H́nh ảnh Sinh Hoạt


 

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UĐL-TTL
Trường Hạ Quảng Đức

(Tổ chức từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 7 năm 2004)

---o0o---

 

 

Trang Văn- Thơ
 

Mục Lục

-Diện mục. HT Thích Bảo Lạc

-Niềm vui lớn. TT Thích Tâm Phương

-Kiết Đông (thơ). HT Thích Huyền Tôn

-Lá vẫn c̣n xanh. TT Thích Trường Sanh

-Tán dương công đức (thơ). Nhóm Phật tử Liêu Huyền Quang

-T́nh pháp lữ. TK Hương Vân

-Công án -  Koan. Thích Nguyên Tạng dịch

-Lời Phật dạy. TK Tâm Thành

-Tu Viện Quảng Đức. TT Thích Tịnh Minh

-Hương sen mùa hạ. TT Thích Viên Trí

-Pháp âm mầu nhiệm. Thích Phổ Huân

-Tinh thần Quảng Đức. Thích Viên Thành

-Tùy duyên bất biến. Thích Nhuận Chơn

-Giới luật là thọ mạng của chư Phật. TT Thích Bổn Điền

-Châu viên một đóa tinh anh mỉm cười. TT Thích Nhật Tân

-An cư nơi chùa Quảng Đức. TKN Thích Nữ Như Tuyết

-An cư một niệm quay về. Thích Đạo Hiển

-Tưởng nhớ vị Sa Di đầu tiên. Giác Anh

-Vui thay Phật ra đời... Giác Hóa

-Nguyện tinh tấn tu học. Diệu Khánh

-24 giờ tu tập. Sông Thu

-Áo cà sa. Lệ Ánh

-Tu học. Nhóm Phật tử Liêu Huyền Quang

-Cầu An. Thích Hạnh Tri

-2004 Winter Sangha Retreat. Tâm Lạc

-Giờ chia tay...Thục Đức

-Quảng Đức Lưu Phương. Thích Hải Ấn

-Tấm ḷng Bắc Úc. Tâm Quang

-Thành kính tri ân. Lệ Ánh

-Chiếc áo tràng. Nguyên Khang

-Cúng Thầy. TT Thích Thiện Hiền

-Hạ trường Quảng Đức. Sa di Thị Đắc

-Giáp Thân An Cư cảm niệm. Thích Minh Tri

-Cảm niệm những mùa An Cư ở Úc. Hải Hạnh Ngọc Dung

-T́nh cha. Thích Minh Tri

-Yêu thương là tha thứ. Quảng Hỷ

-Mặc niệm. Nguyên Nhật An Trà My

-Kệ hô canh buổi tối.Thích Bổn Điền dịch, HT Huyền Tôn chỉnh ngữ

-Giă từ. Đồng Thanh

-So sánh t́nh h́nh PG... TT Thích Quảng Ba

-An cư là thể hiện ḷng từ bi của Phật (bài tường thuật)

-Ngôi Chùa mang tên Bồ Tát Quảng Đức trên đất Úc. Thích Phổ Huân

 

 

Diện Mục

Thích Bảo Lạc

Sau một thời gian tu tập và hành đạo từ Việt Nam đến Nhật Bản, sang Úc và tại một số các quốc gia Âu, Mỹ, cho tôi có đủ th́ giờ và nhận thức để xác định lại rằng tổ chức Tăng đoàn và Giáo Hội thật hết sức lơng lẽo, nhưng rất là trật tự. Lơng leo bởi Giáo Hội không có giáo quyền hay đúng hơn Phật Giáo chủ trương từ bi và b́nh đẳng như một tặng phẩm vô giá mang tính hào phóng và bao dung đối với bậc trượng phu hay Bồ Tát, là tôn giáo hợp lư (logic), khoa học, văn minh mang tính nhất quán từ lư thuyết, đến thực hành trong tiến tŕnh tu chứng từ sơ quả đạt đến vô thưọng chánh đẳng chánh giác. Như những sợi dây vô h́nh miên mật đan mắc dính lại với nhau giống hệt tấm lưới như Kinh Phạm Vơng Bồ Tát giới ví như thiên vơng (lưới trời) để chỉ sự trùng trùng vô tận các thế giới liên kết lại với nhau không xen hở mà dưới con mắt của nhà khoa học đă và đang chứng minh được điều đó. Nên có thể xác minh mà không sợ phiến diện và mang tính chủ quan rằng Phật Giáo là một tôn giáo lạ lùng nhất trong số các tôn giáo hiện hữu trên thế giới xưa nay.

Về tính trật tự trong Phật đạo cũng là một điều cần phải nghiên cứu nghiêm túc, nó đ̣i hỏi sự tu tập hành tŕ nơi hành giả về giới hạnh mới có thể cảm nhận được sự thích ứng mà không thấy có vấn đề trong đời sống tu tập hằng ngày. Trật tự theo thứ đệ trong tinh thần b́nh đẳng và dụng dị, chứ không phải tôn ti ngôi thứ trong chế độ giai cấp.

Không đề cập sang các lănh vực khác như triết học, khoa học, học thuyết, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ v.v...mà Phật Giáo mang tính đa dạng, ở đây chỉ xin giới hạn cụ thể trong phạm vi giáo dục qua đó chúng ta chiêm nghiệm, học hỏi từ nơi cung cách bậc thầy vĩ đại của đạo Phật -  đức Phật Thích Ca – và hàng Thánh chúng đệ tử xuất gia thường thân cận học hỏi từ thân giáo, khẩu giáo, ư giáo của một nhà mô phạm điển h́nh, bậc đạo sư khả kính, nhà truyền giáo uyên bác v.v... và cả hàng chục danh xưng khác để tôn danh đức Phật. Dù vậy đức Phật vẫn không tự đặt ḿnh ra ngoài cộng đồng giáo đoàn mà Ngài chỉ nhận là người thầy dẫn đường. kẻ đi trước dẫn dắt người đi sau cùng tiến đến mục đích giải thoát, giác ngộ mà thôi. Giáo đoàn hay đúng ra phải gọi Tăng đoàn, v́ lẽ, thời đức Phật, chúng đệ tử của ngài lần đầu tiên mới chỉ có 5 vị Tỳ kheo trong nhóm của ông Kiều Trần Như, A xă Bà Thệ (Mă Thắng), Thập Lực Ca Diếp, Bạt Đề và Ma Ha Nam (con trưởng Hộc Phạn Vương) trong lần Phật chuyển hóa nói về pháp Tứ Đế tại vườn Lộc Uyển (Deer Park) thuộc Ấn Độ khoảng 600 trước Tây lịch.

Nhờ hạnh xả ly, đức hy sinh và giàu ḷng từ bi của bậc đạo sư cảm hóa mà nhiều người từ dân giả như Ưu Ba Ly đến các bậc vua chúa công tôn vương tử như Đề Bà Đạt Đa, A Nan, A Na Luật, Tần Bà Sa La, Ba Tư Nặc hay ngay cả các vị giáo chủ của đạo thờ thần lửa như ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp,Thập Lực Ca Diếp và Già Da Ca Diếp, đều được xuất gia và quy y theo Phật. Do đó đoàn sứ giả dần dần lớn mạnh từ 5 vị Tỳ kheo đầu tiên đă lên đến con số 1250 và cứ như thế chúng xuất gia theo Phật ngày càng đông đảo, cũng như vô số chúng sanh khác đều cảm nhận được và thấm nhuần giáo pháp của đức Phật không thể dùng toán tính đếm hết được. Đây là một phương pháp giáo hóa vô cùng linh động hiệu quả của bậc đạo sư, nhờ Ngài biết phương tiện của một nhà tâm lư đầy kinh nghiệm theo sát từng mỗi tâm niệm cá biệt; cũng như vị lương y xem đúng bịnh, cho đúng thuốc khiến cho bịnh nhân chóng được lành bịnh.

Tuy đức Phật luôn áp dụng tính dân chủ trong việc giáo hóa, nhưng Ngài cũng không bỏ qua cho các ác tánh Tỳ Kheo bằng cách chế giới luật ràng buộc họ phải tuân thủ để giữ vững kỹ cương của Tăng đoàn. Chẳng hạn, trong tập thể đại chúng của Trường hạ đề ra hiệu lệnh như sự nhắc nhở cần thiết cho mỗi chúng ta trong một đạo tràng qui tụ đông người, hầu dễ dàng cho tổ chức; cũng như Nội Qui để làm mực thước cho đại chúng theo đó hành tŕ tự nhắc ḿnh và cũng để sách tấn người khác, trong một cộng đồng đa dạng giữa Tăng Ni và Phật tử, giữa những vị lớn tuổi và người nhỏ tuổi đều ḥa hài nhau trong tinh thần học hỏi, tu niệm.

Để sách tấn tu tập pháp giải thoát trong thời gian An Cư, đại chúng mỗi người nên tinh tấn chấp hành các điều như sau:

1/ Khi nghe hiệu lệnh nên có mặt tại điạ điểm lớp học, chánh điện, trai đường...

2/ Có duyên sự ra khỏi đại giới trường phải tác bạch giữa đại chúng, nêu rơ lư do.

3/ Tiếp khách xin mời vào trai đường ngoài giờ tu tập

4/ Tham dự tất cả những buổi thọ tŕ, học tập, thảo luận Phật pháp không nên vắng mặt.

5/ Để giữ ǵn sức khỏe chung sau giờ chỉ tịnh xin đại chúng an tức (ngủ nghỉ).

Những điều qui định như vậy có một giá trị nhất định của nó để làm gia tăng nội lực tự thân, nếu mỗi người ai cũng biết ư thức theo dơi và áp dụng, chắc chắn sẽ gây được uy tín cho đạo tràng và lợi lạc chung rất lớn lao. Cũng nhờ tính cách dân chủ tuyệt đối mà hàng đệ tử xuất gia của Phật sống nương tựa, ḥa hợp nhau trong tinh thần lục ḥa. Người khác (ngoài) nh́n vào tổ chức Tăng Ni cũng khó mà hiểu v́ không nắm rơ được luật lệ của tăng đoàn.

Xin nêu ra câu chuyện sau đây làm ví dụ điển h́nh:

Vào năm 1998 Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney – Úc Đại Lợi tổ chức lễ khánh thành hoàn tất công tŕnh xây dựng sau hơn 10 năm nỗ lực không ngừng của chư Tăng và Phật tử. Lễ Khánh thành có mời không những Tăng Ni Việt Nam khắp các nơi tại hải ngoại về dự lễ mà c̣n mời cả các Phật tử, chính quyền các cơ quan, đoàn thể khác từ nhiều nơi về dự. Dịp này phái đoàn của TT Thích Như Điển đến từ Đức Quốc tháp tùng theo cùng với 30 Phật tử. Khi tới phi trường Sydney, phái đoàn được đón về chùa. Trên đường về có một nam Phật tử gặp thầy Phổ Huân (chùa Pháp Bảo) chấp tay chào “chú” th́ có mấy Phật tử đính chính là nên gọi Thầy mà không phải chú. Từ đó Đạo hữu luôn gọi Đại Đức là Thầy trong suốt thời gian lưu trú lại chùa. Tuần sau lễ khánh thành, phái đoàn TT Như Điển viếng thăm Adelaide và chùa Pháp Hoa của Ḥa Thượng Thích Như Huệ. Tại chùa Pháp Hoa, vị nam Phật tử theo phái đoàn TT Như Điển hôm trước gặp chú Hạnh Châu (lúc đó là Sa Di) đạo hữu chấp tay chào bạch Thầy. Các Phật tử chùa Pháp Hoa đính chính lại, là phải kêu “Chú” và không phải gọi Thầy! Điều này làm cho Đạo hữu ấy vô cùng bối rối và tự hỏi: tại sao ở chùa Pháp Bảo một thầy tuổi tác tương tự gọi là chú lại bảo phải gọi bằng thầy; c̣n chùa Pháp Hoa, thầy này tuổi tác cũng đâu có nhỏ gọi Thầy lại cải chính phải gọi bằng chú? Vấn đề qúa rắc rối ai làm sao hiểu nổi! Sau đó đạo hữu đem phân trần với TT Như Điển và được giải thích rơ ràng thế này:

Vị Tăng đă thọ giới Tỳ Kheo nên gọi là Đại Đức hay Thầy; vị Tăng dù lớn tuổi nhưng chưa thọ đại giới vẫn gọi bằng chú như thường. Đó là truyền thống xưa nay của Phật giáo Đại Thừa. Cũng như vấn đề tuổi Hạ cao là người lớn tuổi trong đạo, trong khi vấn đề tuổi Hạ cao là người lớn tuổi trong đạo chứ chưa chắc lớn tuổi đă là người tu lâu năm. Có những vị tuy lớn tuổi nhưng mới thọ giới th́ đâu phải là người trưởng thành trong đạo giáo. Đây là điểm khác nhau giữa đạo và đời khá rơ rệt qua một lằn ranh giới luật. Nhờ có giới luật làm điểm tựa cho chúng Tỳ Kheo ngồi lại với nhau trong sự tương giáo, tương sám, tương thuận, tương kính để xây dựng Tăng đoàn thành một tổ chức có qui củ đúng pháp theo luật Phật dạy.

Đó là lư do cho sự chọn lựa chủ đề nói trên. Diện là mặt hay c̣n gọi là vóc dáng toàn diện; mục là mắt tức là tai mắt để soi sáng quán chiếu lại ḿnh. Như vậy, diện mục là một con người gồm hai phần thân xác và tinh thần hay nói cách khác con người thể chất và tâm linh. Nhưng điểm quan trọng hơn hết, tác giả muốn tự soi nh́n lại bộ mặt thật con người hai mặt của ḿnh lâu nay ra sao để học hỏi và cầu tiến bộ.

-Về con người thể chất: 6 căn tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ư ngày càng hao ṃn cạn kiệt như một cổ xe mà toàn thân hầu mục rả sau nhiều năm xử dụng quá nhiều. Các bộ phận bên trong long lở, củ kỹ, chực đụng tới là hư ră gây ra bất an cho thân cả tâm nữa.

-Về mặt tinh thần hay tâm ĺnh: những tham, sân, si, mạn, nghi năm món độn sử (trói buộc nặng nề, tŕ trệ khó một lúc mà gỡ rứt ra hết được nên gọi là độn) và thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến, (năm món này gọi là lợi sử v́ bén nhạy, có phần dễ trừ hơn 5 loại trước. Mười món sử này ràng buộc, sai sử chúng sanh đi trong lối hiểm đường ma nên ta cần phải luôn luôn quán chiếu để tự răn ḿnh.

Tóm lại để soi rơ mặt, lúc chưa biết tu ta ưa dùng kiếng soi ngắm  nhiều lần, trước khi bước ra khỏi nhà để xem gương mặt dơ sạch thế nào. Bây giờ biết tu người đệ tử của Tam Bảo nên dùng tâm kinh Bát Nhă soi tâm. Soi tâm chính là quán chiếu lại ḿnh để thấy rơ bộ mặt thật xưa nay mà trong kinh thường gọi là bản lai diện mục, bản tánh, như lai tạng, chân như, Niết Bàn, bản thể v.v...V́ vậy, tiến tŕnh tu tập hành giả luôn luôn phải cẩn trọng giữ ḿnh như giữ tṛng con mắt, không để cho bụi bặm và mọi vật chung quanh làm khuất che mất ánh sáng; cũng chính là quán chiếu thân và tâm qua từng đề mục: sắc, thọ, tưởng, hành, thức (năm uẩn), đều không để vượt qua mọi khổ đau, ách nạn như tâm kinh Bát Nhă .

 

Viết nhân trong mùa An Cư Kiết Đông của chư Tăng Ni GHPGVNTN Hải Ngoại tại Tu Viện Quảng Đức – Melbourne Úc Đại Lợi từ ngày 6 đến 16 tháng 7 năm 2004. 

Melbourne ngày 7 tháng 7 năm 2004

Thích Bảo Lạc ^

 

 

Kiết đông

Một ánh sao đêm trở bạc đầu

Buông rơi tia nắng ngâm câu Phật đà

Mây vần như sẽ tuôn mưa xuống

Thái Dương bỗng rẽ bước ngà lung linh

Mang về Quảng Đức yên vui ấm

Tàn Đông kiết hạ, lời kinh nhiệm mầu

Ai về cơi tịnh xin nhắn lại

Thế nhân đă sáng trên đầu hào quang.

