng vui sướng Đấng Từ Bi tế độ
Ta quỳ xuống chắp tay dâng lời nguyện
Trụ thân tâm, giữ định giới kiên ḷng
Theo Bồ Tát tŕ tu đường Chánh đạo
Đoạn luân hồi, giải thoát kiếp phù sinh.
Trường Hạ Quảng Đức
6-16/7/2004
Nguyên Nhật An Trà My
^
Bài kệ Hô Canh buổi tối
Sơ canh dĩ đáo thượng thiền sàng
Tam nghiệp tịnh trừ đổ Thánh nhan
Thâm tín Phật ngôn hằng niệm Phật
Chỉ tu nhất hướng nhập Tây Phương.
Sanh tử đại sự, vô thường tấn tốc ngưỡng lao đại chúng, an toạ thiền
trung, các các nhất tâm niệm Phật .
Nam Mô A Di Đà Phật ( 1 hồi kiểng)
Dịch nghĩa:
Canh đầu đă đến lên thiền sàng
Ba nghiệp sạch rồi thấy Thánh nhân
Tin lời Phật dạy luôn niệm Phật
Chí thành tu niệm văng Tây Phương
Sanh tử là việc khó, bất chợt đến mau, mong rằng đại chúng, hăy cùng
nhau nhất tâm niệm Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật
Bài kệ Hô Canh buổi khuya
Ngũ canh dĩ đáo pháp môn khai
Phổ nguyện đồng đăng Bát Nhă đài
Liễu triệt Tam thừa dung nhị đế
Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai.
Sanh tử đại sự, vô thường tấn tốc ngưỡng
lao đại chúng, an toạ thiền trung, các các nhất tâm niệm Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Dịch nghĩa:
Canh năm đă đến pháp mở bày
Nguyện khắp cùng lên Bát Nhă đài
Thấu rơ ba thừa thông hai đế
Đèn tuệ soi cao sạch mây mờ.
Sanh tử là việc khó, bất chợt đến mau,
mong rằng đại chúng, hăy cùng nhau nhất tâm niệm Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
TT Thích Bổn Điền dịch
HT Thích Huyền Tôn chỉnh ngữ
^
Giă từ
Mười ngày tu học nơi đây
Già Lam một cảnh đong đầy mến thương
Mai này cách biệt muôn phương
Vẫy tay từ giả ḷng vương vấn ḷng
Đồng Thanh^
Giới luật là thọ mạng của Chánh Pháp,
Giới Luật c̣n là Phật Pháp c̣n.