Bước đi dày dạn qua thương hải

Vác núi chồng cao, hạt cải Tu di

Ca lăng ríu rít Tam qui kỉnh

Tóc xâu trái đất thất kinh ông trời

 

HT.Thích Huyền Tôn ^

 

Lá vẫn c̣n xanh

Chuông khuya vang vọng canh dài

Từ Tôn tịch mặc Tiểu hài lặng yên 

Đất nước Úc Đại Lợi đi vào đông, mùa đông ở Tiểu Bang Victoria thành phố Melbourne lại càng giá buốt. Trong Tăng Xá Tu Viện Quảng Đức, Tôi lắng nh́n qua khung cửa những hàng cây rụng lá, vài con chim nhỏ ríu rít trên cành h́nh như không đủ sức ḿnh ḥa tấu nhạc bản Hoa nở chim ca.

Thế mà, trong cái lạnh của xứ Nam Bán Cầu, h́nh bóng Tăng Ni Phật tử thuộc liên bang Úc Châu – Tân Tây Lan - Việt Nam về dự an cư tại Tu Viện Quảng Đức hàng chục vị. - Người ta có câu rằng: “Khó mà trồng được hạt giống Bồ Đề trên xứ tuyết”, bởi v́ nơi đây ngôn ngữ bất đồng văn hóa khác biệt. Nhưng, những hàng lớp Tăng Ni Phật tử vượt biển - vượt biên - vượt cả không gian qua xứ nầy tạo lập Tu Viện, Tự Viện, Tịnh Xá, Tịnh Thất để ươm hạt giống Bồ Đề!

Tu Viện Quảng Đức lănh sứ mệnh tổ chức An Cư 10 ngày, do Giáo Hội Hải Ngoại chỉ đạo. Thượng Tọa Tâm Phương, Đại Đức Nguyên Tạng Chánh phó Tu Viện đă làm trọn bổn phận một người Tăng sĩ.

Tu Viện Quảng Đức trưóc đây là một Trường học, được duyên lành nay trở thành một Tu Viện kiến trúc theo văn hóa Việt Nam. Người viết thầm nghĩ: Chánh báo Y báo quyện với nhau, cho nên ngôi phạm vũ này thực sự rất trang nghiêm. Tiếng đại hồng chung - bước chân kinh hành niệm Phật - Ngọn lửa Chánh niệm bừng sáng – Tâm thức hành giả vọng hướng về chân trời giải thoát làm quên đi cơn giá lạnh mùa đông.

Nơi đây, gặp nhau trong t́nh pháp hữu. Quư Ḥa Thượng khả kính, chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni và quư Phật tử là những mẫu người thấm nhuần đạo vị; đạo đời có nhiều hương vị. Có những hương vị ngọt thơm – cay đắng, nhưng chắc chắn hương vị giải thoát mà người con Phật hằng ước mong!

Ngày mai chia tay c̣n đâu na?!..., nhưng tin rằng: Trong ánh mắt nụ cười và trong từng cử chỉ thân thương vẫn c̣n in đậm trong tâm thức của chúng ta.

Ai đi bỏ lại cuộc đời

Về nơi xứ lạ quê người thân thương

Vầng trăng mười sáu vẫn tṛn

Trở về bến cũ  nghe lời kinh thiêng

 

Mùa An Cư năm 2004 tại Tu Viện Quảng Đức, thành phố Melbourne.

Thích Trường Sanh. ^

 

Tán Dương Công Đức

An cư kiết hạ mười ngày qua

Trai soạn Quảng Đức thật bôn ba

Mỗi ngày ba bửa cơm chay tịnh

Cúng dường chư Phật cùng Tôn Đức

Sáng trưa chiều tối đều hoan hỷ

Không chút phàn nàn chẳng thở than

Nơi đây Chris đang rửa chén

Đằng kia Bobby khiêng tượng Phật

Anh bạn Steven chạy khắp nơi

Đưa đón chú Sơn cùng Phật tử

Giúp thầy không một tiếng than van

Ôi! Lành thay Phật tử thật đáng khen

Xin ghi công đức vô bờ bến

 

Nhóm Phật tử Liêu Huyền Quang

 

Tưởng nhớ vị sa di đầu tiên 

Thông lệ an cư khởi sự từ thời Phật tại thế. Lúc đó ở Ấn Độ mỗi năm vào 8 tháng tốt trời đức Thế Tôn ngự đến nước này nước kia để giáo hóa; 4 tháng mùa mưa v́ không tiện di chuyển v́ thời gian ấy cây cỏ sinh vật sinh sôi nảy nở nên v́ ḷng từ bi, Phật chế pháp an cư. Chúng Tăng trụ lại một nơi chuyên tâm tu niệm.

Hoa trái của đạo Phật ngày nay không c̣n giới hạn ở Ấn Độ nữa, hương thơm giải thoát đă tỏa ngát khắp năm châu. Năm nay mùa an cư được tổ chúc tại ngôi Già lam Quảng Đức, thành phố Melboure (Vic).

Giữa đại hùng bảo điện trang nghiêm, h́nh bóng chư Tôn khắp nơi tụ về, sáng rực uy nghi trong màu y vàng giải thoát. Đức Thế Tôn dạy ngựi xuất gia là con cả của Như Lai, chỉ có hàng Tăng lữ mới là h́nh ảnh trực tiếp giữ ǵn mạng mạch Phật pháp. Chí khí người xuất gia cao cả, tâm lượng người xuất gia rộng sâu. Tự lợi, lợi tha, dang tay dung chứa tất cả, đem giáo lư Phật đà chuyển hóa khổ đau của chúng sanh.

Lư tưởng xuất gia tuyệt vời là thế. Lư tưởng càng cao th́ phải có năng lực càng nhiều. Đă đành rằng từ bao lâu quay cuồng trong sinh tử, giờ này tuy đă biết quay về, nhưng những tập khí khó mà dứt trừ trong nhấp nháy nhứt thời. Nhưng không v́ thế, người xuất gia chùn chân dừng bước. Lịch sử chứng minh, biết bao liệt vị Tổ sư v́ đạo hy sinh, bao thánh tử đạo quên ḿnh hiến thân cho Phật pháp. Khó khăn chập chùng nhưng ngọn đuốc chánh pháp chưa từng tắt và c̣n truyền măi đến ngày nay và sẽ đến ngàn sau. Cứ mỗi lần vọng tâm lăn xăn hiện lên hàng hậu bối lại nhớ đến bài học Đức Thê Tôn khi xưa rầy chú Sa Di La Hầu La. Chú La Hầu La xuất gia năm 14 tuổi, theo Ngài Xá Lợi Phật làm đệ tử. V́ c̣n trẻ con, nên những nghịch ngợm phá phách chưa dứt trừ. Một hôm Phật biết được, đích thân đến Tịnh Xá chú đang tu. Với dạng hết sức oai nghiêm, La Hầu La bất ngờ chỉnh y ra nghinh đón Phật. Đợi cho Thế Tôn an tọa, chú đem nước đến cho Phật rửa chân. Đức Phật không nói một lời, rửa chân xong bèn chỉ nước dơ trong thau hỏi La Hầu La.

- Này chú, thứ nước dơ này có uống được không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn

- V́ sao vậy?

- Bạch Thế Tôn, v́ nước đă bị dơ

- Là Sa Di như La Hầu La (không giữ giới hạnh) cũng giống như nước dơ vậy.

Phật bảo La Hầu La đổ nước đi và hỏi:

- La Hầu La có thể lấy thau này đ ựng nước ăn uống được không?

- Bạch Thế Tôn, không

- Làm Sa Di không có giới hạnh như La Hầu La cũng vậy.

Phật bảo La Hầu La úp thau lại và lấy nước đổ lên trên, Phật hỏi:

- Nước có đọng lại trên thau không?

- Thưa không, bạch Thế tôn

- Làm Sa Di như La Hầu la, không có tâm, không giữ giới thanh tịnh th́ Phật Pháp cũng không đọng lại được.

- Phật lấy chân đá vỡ thau và hỏi La Hầu La

- Có tiếc cái thau không?

- La Hầu La bủn rủn thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn.

- V́ sao?

- V́ cái thau này không c̣n dùng được vào việc ǵ cả nên có bể cũng không tiếc.

- Cũng vậy, làm Sa Di như La hầu la mà không có giới hạnh th́ không ai tin dùng cả, có bỏ thân cũng không ai mến tiếc.

Từ ấy, Sa Di La Hầu la tinh tấn tu tập không ngừng. Sau này, La hầu la được Phật tán thán là một trong 10 đại đệ tử của Phật với tôn hiệu Mật Hạnh Đệ Nhất. Đạo Phật là thế, tất cả những ai được tắm ḿnh trong ḍng pháp giải thoát đều hưởng được những hoa trái của sự tu tập. Huống hồ chúng xuất gia, ngày ngày sáu thời sống trong chánh pháp. Ngày nào c̣n mang bên ḿnh chí nguyện của buổi sơ tâm xuất gia, c̣n biết trên vai nặng gánh nhiệm vụ hoằng pháp lợi sanh; th́ ngày ấy không một mănh lực vô minh nào có thể làm lui sụt chí khí của bậc xuất trần thượng sĩ.Tạm biệt trường hạ Quảng Đức, trở về lại trú xứ, mỗi người lại thấy ngọn lửa Bồ Đề thêm nhen nhúm, chí nguyện độ sanh thêm dũng mănh. Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho tất cả chúng sanh đều nhờ ơn mưa pháp, mau sớm thoát ly khổ hải, đều gặp được Phật pháp rồi sẽ trọn thành Phật đạo.

Kỷ niệm mùa an cư tại Tu Viện Quảng Đức 2004

Giác Anh ^

 

Niềm Vui Lớn 

Là một con người hiện hữu trong đời sống này ai cũng ước vọng cho ḿnh luôn có một niềm vui trong đời sống, đó là lẽ tất nhiên.  

Tuy nhiên có những người họ chỉ ước vọng những cái b́nh thường trong đời sống này là họ đă thấy măn nguyện hạnh phúc, rồi cũng có những người cho dù nằm trên đống bạc, họ thụ hưởng mọi thứ xa hoa, sơn hào hải vị nhưng họ cảm thấy vẫn thiếu và chưa đủ, ḷng tham vô bờ của mỗi chúng sanh.

Nói đến đây tôi nhớ hoài một lời nói chân thành của một anh chàng thanh niên miền quê lục tỉnh trong trại cấm Tị Nạn SungaiBesi của năm 1990. Trong những năm đó, các đảo tị nạn đă đóng cửa, có rất nhiều tấn thảm kịch khổ đau  xảy ra trong các trại tị nạn, tôi cùng TT Quảng Ba có dịp đi lại tất cả các trại tị nạn Đông Nam Á một ṿng để thăm viếng và ủy lạo, tặng quà an ủi đến đồng bào của chúng ta  đang c̣n kẹt lại nơi đó, sau 6 tuần lễ đi thăm viếng hầu hết các trại tị nạn, vào một buổi sáng tôi dừng chân  trại Sungai Besi, nơi đây cùng là nơi mà tôi được dung thân an ổn sau những ngày vượt biên trên biển, Đảo Paulau Bidong và trại Sungai Bese đối với tôi cũng nhiều đồng bào tị nạn khác cũng có nhiều kỷ niệm và cũng lắm thương đau.

Hai ngày trôi qua tâm sự hàn huyên chia xẻ những món quà tinh thần lẫn vật chật đến với những đồng bào bất hạnh . Lúc  đó có một chàng thanh niên khoảng 25 –27 tuổi, anh đến bên tôi tâm sự và khóc sướt mướt  thỏ thẻ nói lên nguyện vọng của ḿnh. “Thầy ơi Thầy cứu con với, con đă hai lần rớt thanh lọc rồi, chắc chắn con sẽ phải trả về Việt nam, trả về Việt Nam những ǵ sẽ xảy ra với con, v́ lúc con đi vượt biên con là một du kích xă , con đi, con lấy của họ cây súng để pḥng thân, và tàu ra khơi an toàn con quăng cây súng ấy xuống biển, dù ít nhiều chuyện ấy cũng liên quan đến chính trị thế mà qua đây họ ghép con vào diện tị nạn kinh tế, đánh rớt con hai lần”. Rồi tôi nhận nghe nhiều lời than thở, cầu cứu của Chị Hai Ty cùng 2 cháu, anh chị Tư, ông Bảy đi một ḿnh và rất nhiều đồng bào khác v..v . Tôi ngồi trầm tư suy nghĩ miên man, tôi cảm thông thấu suốt từng niềm đau và từng nổi thống khổ của mỗi người, tự nhiên trên môi tôi thấy mặn mặn th́ ra tôi đă xúc động và khóc từ bao giờ? Rồi tôi bất chợt nghe một tiếng nói và Ước Vọng từ trong đáy ḷng, Thầy ơi con khổ lắm, Cứu con với .

Nếu ngày đó con chỉ cần được tự do ăn nói, có một ước vọng nhỏ, là có được một chiếc xe Honda cũ, để làm chiếc xe lôi kéo chuối từ trong vùng sâu, vùng xa đem ra chợ bán kiếm tiền để nuôi người mẹ già bệnh yếu và 2 em nhỏ là con không bao giờ đi vượt biên để khổ cái thân trên ḥn đảo này.

Đó là một ước vọng đơn sơ của con người miền quê lục tỉnh, mà họ nghĩ đánh đổi một cuộc đời để đạt được một ước vọng rất tầm thường nhưng vẫn không đạt được. Anh sẽ phải bị trả về Việt nam sau đó , và tôi cũng đă mất liên lạc với người thanh niên quê chân chất ở một  góc trời quê hương tôi kể từ dạo ấy. Dĩ nhiên tôi cùng quí vị đă thấy và đă chứng kiến hàng trăm hàng ngàn sự khổ đau hơn đó nữa, chúng ta cũng không biết làm ǵ hơn để cứu vản  t́nh thế ngoài khả năng của ḿnh.Tôi tiếp tục suy  tư, và ḍng cảm nghĩ miên man chảy dài trong tôi, làm một con người ư, làm người sao có lắm nhiều thương đau và khổ lụy. 

Bậc Thầy Giác Ngộ  của chúng tôi đă dạy; Đờinày  làmđược thân người là một phước báo lớn, nếu chúng ta  kém tu, không có niềm tin chánh tín nhân quả, nghiệp báo  th́ khổ lắm. Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, gặp được Phật Pháp mà phát khởi niềm tin chánh tín và tu học lại càng khó hơn.

Tôi rất may mắn, sinh ra trong một gia đ́nh theo Đạo Phật, tuy không giàu có, nhưng chưa bao giờ gia đ́nh tôi, hay trong họ hàng nội ngoại hai bên phải đói cơm ăn, hay không đủ áo mặc ấm, như tôi đă từng chứng kiến những cảnh khổ đau của nhiều  gia đ́nh người khác trong đời sống này.

Một niềm vui  đối với tôi,  là gia đ́nh tôi và ḍng họ tôi ít nhiều đă hiểu đạo, tất cả đều Quy Y Tam Bảo và trở thành những Phật tử thuần thành. Chính tôi chính thức đưa ông nội tôi đến (Hoàng Trúc Am trên đồi Trại Thủy, TP Nha Trang) đảnh lễ và xin quy y với Ḥa Thượng Trí Nghiêm, ngày ông nội tôi mất chính Ḥa Thượng Trí Nghiêm đến niệm hương Lễ Nhập Liệm cho Người. Đây là một ân đức lớn cho gia đ́nh chúng tôi, v́ Hoà Thượng Trí Nghiêm là một Bậc Cao Tăng Thạc Đức của cả Miền Trung nước Việt. Lúc đó tôi đang kẹt trên bán đảo Tị Nạn Paulau Bidong (tháng 6/1986).

Sau hơn 17 năm lưu lạc trên xứ người, tôi lần  theo dấu chân xưa của Đức Từ Tôn, tôi sống trong Giáo Đoàn Tăng Ni của Giáo Hội, luôn sát cánh cùng Chư Tôn Đức trong Giáo Hội, gánh vác công việc của người trưởng tử Như Lai trong sứ mạng “Tác Như Lai Sứ, Hành Như Lai Sự”  theo khả năng nhỏ bé của ḿnh. Bản thân tôi vẫn c̣n nhiều vụng về , non yếu trên bước đường Thượng Cầu Hạ Hóa, tôi rất thiết tha tiếp nhận  những lời giáo dưỡng ân cần của Chư Tôn Đức , cùng những Thiện hữu tri thức  giúp tôi đi trọn con đường phụng sự.

Mười bảy năm đă trôi qua mau như bóng cau lướt nhẹ, bất giác tôi thấy ḿnh đă có hai màu tóc, hiện tướng già, bệnh, chết đă bắt đầu xuất hiện. Tôi chạnh ḷng v́ thấy sức khỏe của ḿnh trong hiện tại không c̣n như  xưa nữa, buồn v́ c̣n  quá nhiều công việc và hoài bảo chưa thực hiện được trên  bước đường xiển dương Giáo Pháp của Như Lai trên xứ sở này. Con chấp tay nguyện cầu Đức Thế Tôn chứng minh và luôn soi sáng giúp con có được nhiều nghị lực và sức khỏe.

 Mùa An Cư  Kiết Đông lần thứ 5 năm nay được Giáo Hội giao phó cho Tu Viện Quảng Đức chúng tôi tổ chức, đây là một Niềm Vui Lớn đối với tôi và tất cả những người con Phật tại đạo tràng này và chư đồng hương Phật tử xa gần  nhiệt tâm hổ trợ.

Quả thật vậy, đây là một Niềm Vui Lớn, Tu Viện Quảng Đức đă cung đón trên 60 vị Chư Tôn Đức Tăng Ni, và gần 100 Phật tử tại địa phương cùng các tiểu bang đồng hướng về Kiết Giới Tịnh Tu công quả trong 10 ngày, màu huỳnh y  rực rỡ của Chư Tôn Đức Tăng Ni thanh thoát kinh hành niệm Phật, và những thời công phu khuya, tối, tôi cảm động và thương từng chiếc áo tràng lam cần mẫn trong tay xâu tràng hạt, Ấn Kiết Tường dâng trọn tâm thành nâng b́nh bát cơm đầy Niệm Tứ Ân, Cúng Dường Mười Phương Chư Phật, tôi bồi hồi xúc động với niềm vui buồn lẫn lộn, từng bước chân an lạc t́m đến từng pḥng vấn an sức khỏe Chư Tôn Đức, lo lắng thăm hỏi sức khỏe quí Phật tử về tịnh tu công quả, 10 ngày rồi cũng trôi qua nhanh như một giấc ngủ, Chư Tôn Đức đều trở về trụ xứ lại tiếp tục sứ mạng trên bước đường phụng sự. Tôi thương và cảm thông những người con Phật tại gia rồi phải  quay về vật lộn với đời sống, nhưng tôi tin tưởng  rằng trong mỗi người con Phật đều có hạt giống từ bi và trí tuệ để cứu ḿnh và chia xẻ cho đời những hoa trái giác ngộ yêu thương và hiểu biết.

Ngoài trời cơn mưa vẫn c̣n nặng hạt, màu xám sương chiều đă phủ xuống hiên thềm Tu Viện, tôi bổng nghe hồi chuông báo hiệu, thời kinh tối của đại chúng đă bắt đầu...

Tôi  trân quí khoác lên ḿnh bộ y màu vàng thẳm, bước nhẹ lên thềm hoa cửa Phật, trong ḷng hân hoan nao nức bổng dâng trào, thầm khấn nguyện cho chúng sanh đời bớt khổ!

           Mùa An Cư  Kiết Đông 2004

 TK. Thích Tâm Phương

 

 

Lời Khai Mạc Khóa An Cư  2004 Tại Tu Viện Quảng Đức 

 Nam Mô BỔn Sư Thích Ca Mâu Ni PhẬt

 

Ngưỡng Bạch Lên Ḥa Thượng Chứng Minh Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương GHPGVNTN  Hải Ngoại  Úc Đại Lợi Tân Tây Lan. 

Ngưỡng Bạch Lên Ḥa Thượng Hội Chủ, Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi Tân Tây Lan.

Kính Bạch hiện tiền Chư Tôn Đức Tăng Ni,

Kính thưa quí thiện Nam Tín Nữ, quí Tịnh Nhơn, Học Viên về tham dự Khóa Tu , Tùng Hạ An Cư , công quả, cùng quí đồng hương , Phật Tử xa gần thân mến.

Trước đây hơn 2500 năm , khi Đức Thế Tôn c̣n tại thế , Ngài Lảnh Đạo một một Giáo Đoàn Tỳ Kheo hơn 1200 Vị , để đi lại trên khắp mọi nẻo đường của đất nước Ấn Độ , để hóa duyên  và truyền trao Giáo Pháp Giác Ngộ An Lạc, cũng như phương pháp diệt trừ khổ đau , và chấm dứt con đường sanh tử luân hồi của mọi chúng sanh. 

Rồi từ đó cũng từ trong Giáo Đơàn này, Mùa An Cư Kiết Giới Tịnh Tu ï đầu tiên  được tổ chức tại Kỳ Hoàn Tịnh Xá  lúc bấy giờ, nhằm mục đích để thúc liểm thân tâm Tấùn Tu Đạo Nghiệp, đồng thời cũng tránh được sự đi lại quá nhiều của Giáo Đơàn 1200 vị , trong mùa mưa ẩm ước , có thể dẩm lên những vi trùng sâu bọ, mà ḷng từ của Đức thế tôn gọi đớ là mỗi mỗi chúng sanh bị mất mạng sống , dưới bàn chân của chúng ta.  

Ngưỡng bạch lên chư tôn đức, Kính thưa liệt quí vị, trải qua suốt chiều dài lịch sử đă hơn 2500 sau khi Đức Phật Nhập Diệt, Phật Giáo đă truyền đi khắp năm châu bốn biển nói chung , nói riêng cho Phật Giáo Việt Nam, và tuỳ theo từng quốc độ , hoàn cảnh nhân duyên để xiển dương giáo pháp của Ngài được trường tồn , hưng thịnh. 

Mà trong đó Giáo Đoàn Tăng Ni , là hàng trưởng tử Như Lai phải nghiêm tŕ Giới Luật , để bảo tồn chánh pháp cứu độ chúng sanh, mà trong Kinh Di Giáo Đức Thế Tôn đă dạy. 

Để thực hiện những lời Giaó huấn đó của Ngài, hằng năm Mùa An Cư Tịnh Tu , trao dồi giới đức  không thể thiếu đối với hàng Trưởng Tư Như Lai. Năm nay Mùa Kiết Giới An Cư 2004 , lần thứ 5 do Giáo Hội Tổ Chức . . Chúng con Chư Tăng Ni , Phật tử tại đạo tràng Tu Viện Quảng Đức được Chư Tôn Đức tin tưởng giao phó tổ chức Mùa An An Cư Tịnh Giới năm nay, đây là một niềm vui lớn , một công đức lớn mà Tu Viện Quảng Đức chúng con được hoan hỷ vui mừng nhận lănh. 

Tuy rằng chúng con vẫn biết với hoàn cảnh , và những phương tiện khiêm tốn của Tu Viện trong hiện tại , cũng như tài đức khiếm khuyết của chúng con khó có thể chu toàn  viên măn cho khóa tu , nhất là về  mặt sức khỏe của Chư Tôn Đức và quí Phật tử về tùng hạ Tu Học , côn quả trong 10 ngày v́ thời tiết quá lạnh. Chúng con cầu  nguyện Chư Phật gia hộ, và mong được đón nhận những lời chỉ dạycủa chư tôn đức , cũng như được sự hổ trợ phát tâm của những thiện nam tín nữ Phật tử xa gần, gián tiếp hổ trợ , hay về tham dự khóa hạ an cư , tu học công quả . 

Kính bạch lên Chư Tôn Đức,  Thay mặt Ban Tổ Chức Khóa Hạ An Cư lần thứ 5 của GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Đại Lơi Tân Tây Lan, cũng là Hóa Chủ Trường Hạ tại Tu Viện Quảng Đức , tính cho đến giờ phút này chúng con được cung đón 60 Chư Tôn Đức Tăng Ni đă đăng kư về Kiết giới an cư tại giới Trường. Đồng thời cũng có hơn 70 Phật Tử về tùng hạ tu học, công quả trong 10 ngày.

Nhân Danh Hóa Chủ Trường Hạ chúng con thành tâm đê đầu đảnh lễ Chư Tôn Đức, thân mến đón mừng sự có mặt của quí vị Phật tử về tùng hạ, cũng như  quí đồng hương Phật tử xa gần .

Kính chúc chư tôn đức , cùng liệt quí vị, thân tâm an lạc, bồ đề tăng trưởng , đạo quả viên thành, Suốt thời gian Tu Học

 Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Tác Đại Chứng Minh.   ^

 

Lời Mở Đầu Lễ An Vị Thích Ca Phật Đài Lộ Thiên.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch hiện tiền Chư Tôn Ḥa Thượng, Chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni.

Kính thưa quí đồng hương Phật tử thân mến.

Đúng vào ngày 20.6.1997 Đào Tràng Tu Viện Quảng Đức thuyên chuyển về nơi mảnh đất này, nơi đây là một ngôi trường tiểu học cũ đă đóng cửa trong nhiều năm, khung cảnh thật hoang tàn xơ xát. Suốt 7 năm qua Đạo Tràng Quảng Đức chúng con từng bước khắc phục xây dựng và chỉnh trang để trở thành một ngôi Tu Viện được trang nghiêm .

Đây là một thành quả khiêm tốn, được xây dựng bằng cả mồ hôi , nước mắt, bằng tâm đức nguyện lực của mọi giới đồng hương Phật tử xa gần.

Kính thưa liệt quí vị, Phật Đài Thích ca Lộ Thiên trước mặt  Chư Tôn Đức và quí đồng hương Phật tử là một pho tượng được an trí trong ngôi chánh điện cũ, pho tượng này đă được quí đồng hương Phật tử xa gần phát tâm cúng dường , và đă phát tâm lễ lạy tu học trong nhiều năm. Tuy nhiên khi xây dựng ngôi chánh điện mới Đạo Tràng chúng con đă an vị Tôn Tượng Bổn Sư bằng đồng tại Đại Hùng Bảo Điện. 

Và để đánh dấu ghi lại công đức ngay từ những ngày đầu tiên , đồng thời cũng để kỷ niệm, và đền ơn trong muôn một ân đức của quí ân nhân, đồng hương Phật tử xa gần đă nhiệt tâm hổ trợ, chúng con quyết định xây dựng Phật Đài Lộ Thiên này. Ngưỡng bạch lên hiện tiền Chư Tôn Đức Tăng Ni, thật là một phước duyên thù thắng cho đạo tràng Tu Viện Quảng Đức của chúng con, được Chư Tôn Đức giao phó trọng trách tổ chức Mùa An Cư Tịnh Giới Tu Tŕ cho Chư Tôn Đức Tăng Ni trong Giáo Hội. 

Sau một tuần lễ tịnh giới tu học đă trôi qua, hôm nay đạo tràng chúng con được Chư Tôn hứa khả quang lâm Phật Đài Lộ Thiên Thích Ca Mâu Ni để Chú Nguyện Lễ Sái Tịnh Tẩy Trần An Vị. Đây là một công đức lớn mà đạo tràng của chúng con khó có thể đủ phước duyên nhận được.Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh trước Đài Sen Chân Dung Đức Thế Tôn, chúng con nguyện cầu Hồng ân Tam Bảo chứng minh gia hộ Chư Tôn Tôn Đúc Pháp Thể Khinh An Chúng Sanh Dị Độ.

Và kính chúc toàn thể quí đồng hương Phật tử xa gần , bồ đề tâm kiên cố, gia đ́nh hạnh phúc, và luôn được an lành trong ánh hào quang của Đức Phật.

 Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát

Trụ Tŕ Tu Viện Quảng Đức

 Tỳ Kheo  Thích Tâm Phương  ^

 

 

T́nh Pháp Lữ

TK. Hương Vân

 

Mùa An cư năm nay tôi có phước duyên về tu học tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu, ở cùng pḥng với Thượng Tọa Như Định, trú tŕ chùa Thiên Ấn, Sydney. Pḥng chúng tôi được ban chức sự Trường Hạ đặt là Liêu Mật Hiển.

 Trước cuộc hội ngộ đầy ư nghĩa và thắm t́nh đạo vị này, hai huynh đệ chúng tôi chưa hề quen biết nhau. Một chút dè dặt và e ngại đă diễn ra trong giờ phút sơ kiến, do bởi hoàn cảnh đặc biệt của tôi, một tu sĩ đến từ Việt Nam, nhất là chúng tôi lại sanh trưởng ở những địa phương khác nhau. Thầy Như Định quê ở Quảng Ngăi, c̣n tôi ở Huế. Quả thật, lúc đầu tôi có hơi lo. Trong thâm tâm, tôi mong được cùng ở chung với một thầy người Huế hay Quảng Trị, v́ dù sao t́nh đồng hương cũng làm tôi an ḷng hơn.  Tuy nhiên, giá trị của thời gian sống chung với vị Tỷ-kheo đáng kính này đă cho tôi thấy được sự sai lầm của ư niệm chấp thủ, cụ thể là trong trường hợp này.Sau vài giờ chuyện tṛ, những khoảng cách về địa lư, ư thức vùng miền... giữa chúng tôi đă được lấp kín bởi sự thông minh, dí dỏm, cởi mở, đặc biệt là nụ cười hoan hỷ của người bạn  đồng liêu. Càng sống chung với thầy tôi lại càng cảm nhận được nguồn nội lực tâm linh của thầy. Lối kiến giải sắc sảo về kinh luật, những kinh nghiệm tu học ở xứ người của thầy thật sự là nguồn kinh nghiệm quư giá đối với tôi trong việc tu tập cũng như hoằng pháp. Thầy sống rất giản dị, chân chất; đặc biệt là tính khiêm cung và hạnh hỷ xả. Chân t́nh của thầy đă làm tê cứng những suy nghĩ mang tính phân biệt, xă giao, kiểu cách, hoặc những thứ có cùng gốc ngọn trong ḷng tôi. 

 Quả thật, tôi đă học ở người pháp hữu này rất nhiều. Đúng như lời các bậc tiền nhân dạy “học thầy không tày học bạn”. Qua đây tôi lại rút thêm được một bài học khác. Đó là nếu bạn muốn có nhiều niềm vui và an lạc trong cuộc sống th́ trước hết bạn hăy mở tấm ḷng hoan hỷ của ḿnh đến với mọi người. Bởi v́, theo cách hiểu thông thường, ai gieo nhân ǵ th́ sẽ nhận được quả ấy. Câu chuyện trong tuyển tập “Nghệ Thuật Sống” trích từ Internet sẽù minh hoạ cho tư tưởng này. Một đứa bé, trong một trạng thái tâm lư buồn bực, chạy ra bên bờ rừng và hét to “Tao ghét mày”. Lập tức, nó nghe cùng câu nói “tao ghét mày” vọng lại. Âm thanh phản hồi này đă khiến chú bé hoảng sợ. Nó chạy vội về nhà và kể lại với mẹ. Mẹ nó bảo rằng con hăy ra lại chỗâ ấy và nói rằng “tao thương mày”. Nó đă làm như thế và tiếng vọng “tao thương mày” của núi rừng đă loại trừ ngay tâm lư buồn bực trong ḷng của chú bé.

Thật là giản đơn nhưng rất ư vị. Chắc chắn những ǵ có được từ cuộc sống chung  với thầy Như Định trong mùa an cư năm Giáp Thân-2004 sẽ là song hành với cuộc đời  tu tập của tôi trong hiện tại cũng như  tương lai.

Tu Viện Quảng Đức, Mùa An Cư Giáp Thân-2004 ^

 

 

Công Án – Koan

Alexander Eliot – TK Nguyên Tạng (dịch

Khi sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa, Vua Lương Vơ Đế cho mời ngài đến để hỏi đạo. Nhà vua tưởng ḿnh sẽ được nghe một bài thuyết pháp, nhưng Tổ chỉ nói: “rỗng tếch, có ǵ thiêng liêng đâu !”.

Ngạc nhiên và có lẽ chấn động v́ sự cộc lốc đó, Vua Vơ Đế hỏi rằng Tổ Bồ Đề Đạt Ma nghĩ ḿnh là ai mà lại nói như vậy. Bồ Đề Đạt Ma nhăn mặt, gải đầu, rồi trả lời:“ Ta không biết”.

Giận và bất măn, Vua Vơ Đế cho vị khách của ḿnh lui ra. Sau đó vua đă suy ngẫm về những câu nói của Tổ và nghĩ rằng Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma không phải là một người khờ. Vua lại cho mời tổ nhưng không thấy ngài đến. Các sứ giả của Vơ Đế đi t́m khắp nơi rồi trở về tâu là tổ Bồ Đề Đạt Ma đă biến mất. Thế là Vơ Đế càng giận và bất măn hơn trước. “Tuy nhiên gió nam vẫn tiếp tục thổi”, như một nhà b́nh luận Trung Hoa đă ghi chú bên lề của truyền thuyết này.

Gió thổi nơi nào nó muốn, người ta nói như vậy, và khi toạ thiền, những ư nghĩ của hành giả vẫn nổi lên như thường lệ. Điều quan trọng là không theo đuổi những ư nghĩ đó khi chúng xuất hiện. Hành giả chỉ ngồi yên, quan sát một chút, nhưng không nh́n nhiều qua con mắt của tâm trí. Dường như những bọt bong bóng tri thức thành h́nh trong bụng, nổi lên, rồi vỡ ra, tan biến vào hư không. Tiến tŕnh này không giống kỹ thuật “ liên tưởng tự nhiên” của các nhà phân tâm học, v́ không cần có sự liên tưởng nào cả, dù tự nhiên hay có tính toán. Hành giả cứ để cho ư nghĩ xuất hiện, không theo đuổi chúng, cho tới khi chúng đi xa ngoài tầm ư thức của ḿnh, giống như Bồ Đề Đạt Ma biến khỏi triều đ́nh của Lương Vơ Đế.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma trú trong một hang núi trong chín năm, chỉ ngồi quay mặt vào vách đá. Cái hang đá đó là thai bào tâm linh của ngài. Nhưng cuối cùng một người đến t́m, hy sinh một cánh tay của ḿnh, làm rộn thời thiền của Ngài. Ngài hỏi người mới đến:

- “ Ngươi muốn ǵ ?”

- “Xin Thầy an tâm cho con”, vị ấy trả lời.

- “ Cho ta thấy tâm của ngươi, rồi ta sẽ làm cho nó an”.

- “Con không t́m thấy nó ở đâu cả”.

- “ Ngươi đă được an tâm rồi đó”.

Không giống như Lương Vơ Đế, người một tay này trở thành vị tổ thứ hai của Thiền Tông Trung Hoa, đó là nhị tổ Huệ Khả.

Chuyện này có ư nghĩa ǵ ? Khi không t́m kiếm ǵ nữa mà sống với hiện tại, người ta sẽ bỏ được tham vọng, tham dục và tâm trí được yên tĩnh. Nhưng khi c̣n ở trong thế gian này người ta không thể hoàn toàn bỏ được tính tham. Tham dục là động lực của sự sống. Người ta có thể sửa đổi những ước muốn của ḿnh cho tốt đẹp hơn, nhưng trong cuộc đời này người ta không bao giờ giải trừ một phần nỗi đau vi tế và rộng khắp của sự làm người. Như vậy, sự chết có phải là lời giải không? 

Mới đây tôi nằm mơ thấy Tổ Bồ Đề Đạt Ma xuất hiện. Ngài ẩn hiện trong không khí giống như một bóng ma, một người to lớn, hai mắt lồi, đôi lông mày rậm. Với bộ râu tua tủa của ngài khiến người ta không thể biết là ngài đang cười hay đang nhăn mặt. Ngài nói nhỏ qua hàm râu: “ nhà ngươi có vẽ đă trưởng thành, nhưng lại chưa bao giờ giết ai cả. Tại sao vậy?”

  Tôi cố gắng nói: “ Thiền tông có cách truyền thừa đặc biệt, ngoài việc giết người”. Nhưng khi tôi nói như vậy, một nỗi nghi ngờ làm cho tôi thức dậy. Giấc mộng ấy làm tôi hoang mang, nhưng tôi vẫn bắt đầu thời khóa tu tập trong ngày là toạ thiền. Thật là khủng khiếp, h́nh ảnh Bồ Đề Đạt Ma mà tôi gặp trong giấc mộng đêm qua đă hiện ra trước mắt tôi. Các vị thầy của tôi đă dạy rằng khi tham thiền, hành giả có thể bị ma chướng khuấy phá, nhưng đừng chú ư tới chúng, v́ vậy tôi nh́n xuyên qua h́nh Bồ Đề Đạt Ma cho tới khi h́nh ảnh ấy tan biến. Làm như thế có đúng không ? Lúc đầu tôi rất sợ, nhưng sau đó tôi bớt sợ hơn, vậy có nghĩa là tôi đă làm đúng. Tuy nhiên khi nghĩ lại tôi muốn ḿnh có thể hỏi Bồ Đề Đạt Ma là người có ư ǵ khi đề cập đến việc giết người. 

Theo triết lư Phật Giáo th́ sự chết không phải là lực bên ngoài, cũng không phải là nơi để trốn tránh. Kinh Kim Cương là một trong những bản kinh nói rằng không có cái ‘ta’ nào để giải thoát, cũng không có ǵ ngoài bản thân để tránh hay để chứng đắc, sự chết chính là sự sống. Lục Tổ Huệ Năng chứng nghiệm cả sự chết lẫn sự tác sinh trong cùng một khoảng khắc, khi ngài nghe được tiếng tụng Kinh Kim Cương. 

Nhưng Tổ Huệ Năng nói rằng lời Kinh không có ư nghĩa ǵ đối với ngài, và tính chất của giáo lư là không rơ ràng. Ngài cho rằng ngay cả ngồi thiền cũng có thể là một cái bẫy, và tốt nhất là không theo pháp môn nào cả, v́ thói quen đều có hại. Ngài khuyên người ta phải bỏ kinh sách. Về sau “ Huệ Năng Pháp Bảo Đàn Kinh” trở thành đề tài ưa chuộng trong tranh thiền. Chắc chắn Tổ Huệ Năng cũng sẽ xé cả tranh nữa, nếu ngài gặp một bức. 

Bạn đồng môn của Tổ Huệ Năng là Ngài Thần Tú có làm một bài thơ nói về một giáo thuyết của Phật Giáo rằng “ thân người  giống như cây bồ đề, tâm giống như đài gương, phải giữ cho thân và tâm được sạch bụi”. Tổ Huệ Năng cũng làm một bài thơ khác đối lại rằng “không có cây bồ đề hay tấm gương nào cả, v́ vậy không có ǵ để bám bụi trần”. Sau đó, khi ngài Thần Tú đuổi theo ngài để hỏi pháp giác ngộ, Tổ Huệ Năng nói: “ ngay lúc này, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cho ta thấy khuôn mặt của anh trước khi cha mẹ sinh ra”. 

Đó là công án đầu tiên trong số 1.700 công án làm thành khối lượng văn chương và giáo lư đặc thù của Thiền tông. Tổ Huệ Năng thật sự đă mở đầu một truyền thống. Các Thiền sư của phái Lâm Tế nói riêng đă đặt ra nhiều công án cho các đệ tử của ḿnh với mục đích là đưa họ đi xa theo khúc quanh mà họ có thể gặp được trên bước đường trở về cội nguồn tâm linh, ví dụ: - “ Hăy nghe tiếng vỗ của một bàn tay”, “ Ngừng chiếc tàu trên biển xa”, - “ Nói cho ta biết, một là ǵ ?”.

Có hàng trăm câu trả lời nổi tiếng cho những công án này, nhưng các câu trả lời này không giúp ǵ nhiều cho một đệ tử, v́ y cần phải có câu trả lời tự nhiên phát ra từ trong tâm của ḿnh, để thầy của y nghĩ là y đă thực sự hiểu và sống với công án đó. V́ vậy trong việc quán chiếu công án, hầu như trong tất cả các trường hợp, đệ tử sẽ đối diện vị lăo sư nhiều lần và y có thể mỗi lúc mỗi tuyệt vọng hơn, có thể gần như loạn trí, và cũng có khi giác ngộ bất ngờ (đốn ngộ). Thói thường, người đệ tử phải hơn một lần hoát nhiên đại ngộ. Sự kiện bao nhiêu lần đốn ngộ tùy thuộc ư chí hơn là sự thông minh của y. Các đệ tử được coi là phải trải qua khoảng 600 công án trước khi được phép lập tu viện thu nhận đệ tử riêng của ḿnh. Điều này gợi nhớ một nguyên tắc cũ của phân tâm học, đó là chính các nhà tâm phân học phải đă được phân tích tâm lư trước khi được phép hành nghề. Nghĩa là tất cả, trừ người sáng lập môn phân tâm học, ông Sigmund Freud.

TK Thích Nguyên Tạng trích dịch từ nguyên bản tiếng Anh: “ Zen Edge” của Thiền sinh Alexander Eliot, do nhà xuất bản Thames & Hudson ấn hành năm 1976 tại Anh quốc. Bản Việt dịch sẽ được Tu Viện Quảng Đức xuất bản vào mùa Phật đản năm 2006. 

 

Koans 

When Bodhidharama, the First Patriarch of Zen, came up from the south into China, the Emperor Wu sent for him and asked some questions concerning the highest good. He expected a sermon in reply, but Bodhidharma’s answer was:

‘Emptiness, and nothing holy.’

Astonished and possibly shocked by that abrupt rejoinder, the Emperor next inquired who Bodhidharma thought he was, to talk so. Bodhidharma frowned, scratched himself, and confessed:

‘I do not know.’

Cool, disappointed, Wu dismissed his guest The Imperial audience was over for that day. Later on, however, when he had given himself an opportunity to ponder what was said, Wu came to feel that Bodhidharma was no fool. He sent for the missionary again, to no avail. The Emperor’s emissaries searched far and wide, returning to report that Bodhidharma had disappeared. So poor old Wu died cooler and even more disappointed than before. “The south wind however”, as a Chinese commentator noted in the margin of his legend, still continued to blow.

The breeze blows where it chooses, they say, and when you do zazen your thoughts keep on bubbling up as usual. The point is not to pursue them. You simply sit still and watch, as it were, dimly, not seeing much in the mind’s eye. It is as if intellectual bubbles formed in the warm darkness of your gut, swirled slowly up, popped, and dissolved is nothingness. The process does not resemble the ‘free-association’ techniques developed for psychoanalysis, because it calls for no association of ideas at all, free or not free. You let thought go, and go, without pursuit, until it passes out beyond the borders of your conscious rule, and is gone like Bodhidharma from the Emperor’s court.

What Bodhidharma had chosen, in preference to court life and Wu’s queries, was to hole up in a cave for nine years, staring at stone. That cave was his soul’s womb, and he felt happy there. But finally a would-be disciple found him and managed – by sacrificing an arm, no less -  to break in on Bodhidharma’s profound meditation. This time, however, the First Patriarch himself was the one to ask questions.

‘What do you want?’ he began.

‘Peace of mind!’ was the would-be disciple’s reply.

‘Show me your mind, in that case, and I’ll pacify it.’

‘I...can’t find it now.’

‘You see? Already pacified!’

Unlike Bodhidharma’s abortive interview with Emperor Wu, this one ended happily. The one-armed would-be disciple who had failed to locate his mind on demand became the Second Patriarch of Zen. What does the legend mean? Simply that when you no longer seek, but are, then you put the worst of thirsty craving behind, and achieve peace of mind. Fair enough, but all the same you cannot altogether overcome greedy passion while in the flesh. Desire is the entire circuitry of life on this planet. You may refine your appetites no end, but you never in this world so much as begin to eliminate the subtle and all-pervasive pain of being human. Is death an answer, then?

I recently had a dream in which Bodhidharma appeared. He was floating huddle of a man, rotund, ghostly, with bulging eyes and bulbous brow. Was he grinning, or grimacing? His coarse bristling whiskers made this impossible to tell. ‘You seem to be a grown-up man,’ he whispered through the beard, ‘yet you’ve never killed anyone. How come?’

‘There is a special transmission of Zen outside killing!’ I tried to say. But, even as I spoke, a growing sense of doubt brought me awake.

Badly shaken by the dream, I none the less pursued my standard practice of starting the day with zazen meditation. To my horror, the same Bodhidharma figure which I had encountered in dream came gliding between the wall and my waking eyes. Fortunately, my instructors had warned that I might occasionally be disturbed by makyo, visions of a suspicious nature, while practising zazen. I had been told simply to ignore such apparitions. And so, religiously, if that is the word, I stared right through Bodhidharma’s image until it frayed out upon the air and disappeared.

Was that really the right thing to do? I was badly frightened for a moment or two, and afterwards less so, which indicates that the answer is yes. In retrospect, however, I would give a good deal to be able to question the figure. What did he mean about killing?

Death is no alien force, nor even a refuge, according to Buddhist philosophy. The Diamond Sutra is just one of the many sacred texts to maintain that no one person has a ‘self’ to save. No, nor anything other than self to avoid or achieve. Death is the same as birth. The Sixth and final Zen Patriarch – Hui Neng was his name – experienced both death and re-birth at one and the same instant, when he happened to overhear the chanting of the Diamond Sutra.

Yet the words themselves had meant nothing to him, Hui Neng insisted even afterwards, explaining that all doctrine is by nature dark. Even zazen can be a trap, he taught; it is best to pursue no discipline at all. Habit deadens. As for sacred texts, they ought to be destroyed, he said. ‘Hui Neng tearing up the Sutras’ was to become a favourite subject of Zen art, later on. Doubtless the old man would have torn up the pictures too, if he could.

One of Hue Neng’s many rivals once wrote a poem, a pretty little poem to maintain an old Buddhist doctrine; namely, that the human body itself resembles the bo tree beneath which the Buddha received enlightenment, that the human mind resembles a silvered mirror, and finally that both body and mind ought to be kept dust-free. Hui Neng responded to the poem with a brief, obscure and at the same time brutal blast. There is no bo tree, there is no mirror, there is nothing to dust, he objected. Soon after that exchange occurred, the priest the poet who had been Hui Neng’s rival pursued him, begging for enlightenment. Hui Neng obliged with an impossible demand:

‘At this very moment, without thinking of good or evil, show me the face you had before your parents were born!’

That was the first of some 1,700 so-called koans-meaning icy conundrums and mad commands –which now constitute the specifically Zen corpus of religious literature and instruction. Hui Neng really started something. Roshis, or Zen masters of the Rinzai sect in particular, set koan after koan to the monks in their charge. Each koan, like Hui Neng’s own, appears designed to send disciples so far round the bend that they may meet themselves on the return journey. Examples are:

‘Listen to the sound of one hand clapping.’

‘Stop the ship on the distant ocean.’

‘Tell me, what is one?’

Famous replies to these koans, and hundreds more like them, are common property. Yet these prove small help to the student, for he is required to respond from heart, spontaneously, in such a manner as to convince the roshi that he really does kushu or understand the koan to the point of living it. Therefore sanzen, as koan-work is known, almost invariably calls for of-repeated confrontations with one’s roshi, leading to ever deeper despair, near-breakdown and – on occasion – breakthrough as well. More than one breakthrough is demanded, as a rule. Just how many, depends upon the novice’s own ambition and strength of will rather than his intelligence. Roshi-trainees themselves are said to pass an average 600 koans before receiving permission to set up shop – or rather, temple – as practising roshis themselves. In this respect, Zen ethics recall the old code of psychoanalysis, according to which professionals in that field must themselves have been psychoanalysed. All but the founder, Freud, that is to say./. ^

 

 

Lời Phật dạy

TK. Tâm Thành

Ở Ấn Độ, khi những cơn mưa đầu mùa hạ bắt đầu nặng hạt cũng là lúc Tăng đoàn đệ tử Phật cùng nhau tụ họp tại một trú xứ để kiết giới an cư. Đây là một truyền thống rất quan trọng và có nhiều ư nghĩa, v́ vậy mà các đệ tử Phật luôn tôn trọng và duy tŕ một cách liên tục từ lúc Ngài c̣n tại thế cho đến ngày nay. Một mặt, kiết hạ an cư là thể hiện  ḷng tôn trọng những di ngôn của đức Đạo Sư  trước lúc Ngài nhập diệt , thể hiện ḷng từ đối với chúng sanh. Mặt khác, an cư cũng là thời kỳ để Tăng Ni và Phật từ cùng nhau họp lại để làm nhiều thiện sự.

Các bậc trưởng lăo, tôn túc gặp nhau để trao đổi những kinh nghiệm tu hành và hoằng pháp trong thời gian chín tháng du hành hóa đạo. Các đệ tử xuất gia khác cùng nhau sống hoà hợp, thanh tịnh trong thời gian ba tháng tại một trú xứ để được học tập và hành tŕ lời Phật dạy dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của những bậc Tỷ-kheo thanh tịnh và thiện xảo về giới đức, tâm đức và tuệ đức cũng như kinh nghiệm hành tŕ. An cư cũng là thời điểm mà mối quan hệ giữa hai chúng xuất gia và tại gia đệ tử Phật được thắt chặt lại, v́ đây là khoảng thời gian để chúng Phật tử tại gia thực hiện bổn phận hộ tŕ Tăng-già; đồng thời tín đồ tại địa phương cũng có nhiều thời gian được thân cận, gần gủi và tu học với nhiều bậc cao tăng thạc đức.

Khi Phật giáo truyền bá vào nhiều quốc gia, xứ sở khác nhau,  truyền thống này cũng được Phật giáo đồ mọi nơi tuân thủ một cách nghiêm túc theo đúng mùa hạ của xứ Phật, dù thời tiết của một số quốc độ không phải là mùa mưa. Do vậy, hằng năm khi biết được Tăng-già tổ chức an cư kiết hạ tại một trú xứ nào đó -ví dụ như Úc Châu, năm nay chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử an cư mùa đông tại Tu Viện Quảng Đức, tiểu bang Victoria- th́ các vị xuất gia có bổn phận vân tập về trú xứ mà đại tăng quyết định để cùng nhau tu học, ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt.

Năm nay, tôi có duyên sự sang Brisbane, thuộc tiểu bang Queensland, Úc Châu để hoằng pháp theo lời mời của Sư Cô trú tŕ  chùa Linh Sơn và một số Phật tử Brisbane đúng vào mùa an cư. Đây có thể xem là một trong những trường hợp khá đặc biệt. Lúc đầu, tôi khởi lên ư nghĩ rằng  có lẽ chư tôn đức Tăng Ni cũng sẽ thông cảm và hoan hỷ cho tôi nếu tôi không thể đến Tu Viện Quảng Đức để tu học cùng Tăng-ǵa v́ một số khó khăn chủ quan cũng như khách quan. Với tâm niệm như thế, tôi yên tâm để làm Phật sự tại Brisbane.

Tuy nhiên, một hôm, trong lúc soạn đề tài “Ư Nghĩa Giới Luật” để giảng cho Phật tử, tôi đọc được mẫu chuyện sau đây giữa đức Phật và tôn giả Kiếp Tân Na trong Yết Ma Yếu Chỉ.

Vào một thuở nọ, tôn giả Kiếp Tân Na đang lưu trú tại một nơi thanh vắng. Nhân ngày bố-tát thuyết giới, tôn giả khởi lên ư nghĩ rằng ḿnh vốn là người tŕ giới thanh tịnh th́ sự lắng nghe thuyết giới xem ra không cần thiết lắm. Biết được ư nghĩ này của tôn giả, đức Phật đích thân đi đến khu rừng nơi Kiếp Tân Na đang sống và nói với tôn giả rằng: “Này Kiếp Tân Na, quả thật điều ngươi nghĩ, dù ngươi có đến nghe thuyết giới hay không nghe thuyết giới  th́ ngươi vẫn là người tŕ giới thanh tịnh bậc nhất. Nhưng này Kiếp Tân Na, đối với việc thuyết giới ngươi phải cung kính tôn trọng và chấp hành. Nếu ngươi không cung kính, tôn trọng và chấp hành th́ c̣n ai sẽ là người cung kính, tôn trọng và chấp hành sự thuyết giới.”

Sau khi đọc xong câu chuyện này, tôi nhận ra sự sai lầm trong suy nghĩ của ḿnh, bởi v́ nếu chính tự thân tôi không cung kính, tôn trọng và thực hành lời Phật dạy th́ làm sao quư Phật tử có thể lắng nghe những ǵ tôi đang tŕnh bày và chia xẻ với họ.

Quả thật, lời dạy này vô cùng quan trọng và cần được chuyển hoá vào đời sống hàng ngày của hàng đệ tử Phật, xuất gia cũng như tại gia, đặc biệt là trong hoàn cảnh xă hội hiện nay. V́ chính nếp sống như pháp, như luật của người con Phật sẽ là những bài pháp hùng hồn, chuyển hoá tinh thần từ bi và trí tuệ của đức Phật vào cuộc đời, vốn đang bị lối sống vật chất thực dụng làm xói ṃn các truyền thống đạo đức, tâm linh của nhân loại. Nếu không, chỉ nói về, chỉ lư thuyết, chỉ mơ ước th́ ảnh hưởng của Phật pháp không những rất ít, mà lắm khi lại phản tác dụng. 

Tu Viện Quảng Đức, Năm Giáp Thân-2004 ^

 

 

Tu Viện Quảng Đức

Kính tặng Thầy Tâm Phương, Thầy Nguyên Tạng

 

Thầy phát nguyện tinh tấn chí công.

Tâm Thầy bàn bạc tựa Pháp vân

Phương Trượng Linh Sơn thật tuyệt trần

Xây dựng điểm tô nền chánh pháp

Tu hành chơn chất để đền ân

Viện hoằng đạo cả truyền thừa măi

Quảng chi mệt nhọc khó muôn phần

Đức hạnh rồi đây đời ghi nhớ

Đại Tạng Kinh văn ngộ pháp thân

Già trẻ gái trai thầm nể phục

Lam lũ an bần dạ Thánh nhân.

TK. Thích Tịnh Minh ^

 

 

 

Hương Sen Mùa Hạ

 

TK. Viên Trí

 

Viết tặng quư Phật tử tại Tu Viện Quảng Đức

nhân Mùa An Cư năm Giáp Thân-2004

Mùa kiết đông an cư đă về tại Úc châu. Trong mấy ngày qua, Tu Viện Quảng Đức, thành phố Melbourne, ngập tràn câu kinh tiếng kệ. Tăng ni và Phật tử tham dự khoá tu luôn y áo chỉnh tề nghiêm tŕ lời Phật dạy. Các buổi pháp đàm, pháp thoại không những luôn âm vang trong bầu trời giá lạnh ở đây, mà c̣n vọng đến những vùng đất xa xôi như châu Âu, châu Mỹ qua phương tiện internet. Không khí trang nghiêm và ấm cúng qua các thời khóa tụng kinh, ngồi thiền, nghe pháp, vấn nghi... đă thật sự đem đến lợi ích và an lạc cho số đông. Việc duy tŕ truyền thống đúng pháp này của Tăng-ǵa Phật giáo Úc Châu trong chừng mực nào đó đă làm yên ḷng cho giới Phật tử tại gia trung kiên với đạo. Bên cạnh đó, cuộc sống đạo vị này ắt cũng sẽ là chất kích tố đối với ai đang có cảm t́nh với Phật giáo. Quả thật, tại ngôi chùa Việt Nam này, một lần nữa, lời dạy: “Giới Luật là thọ mạng của chư Phật” lại được tứ chúng đệ tử của đức Phật tôn kính và thực hành. Chắc chắn những ai tham gia trường hạ này mà thanh tịnh giới luật của Phật chế sẽ là những bông hoa tươi đẹp, tỏa hương khắp mọi chân trời, như kinh Pháp Cú đă dạy:

“Hương thơm các loài hoa, chỉ ngược bay chiều gió,

Hương thơm người đức hạnh, toả ngát khắp muôn phương, Hương thớm bậc chân nhân, tung bay mọi chân trời”

Tuy nhiên, một h́nh ảnh khiến tôi xúc động và lưu ư nhiều nhất trong thời gian tu tập tại đây là hạnh tu thầm lặng của một số Phật tử trong ban ngoại hộ, gồm các tiểu trai soạn, hành đường, y tế, âm thanh ánh sáng, vệ sinh, vận chuyển, v.v... Cần lưu ư rằng số Phật tử này không chỉ là thường trú nhân tại Melbolurne hay tiểu bang Victoria, mà c̣n có những thiện nam, tín nữ đến từ Sedney, Adelaide, thậm chí Darwin, cách đây gần 5.000km, và có cả một đệ tử đến từ Philadelphia, Mỹ quốc... Họ bao gồm cả người Việt Nam lẫn người Úc. Đây là những con người phải thức khuya dậy sớm, gánh vác mọi trách nhiệm nặng nề, khó nhọc để chăm lo từng buổi ăn cho đại chúng hơn cả 100 người, lo sức khoẻ cho trường hạ, lo chăn áo mền chiếu cho toàn bộ khoá tu, lo săn sóc bệnh tật cho từng thành viên, đón đưa chư tôn đức tăng ni và tín đồ từ các tiểu bang khác tại nước Úc về dự khoá hạ an cư; bất kể ngày đêm sáng tối, bất kể thời tiết buốt giá khắc nghiệt của thành phố Melbourne. Quan sát công việc trong một ngày một đêm của trường hạ mới hiểu được tấm ḷng hộ tŕ Phật Pháp của họ. Chính sự hy sinh thầm lặng này đă giúp cho đạo tràng an cư kiết hạ luôn được thanh tịnh, khiến chư tăng ni Phật tử thân tâm thanh thản, thư thái, tập trung toàn bộ tâm ư vào việc hành tŕ Phật pháp.

Dù biết rằng đây cũng là một hạnh tu mà hành giả sẽ cảm nghiệm được nhiều hỷ lạc khi trực tiếp thấy rơ kết quả phục vụ của ḿnh v́ an lạc và hạnh phúc của tha nhân. Nhưng đây không phải là công việc mà ai cũng có thể làm được, không phải là một thiện hạnh mà ai cũng có thể sẵn sàng phát tâm, đặc biệt là số người đang độ tuổi trung niên, thường nghĩ đến lợi ích của lănh vực vật chất nhiều hơn là tâm linh. Mật hạnh này thật sự xứng đáng được cúi đầu lễ bái. Chính v́ thế mà trong lễ chúc tán, sám hối hằng tháng của Tăng Ni Việt Nam có câu: “Đệ tử chúng con nay v́ ân đức của những người đang phục vụ tại già lam tự viện, nhất tâm đảnh lễ Thập Phương Thường Trú Tam Bảo” .

Chắc chắn công đức này đang kết tụ thành đám mây lành, ngát thơm hơn cả hương sen mùa hạ, xứng đáng dâng cúng chư Phật trong mười phương nhân mùa An cư của Tăng đoàn Phật giáo trên mọi quốc độ./. ^

 

Pháp âm mầu nhiệm

 

Thích Phổ Huân

Thật là nhiệm mầu sự kiện lưu truyền pháp âm của đức Phật! Ngày nay chúng ta được duyên đọc xem kinh điển giải thoát, đâu ngờ rằng đó lại một đại thắng duyên không thể tưởng tượng được. Nhân mùa An Cư Kiết Đông năm nay, trong bài giảng của Ḥa Thượng thượng Huyền hạ Tôn chúng tôi lại càng thấm thía ư nghĩa đại duyên của sự kiện lưu truyền kinh điển này.

Chúng tôi xin được chia xẻ niềm sung sướng, cảm khái về nhân duyên được làm người mà nghe, hiểu được phần nào sự mầu nhiệm kỳ đặc khi kinh điêån giải thoát xuất hiện sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, nhất là bộ kinh Lăng Nghiêm mà trong bài giảng của Ḥa Thượng nói đến.

Phật tử chúng ta thường biết là Tam Tạng Kinh Điển (Kinh, Luật, Luận) ngày nay có được, là do công sức lớn lao của chư vị cao Tăng ngày xưa cố giữ lưu truyền. Nhưng không thể một quốc gia nào lại tự nhiên có được lượng kinh điển khổng lồ như vậy. Quốc gia đó dù phước báo nhân duyên đến đâu, sự thể cũng phải đ̣i hỏi bao người hy sinh đời sống cá nhân, hy sinh cả đến tánh mạng, mới có thể đưa vào lượng kinh vĩ đại như vậy. Ở Trường Hạ chúng tôi không có thời gian, không đủ phương tiện, nên không thể t́m kiếm tài liệu nói về lượng kinh điển đă lan tràn ra khỏi Thiên Trúc (Ấn Độ) rơ nét như thế nào, và quốc gia nào mang được những kỳ tích thỉnh kinh ra sao, chúng tôi chỉ nói lên được cảm nghĩ bằng vài h́nh ảnh mà chúng tôi có thể suy nghĩ được.

Hiểu biết của người Phật tử Việt Nam chúng ta về kinh điển bằng quốc ngữ là hoàn toàn nhờ vào gia tài kinh điển của Trung Hoa. Cho nên sự hiểu biết về truyền tích nhập kinh vào quốc gia này th́ chúng ta thường quan tâm muốn biết.

Nhưng ở Trung Hoa không phải chỉ một Ngài Huyền Trang hay một vài vị sau Ngài mà có thể làm giàu gia sản kinh điển như hiện nay. Tuy nhiên Phật tử Trung Hoa và Phật tử Việt Nam chúng ta không thể không tri ân kính lễ quư Ngài, v́ quư Ngài đă hy sinh tất cả để góp phần rất lớn trong việc khởi đầu lập nên Đại Tạng Kinh ngày nay. Tất nhiên các Ngài là những vị cao Tăng, mà đạo Phật là đạo du nhập vào Trung Hoa, cho nên phải có các vị cao Tăng hơn nữa từ Thiên Trúc đi vào mở ra một đại duyên, cho những nhân duyên theo sau huân trưởng, mà việc thỉnh kinh nhập kinh có được là từ duyên khởi này. Chư vị cao Tăng Thiên Trúc đă vượt qua một chặng đường rất dài, với tâm nguyện mang pháp giải thoát lưu truyền cho thế gian; và đất nước Trung Hoa là cứ điểm mà các Ngài nhắm vào như một điểm sáng cho Phật giáo khởi đi từ đó. Đúng như vậy, sau khi hạt giống Bồ Đề đă đủ duyên nẩy mầm, lớn mạnh th́ chư vị cao Tăng Trung Hoa lại hoằng truyền đến các nước lân cận khác, cũng như khi các nước láng giềng có duyên học hiểu Phật pháp, liền cữ người đến Trung Hoa học kinh, thỉnh kinh, hầu làm giàu giáo pháp ngày càng lan rộng ra.

Khi chư vị cao Tăng Thiên Trúc du hành lộ tŕnh từ Ấn đến Trung Hoa, trải qua đoạn đường xa như vậy, hẳn các Ngài không thể đem được nhiều kinh điển, v́ điểm đến đích chỉ là dọ dẫm, khám phá, chứ không phải như Ngài Huyền Trang thỉnh kinh trở ve,à tận dụng hết mọi phương tiện chuyên chở kinh điển. Như thế chự vị Tăng sĩ Thiên Trúc mang sứ mạng hoằng pháp phải có bản lănh, phải có kinh nghiệm, phải có trí nhớ và phải có tất cả, vượt xa khả năng của phàm nhân, mới khả dĩ  đến một quốc thổ xa lạ không cùng ngôn ngữ, nói lên một giáo lư “lội ngược ḍng đời”! Vậy chư vị đó là ai ?  Để có thể làm được việc phi thường như thế? Xin thưa chư vị là Thánh Tăng. Chỉ có Thánh Tăng chứng quả mới có thể vượt qua bao khó khăn hiểm trở trên đường đi; chỉ có Thánh Tăng chứng quả mới nói được một giáo pháp “ngược ḍng” vào thế gian nhiễm ái, trong một đất nước xa lạ; và chỉ có Thánh Tăng mới tự tại với ngôn ngữ, trong một thời gian quá ngắn, để chẳng những học trôi trải mà c̣n trở thành các nhà dịch thuật tuyệt vời.

Tới đây chúng ta có thể nghĩ rằng, nếu thật các Ngài là Thánh Tăng, th́ khó tránh được việc người ta thắc mắc; đó là v́ sao chư vị không nhắc ghi lại hết toàn bộ kinh, mà phải để chư vị bổn xứ (Trung Hoa) làm cuộc thỉnh kinh gian nan như thế? Như là Ngài Huyền Trang vậy! Chúng ta chắc chắn nghĩ rằng Ngài Huyền Trang phải là Thánh Tăng, và chư vị Bồ Tát Thánh Tăng thường dùng mọi phương tiện thiện xảo độ sanh. Phương tiện thỉnh kinh của Ngài Huyền Trang chẳng phải là Bồ Tát th́ ai làm nỗi? Cho nên Ngài phải là Thánh Tăng. Thiết nghĩ chúng tôi không cần nói lên sự gian nan mà Ngài Huyền Trang phải trải qua, và sự gian nan như vậy chỉ có Thánh Tăng mới vượt qua nổi. Cũng không khác chư vị Thánh Tăng Thiên Trúc, Ngài Huyền Trang không một trở ngại ǵ ngôn ngữ!

Như vậy chúng ta chưa phải là Bồ Tát, chưa chứng đạo nên chưa hiểu được phương tiện độ sanh của chư vị. Hay ta có thể đoán rằng, chư vị Bồ Tát phải thị hiện một h́nh ảnh Đại sư Huyền Trang thỉnh kinh khó khăn như vậy, mới để lại dấu ấn đẹp của lịch sử truyền thừa Phật pháp!

Trong bài thuyết tŕnh của Ḥa Thượng (Huyền Tôn), chúng tôi lại được nghe việc xuất hiện bộ kinh Lăng Nghiêm vô cùng kỳ lạ và nhiệm mầu! Ngày nay t́m bộ kinh Lăng Nghiêm để đọc, thật là chuyện dễ trước mắt, thậm chí cả người không phải là Phật tử nếu muốn t́m cũng c̣n dễ. Và ngày ngày người tu sĩ Phật Giáo Việt Nam theo truyền thống Bắc Tông hầu như đều đọc chú Lăng Nghiêm mỗi buổi sáng, cũng chẳng để tâm t́m hiểu làm ǵ, ai đă mang kinh Lăng Nghiêm ra khỏi Thiên Trúc, và việc thỉnh bộ kinh này sự t́nh ra sao ?

Buổi thuyết tŕnh của Ḥa Thượng cho biết rằng, kinh này được Ngài Long Thọ thỉnh tại Long Cung và thỉnh qua h́nh thức đọc “trộm”, ghi hết vào tâm, chứ không thể có bộ nào dư để mượn! Việc này nghe qua khiến phải suy nghĩ! Thứ nhất làm sao Ngài xuống được Long Cung? Thứ hai làm sao đọc “trộm” mà nhớ hết? Trả lời nghi vấn trên thế nào, thiết nghĩ không bằng sự kiện phi thường sau khi bộ kinh được mang về đất liền rồi trở thành quốc bảo, để rồi xuất hiện Ngài Bát Lật Mật Đế khởi đại bi tâm muốn tiết lộ đến mọi người bộ kinh này, mà phải xẻ thịt nhét bỏ vào thân. Bộ kinh được viết lên vải lụa thật mỏng, thật nhỏ trong mọi cố gắng để đủ không làm hư hoại kinh và hư hại thân. Việc làm này nghe qua hết sức kính phục và cảm động ḷng hy sinh cao cả của Ngài. Cuối cùng kinh được mang ra khỏi nước, nhập vào Trung Hoa. Đến đây lại một lần khó khăn lấy kinh ra; tưởng không c̣n đọc được, v́ lâu ngày máu mủ thấm nhiễm vào vải lụa. Nhưng mầu nhiệm của chân lư, mầu nhiệm của Phật pháp, để cuối cùng tất cả đă được ghi lại, sao lại y như nguyên bản. 

Ḥa Thượng cho biết, thời gian nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm Thầy đă đọc duyệt qua nhiều kinh; biết được rằng khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Phật chọn dạy một số Bồ Tát cần phải trụ lại Ta Bà, hoằng truyền đạo pháp đợi đến ngày Phật Di Lặc ra đời th́ tiếp tục độ sanh. Tất nhiên khi thời kỳ mạt pháp đến tận cùng th́ các Ngài chỉ lánh mặt chứ không phải biến mất. Cho nên Ḥa Thượng khẳng định hiện thời một số Bồ Tát được Phật chỉ dạy mang trách nhiệm hoằng pháp, hiện vẫn c̣n đang làm nhiệm vụ hoằng pháp. Tuy nhiên rất khó mà chúng ta biết được nơi đâu có mặt các Ngài, và các Ngài đang là ai ?? Như vậy trở lại vấn đề Ngài Long Thọ xuống được Long Cung, đọc kinh ghi được hết vào tâm, đă được trả lời; v́ Ngài phải là trong số Bồ Tát được Phật dạy làm trách vụ hoằng truyền Phật pháp. Nói thẳng ra đă chứng đạo tất sẽ tự tại vô ngại mọi chướng duyên vật chất.

Tóm lại ngày nay người Phật tử chúng ta vô cùng hữu duyên, không phải trả một giá đắc nào, không phải tổn hại chi, và cho đến không chút mệt nhọc phí công khi muốn làm chủ một quyển kinh, một quyển sách luận Phật pháp nào. Ngày nay phương tiện truyền h́nh, truyền thông, tin học lại tăng thêm phương tiện dễ dàng t́m học Phật pháp, và ngày nay có lẽ cả đến người không biết đạo Phật cũng c̣n nghe và biết được Phật pháp. Tuy nhiên dù thế nào đi nữa, Ta không thể không nhớ về những sự kiện nhiệm mầu ngày xưa mà chư Tổ đă thị hiện giữ và lưu truyền kinh điển đến ngày nay. Sự thị hiện các Ngài qua mọi h́nh thức khác nhau cũng chỉ là phương tiện quyền xảo thể hiện ḷng từ bi nối tiếp con đường của Phật.

Do vậy, nếu ta ngày nay gặp được hữu duyên dễ dàng t́m đến kinh điển, th́ ta nháát định phải ghi tâm niềm tri ân kính mộ người xưa. Không phải v́ ta đă có duyên Phật pháp trong tiền kiếp nên kiếp này tự hào cho đó là nhân quả tốt như vậy. Nhưng từ đây cũng là nhân quả ngược lại, nếu ta chẳng ư thức điều nhiệm mầu huyền diệu của nhân duyên t́m thấy được kinh; ta sẽ chẳng phát được Bồ Đề Tâm, chẳng thể tiến xa trên đường học Phật.

Tư duy, suy nghĩ được vậy, th́ tất cả Phật tử hai giới xuất gia, tại gia không những t́m được kinh điển qua h́nh sắc cụ thể, mà c̣n giác ngộ được ư nghĩa chân kinh nhiệm mầu, đó mới là quyển kinh vô ngôn, vượt khỏi nhị biên đối đăi.

Mùa An Cư Kiết Đông tại Tu Viện Quảng Đức năm 2004. TPH. ^

 

Tinh thần Quảng Đức

 

Bốn mươi năm trước

Một chín sáu ba (1963)

Lửa Quảng Đức

Thắp sáng cơi u minh

Thiêu rụi cường quyền phiền năo

Để lại trái tim bất diệt

Làm, rung chuyển ḷng người

Năm nguyện vọng thành công

Phật giáo Việt Nam

Gom về một mối

Nền Phật Giáo Thống Nhất ra đời

Đem chân lư rạng ngời

Sáng soi bao tăm tối

Dẫn lối về cho lắm kẻ vô minh

Bốn mươi năm sau

Hai ngàn không trăm linh ba (2003)

Thượng Tọa Thích Tâm Phương

Khánh thành Tu Viện

Tôn danh Quảng Đức

Nối tiếp hành trạng của Ngài

Khai sơn chùa trên đất Úc

Tiếp Tăng, độ chúng

Hoằng hóa lợi sanh

Tùng duyên sự nầy

Phật giáo Việt Nam khắp thế giới

Gồm chư Tôn Đức Tăng Già

Cùng toàn thể Phật Giáo đồ

Đại Hội bất thường

Suy tôn Ngài Trưởng lăo Huyền Quang

Ngôi đệ Tứ Tăng Thống

Và Hội Đồng Lưỡng Viện

Cũng tại Quảng Đức Tu Viện

Truyền thống phương tiện

“Điện tử thư viện”

Đại Đức Nguyên Tạng

Vinh danh Ngài măi măi

Bằng trang Web quang duc com.

Thông tin đức truyền pháp âm

kHắp thâm sơn, cùng cốc

Và từ đây

Phật Giaoviệt Nam

Chuyển ḿnh vươn tới

Rộng tỏa năm châu

Tăng già ḥa hợp

Hoằng dương chánh pháp

Và hôm nya, lại một lầu nữa.

Tại châu đại dương nầy

Tu viện Quảng Đức

Là đạo tràng An Cư tứ chúng

Tiếp theo chân Phật

Nối được truyền thừa

Tăng già thanh tịnh

Giáo hôi trang nghiêm

Muôn hướng một  ḷng

Hiệp tâm nhất ư

Hơn sáu mươi Tăng Già ḥa hợp

Y vàng rực rỡ

Bảy chục áo lam, ṭng chúng tập tu

H́nh ảnh tuyệt vời

Muôn đời ngời sáng

Lịch sự thêm trang

Tinh thần Quảng Đức

Kỹ niệm mùa An Cư Kiết Đông. 2004

Thích Viên Thành ^

 

 

Tùy Duyên Bất Biến

Thích Nhuận Chơn

Cư trần lạc đạo khả tuỳ duyên

Cơ tắc san hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

(Ơû đời vui đạo hăy tuỳ duyên

Đói ăn khát uống, mệt ngủ liền

Của báu trong nhà không t́m kiếm

Đối cảnh vô tâm chế hỏi thiền)

(Trần Nhân Tông)

 

 Tất cả chúng ta đang sống trong cơi diêm phù này vui ít khổ nhiều, trầm luân trong bể khổ.  T́nh trạng chiến tranh, khủng bố đang tiếp diễn ngày càng mạnh, luôn luôn đe dọa và ŕnh rập cướp đi mạng sống của chúng ta. Đó là thảm cảnh đă, đang và sẽ xảy ra trên trần gian này.

Đức phật dạy: “Tuỳ duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên”. Đó là nguyên lư vô cùng cao thâm của Phật giáo. Đạo Phật tồn tại theo thời gian, không biến hoại theo không gian là do đạo Phật vượt qua cả không gian lẫn thời gian, không bị thời gian và không gian thay đổi, cũng là do thực hành theo nguyên lư này “tuỳ duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên”. Bởi v́, đức Phật chủ trương con đường trung đạo, nghĩa là không buông lung phóng dật và cũng không quá khắc khe với chính ḿnh, mà phải sống đời sống tự tại giải thoát. Không bị bất cứ dục lạc nào trên thế gian cám giỗ.

Không phóng dật đường sống
Phóng dật là đường chết
Không phóng dật không chết
Phóng dật như chết rồi”
KPC21

Đối với những ai sống đời sống bung lung, phóng dật th́ người ấy tuy c̣n sống nhưng đă chết rồi, nhưng những ai sống khổ hạnh quá cũng không được. Chúng ta thử lấy cuộc đời đức Phật làm minh chứng. Khi Ngài c̣n là thái tử, sống trong hoàng cung đầy đủ dục lạc thế gian, nhưng Ngài không hưởng thụ mà bỏ đi t́m chân lư. Đến lúc vào rừng sống đời sống khổ hạnh, cũng không t́m ra ánh sáng chân lư. Ngài bèn quyết định từ bỏ lối sống khổ hạnh và t́m đến cội bồ đề thiền định suốt 49 ngày đêm và t́m ra ánh sáng chân lư. Tức là đạt đến vô thượng bồ đề. Do vậy, Ngài dạy các tỳ kheo hăy từ bỏ đời sống dục lạc thế gian và cũng không nên t́m lối sống khổ hạnh, mà phải thực hành theo con đường trung đạo.

Trần Nhân Tông đánh bóng con đường trung đạo của đức Phật qua bài thơ này.

Ở đời vui đạo hăy tuỳ duyên
Đói ăn khát uống mệt ngủ liền

Chuyện ăn, uống, ngủ, nghỉ là chuyện thường t́nh của nhân thế. Tuy thường nhưng chẳng phải thường. Biết bao nhiêu ngựi v́ miếng ăn mà anh em bất hoà, biết bao nhiêu người v́ miếng ăn mà tán gia bại sản, biết bao nhiêu người v́ miếng ăn mà nước mất nhà tan v.v... cùng là v́ miếng cơm manh áo mà ra. Chiến tranh xảy ra cùng là giành ăn đó mà thôi, nhiều người sống không có cơm ăn áo mặc, nay đây mai đó cùng v́ miếng ăn đó mà thôi. Vậy thử hỏi ai dám tuyên bố rằng chuyện ăn uống ngủ nghỉ là chuyện nhỏ, là b́nh thường. Đối với người Phật tử sống theo lối sống phạm hạnh, th́ xem những chuyện ấy b́nh thường, v́ họ thực hành theo lời dạy đức Phật, sống đời sống tri túc.

“Tri túc tiện túc, đăi túc hà thời túc
Tri nhàn tiện nhàn, đăi nhàn hà thời nhàn”

Người biết đủ th́ dầu có nằm trên đất cũng thấy an nhàn, người sống không biết đủ th́ dầu có ở trên thiên đàng cũng vẫn thấy thiếu. Do đó, có sự khác nhau rơ rệt giữa người sống phạm hạnh và người sống đời sống không phạm hạnh, người hiểu đạo và người không hiểu đạo. Đối với người sống phạm hạnh th́ mặc cho thế gian vô thường, sinh tử sự đại, đứng trước sự hỷ, nộ, ái, ố của thái thế nhân t́nh th́ vẫn giữ b́nh thản tâm hồn, không bị giao động bởi vật chất và dục lạc thế gian. Do vậy tăng đoàn đức Phật luôn coi trọng, xiển dương đời sống phạm hạnh.

Chính vật chất thế gian làm cho con người ta đau khổ, trầm luân. Đức phật dạy rằng hăy từ bỏ những lợi dưỡng thế gian, mà hăy quay về sống với nội tâm, quay về với thế giới nội tại vô cùng quư giá mà chúng ta đă hằng quên. Tức là chơn tâm thường trú vắng lặng trong chúng ta.

Của báu trong nhà không t́m kiếm
Đối cảnh vô tâm chế vấn thiền

Đức Phật dạy: “này các tỳ kheo, hăy tự ḿnh thắp đuốc, thắp lên với chính ḿnh đừng thắp lên với một pháp nào khác. Hăy nương tựu chính ḿnh, đừng nương tựu một pháp nào khác”. V́ chính chúng ta mới quyết định được đời sống của chúng ta mà thôi. Ngài cũng không ép buộc bất cứ một người nào tin và nghe theo Ngài. V́ nếu tin Phật mà không hiểu Phật nghĩa là đồng thời huỷ báng Phật vậy.

“Tự ḿnh y chỉ ḿnh
Nào có y chỉ khác
Nhờ khéo điều phục ḿnh
Được y chỉ khó được” 
KPC 160

Người Phật tử đối với việc khen chê, chỉ trích, công kích, đả phá chúng ta không vội tin theo mà phải suy xét tường tận rồi mới tin. Nếu như người Phật tử mà mê tín th́ không phải là Phật tử chơn chánh, người Phật tử cần phải chánh tín. Đối với sự khen chê, yêu thương, ganh ghét là chuyện thường t́nh của người đời, chúng ta không v́ khen mà vui, chê mà buồn, mà phải giữ tầm hồn trong sạch và t́nh tĩnh khi đối diện với nó. Không nên tin vào những ǵ dù đó là những chuyện được người đời tin theo, không tin vào điều ǵ dù đó là điều của vĩ nhân ở đời, không tin vào điều ǵ dù đó là của bậc thánh nhân để lại, mà phải tin vào điều ǵ chúng ta hiểu và đem lại lợi ích cho ḿnh và cho người.

“A tu la nên biết
Xưa vậy nay cũng vậy
Ngồi im bị người chê
Nói nhiều bị người chê
Nói vừa phải bị chê
Làm người không bị chê
Thật khó t́m ở đời” P
C 227

 Ngày xưa vua Đường Thái Tông hỏi Hứa Kính Tôn rằng: trẫm thấy ngươi đâu phải là phường sơ bạc mà sao lại bị tiếng thị phi chê ghét như thế.

Hứa Kính Tôn trả lời: tâu bệ hạ: trời mưa tầm tă người nông phu vui mừng cho ruộng đất được tốt tươi, thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét v́ đường trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng phường đạo chích lại ghét v́ ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn mưa nắng của thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương, c̣n hạ thần cũng đâu phải người vẹn toàn th́ làm sao trách khỏi tiếng thị phi chỉ trích. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc c̣n hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.

Qua đó chúng ta thấy được rằng người Phật tử không được chê bai chỉ trích ai, mà cũng không nên tin theo những lời thị phi chỉ trích của thế gian. Chúng ta giữ được tâm ư trong sạch, b́nh thản trước những khen chê, thành bại. Thế mới xứng đáng là người Phật tử. Chúng ta phải có niềm tin vững chắc mới có thể vượt qua những chướng ngại của cuộc đời, có những trở ngại mà vượt qua th́ những việc làm của chúng ta mới tăng phần giá trị. Và phải tự chiến thắng với chính ḿnh đừng để trần gian mê hoặc.

Ví như đường đời bằng phẳng cả
Anh hùng hào kiệt có hơn ai
^

 

Giới luật là thọ mạng của chư Phật

TT Thích Bổn Điền 

Ư niệm về Luật là ư niệm về một tổ chức, một chính quyền, một xă hội.

Khi ư niệm về Luật và Pháp, th́ chính tự trong nó đă mang một ư niệm về quyền lực và bạo lực, hai ư niệm đó không thể tách ĺa nhau được, như bóng và h́nh.

Một đạo luật hay sắc luật của một nhà nước hay tôn giáo được ban hành, th́ tự nó đă buộc một cá nhân hay tập thể có liên hệ phải thi hành những điều luật đó; nếu cá nhân hay tập thể không tuân hành theo, th́ cá nhân hay tập thể đó sẽ bị khiển trách, cảnh cáo phạt vạ, cách chức, bỏ tù. Nếu cá nhân hay tập thể đó không tuân thủ th́ sẽ phải dùng đến quyền lực và bạo lực để chế tài đối tượng đó.

Tất cả những h́nh thái của các tập thể tôn giáo hay chính quyền đều dựa vô quyền lực và  bạo lực để bảo vệ và duy tŕ chính thể hay tổ chức tôn giáo của họ.

Đức Phật đến với cuộc đời trong tư cách của một con người, tự ḿnh đi t́m một phương pháp hóa giải những trói buộc cuộc đời, Ngài không nêu danh một đấng quyền năng ban phước giáng họa.

Trong tất cả lời dạy của Đức Phật đều hàm chứa tính tự ư thức và trách nhiệm. Do giới luật của Đức Phật dạy chúng ta, nó có tính tự nguyện, không mang tính bắt buộc, quyền lực hay bạo lực trong đó. Bởi v́ theo quan niệm đạo Phật, nếu dùng quyền lực để duy tŕ Phật pháp th́ chỉ giữ được cái xác khô của Đạo chứ không chuyển tải được chất liệu sống đạo bên trong, th́ sự tồn tại đó cũng không đem đến sự ích lợi thiết thực cho con người là chúng sanh. Giữ ǵn giới hạnh, ư thức trách nhiệm nơi tự thân của mỗi chúng ta chính là làm cho mạng sống Phật pháp tồn tại dài lâu nơi cuộc đời này.

Sự sống của Đạo Pháp mà Giáo Hội, không cần đến một sức mạnh hay thậm chí mang tính Giáo quyền trong ngôi nhà Phật pháp. V́ những ư niệm về quyền lực hay Giáo quyền đó, không mang lại sự b́nh yên, an lạc, mà nó là mầm móng của bạo động, và hận thù. Từ bi, t́nh thương yêu, ư thức trách nhiệm và bổn phận nơi mỗi tự thân là những yếu tố không thể thiếu trong sự duy tŕ và tồn tại mạng mạch Phật pháp.

Như vậy, ư niệm giới luật trong đạo Phật không mang tính bắt buộc, nghiêm trị, mà nó mang tính tự nguyện, nhân quả, khuyên văn, ư thức tự chuyển hóa nội tâm trong mỗi chúng ta. Do đó, giới luật mà đức Phật dạy cho chúng ta, nó chỉ có giá trị, khi mỗi trong chúng ta chấp nhận tuân phục trong tinh thần tôn trọng và sẽ không có giá trị đối với những người không cảm nhận được ư nghĩa đích thực của giới luật.

Mùa Kiết Đông tại Tu Viện, 2004 ^

 

 

Châu viên một đóa tinh anh mỉm cười

TT Thích Nhật Tân
Cảm tác sáng chủ nhật, 11-7-2004 Nhân Mùa An Cư tại Quảng Đức

 

 An Cư Kiết Hạ

Đức Phật đă chế từ xưa đâu có lạ

Tăng Đoàn câu hội, thất chúng đồng tu

Con đường tu, không lẽ chỉ tu mù

Tu mà không học th́ làm sao tu được?

Đường sinh tử đă mang nhiều uế trược
Nghiệp chúng sinh, vốn triền phược trầm luân

Mỗi vào ra, đày đọa biết bao lần

Không tỉnh ngộ hồi đầu, chi cho khổ!!!

An Cư Kiết Hạ

Đức Phật đă chế ra từ độ

Chuyển pháp luân vi diệu tại vườn nai

Đến hôm nay, hai mươi sáu thế kỷ dặm dài

Thuyền bát nhă, tam thừa đăng bỉ ngạn

Aùnh đạo huy hoàng

Muôn đời tỏa rạng

Đệ tử hàng hàng

Quy bóng từ quang

Thượng cầu Phật đạo

Hạ hóa cưu mang

Đó mới là bản hoài của ba đời chư Phật

An Cư Kiết Hạ,

Vạn vật duy tâm

Vạn pháp quy nhất

Ta hỏi người nghe:

Một là tất cả

Tất cả là một

Thấu triệt, nhận chân, cho cùng, cho tột

Quy nhất là một

Vây th́, một sẽ đi về đâu ???

Núi cao gối tựa kê đầu

Cùng ngưu ḥa thể, kiếm trâu lầm ǵ!

Ánh trăng, đă thấy, hỏi chi

Nh́n tay, lại hỏi, đến -  đi, gậy nầy !!!

Đạo mầu, không đó không đây

Pháp thân tự thể, không này không kia

C̣n không, một giọt sương khuya

C̣n không, một tiếng chuông, ĺa điểm canh

An Cư Kiết Hạ trong lành

Châu viên một đóa tinh anh mỉm cười.

^

 

 

An Cư nơi Chùa Quảng Đức

 

Chùa là xứ sở của dân ta

Chùa giữa thành đô nghĩa đậm đà

Chùa rắc niềm tin cho nhân loại

Chùa gieo hạnh phúc khắp gần xa  

Tu Viện Quảng Đức là một ngôi chùa Việt vừa rộng lớn, vừa trang nghiêm, có thể nói đây là ngôi chùa mang nhiều nét đặc thùa của văn hóa, quê hương mà tôi được chiêm ngưỡng ở xứ người.

Hôm nay, mùa An Cư được được Giáo Hội tổ chức tại đây. Thật là một phúc duyên lớn cho chúng tôi có được nơi an cư đầy đủ phương tiện. Sáng nay, một buổi sáng mùa Đông, mặc dù tiết trời lạnh buốt, nhưng ánh nắng ban mai toả chiếu những tia nắng thật ấm áp. Chư tôn Đức Tăng Ni cùng Phật tử, đều vân tập đông đủ  tại đạo tràng để kiết giới. Phải chăng đây là truyên thống tam ngoạt hạ an cư mà ngày xưa đức Thế Tôn đă chế.

Tôi c̣n nhớ trong luật đức Phật có dạy rơ v́ sao phải kiết hạ an cư. Nguyên nhân là do lục quần Tỳ kheo vào thời Phật c̣n tại thế, những vị này ở trong tất cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông đều dạo đi trong nhân gian.

Các cư sĩ thấy vậy chê rằng: “Chúng tôi thấy hàng ngoại đạo c̣n biết ba tháng an cư, cho đến loài chim muông đều có hàng tổ để nghỉ ở, là đệ tử Phật mà không cấm túc an cư ở trong tất cả thời đi lại trong nhân gian, dậm chết cỏ tươi, hại loài trùng kiến. Như vậy đâuxứng đáng là sa môn Thích Tử “

V́ lư do này nên đức Phật dạy cho ba tháng kiết hạ  an cư .

Lại nữa trong Luật Tăng Kỳ có chép : Tỳ Kheo không an cư phạm tội đọa.

C̣n Luật Tứ Phần ghi: Tổ Xá Lợi Phất và tổ Mục Kiền Liên muốn cùng đức Thế Tôn an cư nhưng ngày 17 tháng 4 mới đến - Phật dạy cho hậu an cư. Như vậy nếu không tiền an cư th́ hậu an cư chứ không thể bỏ an cư . Ngày nay ở Hải ngoại v́ quốc độ, v́ thời tiết cay nghiệt, chư Tăng không thể an cư ba tháng như trong Luật Phật dạy. Đây cũng là sự linh động uyển chuyển của các Ngài. Bởi v́ Phật pháp nhập cảnh tùy tục, lư hành đến quốc độ nào th́ pyhải thích nghi với quốc độ ấy. Tuy là trên h́nh thức mười ngày nhưng ở mỗi trú xứ mỗi trị viên đều có làm lễ từ rằm tháng tư cho đến rằm thán bảy mới giải chế. Lúc nào các Ngài vẫn tâm niệm an cư vẫn kiên tŕ giới luật.

Hôm nay, ngày an cư sắp viên măn, từ buổi đầu tiên cho đến nay đạo tràng Quảng Đức ngày nào cũng đông rợp bóng người, những chiếc y vàng giải thoát của chư Tôn Đức và những tà áo lam, thanh nhă của Phật tử ḥa nhập theo lời kinh tiếng mơ vang vọng ngân đưa làm cho ngôi Đại Hùng Bảo Điện thêm vẽ uy nghiêm mầu nhiệm. Tất cả người con Phật lúc bấy giờ cảm giác một trạng thái nhẹ nhàng thanh thoát, mọi gánh nặng họ đều quăng bỏ, tuy chưa đến Bảo sở nhưng cũng được thong dong nơi hóa thành. Trong mười ngày tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng lợi ích, với tinh thần vô ngă vị tha các Ngài bất từ bi quyện quang lâm về một trú xứ ḥa hợp tác pháp, truyền tŕ mạng mạch tiếp nối ngọn đèn chánh pháp của đức Như Lai, soi sáng bằng lư tưởng chân lư cao đẹp theo tâm nguyện “Tục diệm truyền đăng”.

Chúng tôi thiết nghĩ trong những ngày qua không  có niềm an lạc nào bằng sự tỉnh tâm, cũng như không có niềm vui nào bằng sự tĩnh tâm, cũng như không có niềm vui nào bằng được an trú trong chánh pháp và Quảng Đức là nơi đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh che chở trong suốt thời gian an cư kiết hạ .

Quả là: Đây chốn ṭng lâm chốn tịnh nhàn

Trầm hương quyện tỏa ngát muôn phang

Chư tôn đức hạnh quang lâm điện

Đại chúng oai nghi đáo đạfo tràng

Giới luật kiên tŕ tâm tịch tịnh

Tỳ ni vâng giữ tướng nghiêm trang

Hai lăm thế kỷ lưu truyền măi

Đuốc pháp mầu soi sáng thế gian.

 

Mùa An Cư Năm Giáp thân

TKN Thích Nữ Như Tuyết. ^

 

 

An Cư một niệm quay về

 

TK Thích Đạo Hiển

An Cư là một truyền thống ngàn xưa, khi đức Thế Tôn c̣n tại thế, luật ấy được áp dụng và tuân thủ một cách đều đặn. Trải qua trên 2600 năm cho đến ngày nay, chúng ta cũng được áp dụng quy chế đó và nhiều Thanh Quy do chư Bồ Tát, tỏ sự quán chiếu nơi căn tánh của Tăng đoàn hay tất cả chúng sanh đặt ra những quy củ thiền môn và điều lệ. Nhằm mục đích ngăn ngừa tội lỗi, phản chiếu nội tâm.

Bởi thế, An Cư là một phương pháp thật diệu vô cùng. Nó đưa tất cả những người con Phật trở lại thực tại của nguồn chơn, Sống trong ánh hào quang chánh niệm tỉnh giác, dẹp trừ tất cả những nghiệp chướng vọng sanh,

An Cư tu học, chánh niệm theo thời khắc. Không bị vọng tưởng ngoại trần chi phối; không bi ngoại duyên tác động lôi cuốn; đoạn trừ những nghiệp bất thiện, tạo cho nội tâm một chỗ trụ vững chắc, nh́n cuộc đời đang cuồn cuộn trôi trong nhăn quan chánh kiến của vô thường. Thấy rơ được tṛ chơi ảo hóa của cuộc đời là giả tạm không thật. Rồi tự “Phản quan tự kỷ” – hồi đầu bỉ ngạn cho chính ḿnh. Như Thiền Sư Trần Nhân Tông có dạy:

“Cảnh tịch an cư tự tại tâm

Lương phong xuy đệ nhập tùy âm

Thiền đường thọ hạ nhứt kiện quyển

Lưỡng tự thanh nhàn thắng nạn câm”

Nhưng đối với hoàn cảnh là một điều rất quan trọng đối với người tu tập bước vào “tâm tự tại“. V́ cảnh lục trần là nơi để cho lục thức tiếp xúc sanh khởi. Nếu duyên cảnh thiện th́ khởi lên tác ư thiện, bằng không th́ ngược lại. Cho nên, An Cư thời khắc tu học hay ngồi thiền tụng kinh bái sám cho đến học hỏi Phật pháp, đều hầu mong đem lại sự an tịnh, giác niệm hồi đầu, tri kiến nơi bản giác nội tâm. Sống làm chủ mọi t́nh huống do lưới nghiệp vọng tưởng gây ra. Huân tập thành một tập quán thiện theo suy nghĩ thiện và đến hành động thiện, tạo thành những chuỗi ngày an lạc. Không để nghiệp bất thiện làm chủ sai khuyến. V́ tất cả những suy nghĩ, hành động của mỗi con người đều do nghiệp lực gây ra. Nên tổ Quy Sơn dạy rằng: Lưới thủng chim bay, tâm tùy nghiệp lực”

Bởi thế, tất cả những hành động bên ngoài đă huân tập đầy đủ theo thánh giác viên minh từ bên trọng. Tức là “Nhứt thiết duy tâm tạo” sáng suốt th́ trực giác hiện tiền. Xua đuổi đi những nghiệp chướng của màn tối vô minh. Sống thực sự quay trở về với bản giác tự tâm, trong ôn ḥa thánh đức Như Lai. Trực tâm biểu hiện trong ngôi nhà Phật pháp. Như Kinh Pháp Hoa đức Phật dạy:

“...nhà của Như Lai, là tấm ḷng đại từ đai bi đối với chúng sanh. Áo của Như Lai là cái áo đức tánh ôn ḥa nhẫn nại ở nội tâm. Chỗ của Như Lai là tánh chơn không, nơi nhứt thiết pháp”

Hi hữu thay! Ngày nay chúng ta đă được ở nhà Như Lai, khoát áo Như Lai, tu luyện theo hạnh đức của Như Lai, để mong ngồi ṭa Như Laị Ư niệm đó được phát khởi nơi tự tâm của mỗi con người chúng ta. Nhưng ư niệm ấy dối với mọi hành giả tu tập phải giữ ǵn và dọn quét như thế nào? Làm cho ư niệm bản thức được tỏ ngộ hoàn toàn và tâm thức được an cư tự tại trong mỗi hành xứ .

Vấn đề này được chư Phật và Chư vị Tổ sư dạy rất nhiều trong kinh điển. Hay là thân chứng tự nội của kinh Lăng Già mà Bồ Đề Đạt Ma truyền tâm ấn cho Huệ Khả. Nghĩa là đặt nặng nơi giác tỉnh và kiến tánh. Có kiến tánh mới thấy được thật tánh cuả các pháp hiện hữu ở ngoài tâm. Nếu chưa thấy tánh mà đi t́m thật tánh th́ cũng giống như lặn xuống nước t́m mặt trăng. Theo cái bóng bỏ thân h́nh, dong ruổi t́m cũng vô ích, không làm sao thấy được. Khi ngộ được thật tánh, nội tâm hay ngoại cảnh đều uyên nguyên thông suốt, nh́n tất cả các pháp hiện hữu chỉ qua là duyên sinh giả hợp, duyên sinh biến đổi vô thường, mà vô thường là không có một cái ngă trường tồn. Như sắc thân ngũ uẩn của mỗi con người đem phân tích chi ly th́ cũng không t́m ra một cái ngă thật sự. Mà nó cũng biến đổi vô thường trong từng sát na, như Trần Nhân Tông có nói: “Mệnh tựa ngọn đèn trước gió, thân như bọt nước đầu ghềnh”  trong lời nhắn

nhủ đến mọi người hăy cảnh tỉnh về sự vô thường của sanh tử. Hoặc Tổ Quy Sơn có dạy trong Quy Sơn Cảnh Sách “Vô thường lăo bệnh, bất dữ nhân kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị thế? Thật vậy, thân như bọt nước, như phù vân, điện chớp, sáng có chiều không...chỉ có một sát na, th́ không phải  là một con người uyên nguyên nữa. Nếu không có một niệm Chánh giác quay về th́ không biết sanh tử về đâu?

Tổ sư Trần Nhân Tông dạy ”luôn luôn ch́m  đắm trong biển mê măi măi nổi trôi nơi bể khổ, mù mù mịt mịt nào biết nào hay, lẩn quẩn lanh quanh chẳng tỉnh chẳng ngộ. Hết thảy đều buông lung tâm ư, chẳng ai nắm mũi lôi về.”

Ngày nay, Giáo Hội tổ chức An Cư tại Tu Viện Quảng Đức Úc Đại Lợi, nhắm hướng về bến giác của tự tâm sẽ “nắm mũi lôi về” ngăn chặn sự buông lung tâm ư. Mở tung cánh cửa giác ngộ giải thoát mà lâu nay măi măi làm khách phong trần. Lặn hụp trong cồn biển vô minh. Được giây phút thiền tọa lắng đọng lại sóng nghiệp của biển trần; tâm tâm niệm niệm từng giây phút trong suốt một mùa An Cư. Sống thật sự với Giáo Pháp vô ngă của đức Như Lai, hành động theo phương pháp Tỳ Ni. Từ ăn uống cho đến ngủ nghỉ đều trong chánh niệm giác tỉnh. Sống thật sự trở về với người cha hiền muôn thuở. Đích thực là nguồn chơn nơi bản giác của chúng ta. Sống chan ḥa trong ḍng pháp diệu của Thế Tôn Từ phụ, có đầy đủ thất chúng an cư tu học. Đây là một truyền thống tốt đẹp mà mọi người con Phật của chúng ta phải nhớ đến mà quay về./. ^

 

 

Vui thay khi Phật ra đời

Hạnh phúc thay chư Tăng ḥa  hợp

 

Giác Hóa

Mùa an cư kiết hạ năm nay thật là một nhân duyên lớn đă đến với con, khi con được tham dự khóa tu học tại Tu Viện Quảng Đức Melbourne trong không khí trang nghiêm và long trọng, được tổ chức tại Đại Hùng Bảo Điện của buổi lễ khai mạc con vô cùng xúc động khi quỳ dưới chánh điện của Tu Viện Quảng Đức trước quư Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Quư Thầy Cô như là mỗi vị Bồ Tát đang xuất hiện trước mắt con. Oâi! Ḷng con thật là hạnh phúc, sung sướng. Sau buổi lễ khai mạc đó quư Thầy, cô thọ trai tại trai đường và con đă có một phước báu lớn được vào ban hành đường.

Lần đầu tiên được hầu cận quư Ngài con cũng có phần lo sợ và lúng túng nhưng với tấm ḷng thiết tha cung kính và trong tâm luôn niệm  Di Đà, nên con cũng bớt phần lo sợ (bửa ăn chay tịnh của những ngày tu học được dọn đến, nh́n những món ăn chay tuy đạm bạc nhưng vô cùng tinh khiết của mỗi Phật tử đă bỏ tâm, bỏ công, bỏ sức để lo mỗi bửa trai tịnh được chu toàn, thật là công đức vô lượng)

Ban hành đường của chúng con gồm có: Quảng Hiền , Ni Cô Giác Trí, Diệu Khánh, Hải Hạnh và một số Phật tử khác chúng cơn đă làm trong tinh thần lục ḥa, vui vẻ và tích cực. Mặc dầu những lúc mệt mỏi nhưng với tâm trạng đang tràn đầy hạnh phúc nên những cái mệt mỏi đó biến thành cái sung sướng, hoan hỷ lúc nào con cũng không hay.

Thật là đẹp đẽ biết bao khi chư tôn đức dâng những b́nh bát màu nâu lên cúng dường trong không khí thật trang nghiêm và những lời tác bạch của quư thầy, Cô được xin vê cùng an cư. Với cái lạnh khắc nghiệt của Melbourne đă khiến cho một số thầy cô không được khỏe, ḷng con thật xót xa vô cùng. Con cầu mong chư Phật, Bồ Tát phù hộ cho chư tôn đức Tăng Ni pháp thể khinh an, thân tâm an lạc để d́u dắt chúng con trên con đường tu học. Trong những ngày tu học của khóa an cư này con cảm thấy như ḿnh đang sống trong Cực Lạc của cơi Ta Bà này. Hàng ngày con được gặp Phật ngay trong chánh điện, mồi lần bước vào chánh điện, ḷng con ấm áp lạ thường, nh́n mọi người cùng nhau hoan hỉ con sung sướng biết bao và rồi con được gặp pháp khi được chư Tôn Đức Tăng và Ni. Các thầy các cô đă luôn luôn nhắc nhở chúng con phải sông trong tỉnh thức từng phút, từng giây trong chính con người của chúng con. Chúng con c̣n được phước báu được sống bên cạnh của 60 Tăng Ni trong thời gian suốt 10 ngày. Ngày ngày gặp Phật, gặp Pháp, gặp Tăng đối với con đó là cả một thế giới Cực Lạc A Di Đà hiện tiền. Những Phật tử nào muốn có được cái tâm thanh tịnh, cái thân an lạc và muốn thấy cảnh Cực Lạc A Di Đà đó hăy tham dự những khóa tu học sau, được Giáo Hội tổ chức.

Mùa an cư Kiết Đông này đă để lại cho con một ấn tượng sâu sắc. Để báo đáp hồng ân của chư Phật, và công đức của chư Tăng Ni con nguyện sẽ đem hết sức, hết lực và trí để hộ tŕ Tam Bảo.

Giác Hóa ^

 

 

Nguyện tinh tấn tu học

Phước thay cho chúng con có được đủ duyên lành về đạo tràng Tu Viện Quảng Đức dự khóa An Cư Kiết Hạ năm Giáp Thân cùng quư Chư Tăng Ni. Đây là lần đầu tiên con dự khóa An Cư Kiết Hạ tại thành phố lạnh  Melbourne. Một ngày có bốn mùa đó là điểm đặc biệt về khí hậu của tiểu bang này. Bây giờ đang là tiết đông giá lạnh đêm về dưới không độ nhưng những ngày qua, tâm chúng con chỉ có mùa xuân tràn đây những màu sắc của hoa an lạc và chúng con cảm nhận được nghĩa “Từ Bi” khi chúng con chiêm bái quư Ngài. Quư Ngài đă giúp cho hạt Bồ Đề trong tâm chúng con được tươi mát nẩy mầm.

Trong không khí trang nghiêm và khung cảnh thanh lịch của Tu Viện Quảng Đức đă trợ duyên cho chúng con phát triển Phật pháp dù bận rộn tu học nhưng ḷng từ bi của quư Ngài vẫn ban cho chúng con cùng tất cả Phật tử trên toàn thế giới qua các diễn đàn Phật pháp trên Paltalk, Internet, ba buổi giảng và thoại pháp mỗi ngày, ḷng chúng con vô cũng cảm kích. Khi những hạt sương mai c̣n đang đọng trên ngọn cỏ cơn rét lạnh vùng Fawkner thân thương, thấm đến tâm can, quư Thầy luôn thức chúng hô canh niệm Phật để giúp chúng con tỉnh thức và tinh tấn tu hành.

Chúng con xin cúi đầu đảnh lễ Mười phương chư Phật, Chư Bồ Tát, La Hán, Thanh Văn, Duyên Giác, chư Hộ Pháp Long Thiên, chư Ḥa Thượng cùng chư tôn đức Tăng Ni và chúng con cũng xin cảm tạ TT Hóa chủ Thích Tâm Phương, Thầy đă cho chúng con cảm nhận được t́nh ấm áp của bậc từ phụ, với ḷng đại từ bi Ngài đă lo cho đại chúng có nơi ngủ nghỉ yên ấm đến từng miếng ăn thức uống, cả đến thuốc men. Ôi không có lời nào diễn tả được ḷng kính phục tri ân của chúng con. Sau khóa tu học và được lực hộ tŕ của quư Ngài, con tự hứa sẽ cố gắng tinh tấn tu học chăm bón  hạt giống Bồ Đề vững mạnh tăng trưởng.

Mong lắm thay được quư Ngài dạy dỗ thêm cho chúng con.

Thành tâm tôn kính

Diệu Khánh ^

 

24 giờ tu tập

 

Năm giờ thức chúng hô canh

Toạ thiền niệm Phật thực hành pháp tu

Sáu giờ kém (5.45) thời công phu

Lăng Nghiêm thần chú nhuyễn nhu trầm hùng

Độ một giờ thời khóa xong

Là lời sách tấn từ hàng chư tôn

Bảy giờ rưởi sáng điểm tâm

Tám giờ công tác phân công rơ ràng

Chín giờ rưởi lớp sẵn sàng

Học tập nghiêm chỉnh góp bàn hăng say

Lớp tại gia lớp xuất gia

Tăng Ni Phật tử hài ḥa đổi trao

Chín mươi phút trôi qua mau

Giờ ngọ trai tiếp theo sau liền liền

Đại chúng vân tập trai đường

Tay nâng b́nh bát cúng dường niệm kinh

Thọ thực xong đi kinh hành

Tiếng niệm Phật vang thanh khắp cả chùa

Buổi trưa được nghỉ sơ qua

Hai rưởi quy định phải là

Tŕ tụng Thủy Sám đậm đà ư sâu

Tội phúc báo ứng theo nhau

Như h́nh với bóng trước sau chẳng rời

Ba mươi phút được nghỉ ngơi

Bốn giờ lớp học đúng thời diễn ra

Luật học cho lớp xuất gia

Giáo lư Phật tử nghiệm qua pháp hành

Năm giờ thí thực mông sơn

Cúng thí ngạ quỉ nhờ ơn ấm ḷng

Năm rưỏi dược thực giúp thân

Ngồi lâu tu khỏe vững tâm an lành

Bảy giờ Tinh Độ khóa tŕnh

Niệm Phật tŕ chú tâm thành thiết tha

Buổi tối tại gia, xuất gia

Hai lớp học tập diễn ra vui vầy

Tám giờ đến chín rưởi (8 – 9.30) đây

Tu tập kinh nghiệm, truyền trao pháp đàm

Mười giờ hô canh toạ thiền

Nhiếp tâm chánh niệm vạn duyên dứt ĺa

Hồi chuông chỉ tịnh giữa khuya

Lúc mười giờ rưởi ngăn chia đêm ngày

Giờ ngủ nghỉ hạnh phúc thay

Mọi người an giấc lúc này thần tiên

Đạo tràng thanh tịnh tịch nhiên

Suối nguồn an lạc giữa miền trần gian

Về đây về hội Linh Sơn

Thầy tṛ huynh đệ nhuần ơn Cha lành

Trời cao biển rộng mông mênh

Nguyện tu nguyện học nguyện đền bốn ân.

Melbourne ngày 8/7/2004

Sông Thu ^

 

 

Áo Cà Sa

 

Áo cà sa mà Thầy con đang mặc

Con thương thầy, thầy mặc áo cà sa

Mới vừa trông thấy như Phật Di Đà

Con càng nh́n càng thiết tha kính mến.

Áo cà sa mà Thầy con đang mặc

Đă khoác lên lớp vải áo cà sa

Áo cà sa ơi áo cà sa

Chiếc áo ấy mà con hằng tôn kính.

Áo cà sa mà Thầy con đang mặc

Ánh Đạo Vàng soi sáng áo cà sa

Áo cà sa ơi áo cà sa

Đem bao t́nh thương về cho nhân loại.

 

Kính tặng các quư Thầy Cô

Đệ tử Lệ Ánh ^

 

 

 

 

Tu học

Mỗi sáng thức dậy tụng canh khuya

Tiếng chuông réo rắc gọi ai về

Cùng tụng Lăng Nghiêm để tỉnh thức

Giác ngộ quay về dưới bóng từ bi

Ơn Thầy giáo huấn lời khuyến từ

Gắng tu tinh tấn cầu về Tây Phương

Nhóm Phật tử Liêu Huyền Quang  ^

 

Cầu an

 

Thích Hạnh Tri

Hàng năm, vào rằm tháng giêng, Ngọc Hoàng Thượng Đế họp các vi Tinh Quân trị v́ sao hạn cho người phàm mà dặn bảo:

-Thái AÂm Tinh Quân phụ trách gia đạo cho những người thuộc sao Thái AÂm,

Thái Dương Tinh Quân phụ trách gia đạo cho những người thuộc sao Thái Dương...

Tại một ngôi chùa nọ làm lễ cúng sao giải hạn, có sắp xếp đèn cầy theo kiểu các sao mà cúng, có cả người lớn trẻ em cùng tham dự. Xong lễ, người lớn quay quần bên bàn trà cùng tṛ chuyện với quư Thầy. Bên ngoài trẻ em tha hồ mà đùa giởn. Chúng thi nhau thổi tắt các ngọn đèn; không may sáp đèn văng vào mắt khiến chúng khóc la inh ỏi. Người cha thấy chuyện lữa giận phát lên, la mắng um tùm làm mất thanh tịnh chốn già lam.

Ngọc Hoàng kêu các sao lại quở.

-Tại sao các khanh phụ trách vận hạn lại để xảy ra những chuyện như vậy ?

-Muôn Tâu Bệ Hạ, việc đó nằm ngoài khả năng của chúng hạ thần./.^

 


2004 Winter Sangha Retreat
 
Once again we meet,
Reunited as one family
Over flowing with sincerity
We seek self-improvement
On the top of our lips,
Are four brave vows
Our mind strive to awaken,
During these cold Melbourne days
At night we shiver,
As the icy air, hug our body
Underneath the bed sheets we shiver,
Trying to pray as our teethes chatter.
 
Although our limbs are touched by frost
Within our hearts remains a brilliant flow
Do you feel the fire within
The roaring hungry fire
Forgotten under infinite impurities
May it destroy our pitiful gloomy futures
 
The chains that bind our feet together
Are rusting away, with diligence and repent!
With eyes close our palms meet with respect
We engage in the daily battle,
The great challenge against internal wars
 
Externally our flesh cries out
Demanding collapse and surrender
And although our eyes are heavy
Moreover, our legs are weak,
We remain strong with faith and love
Oh! How the heart overwhelms with
gladness!
 "Oh what treasured moment"
Seeing fellow cultivator show selflessness
Sincere volunteers: those unsung heroes, those silent stars
Willing to sacrifice precious time
To quietly pour tea and to patiently cook meals

Yes, our egos are punctured
However, they hurt less through time
The old scars have healed,
And words of hate sound sublime!

For the sake of sentient beings,
With each and every day...
We can only hope, the burdens of kind
Venerable, be lifted and relieved.
He has done so much,
Accepted to carry a thousand
pound burden!
His responsibilities are endless,
In addition, we are equally grateful
His effort are paid off, as he see
glowing healthy children, laugh and play
They bow in respect to elders
And steadily learn the Buddha Dharma
Imagine a future with filial devotees,
who appreciate every breath and everyone
And the clouds that overwhelm their minds may gently blow away.
With sweet whispers of Namo Amitabha
Tâm Lạc ^

 

 

 

 

 

Giờ Chia Tay..... ôi xao xuyến !

Cảm nghĩ của con trong mùa An Cư năm nay có lẽ tốn nhiều bút mực lắm mới nói hết tâm tư t́nh cảm của con được Nhưng v́ thời gian không cho phép cho nên con có đôi ḍng tâm sự trong mấy ngày qua.

Từ ngày con xa quê hương đến nay cũng đă được 16 năm rồi. Trăi qua biết bao nhiêu thăng trầm sóng gió của kiếp sống tha phương. Thật không thể ngờ được nơi xứ lạ quê người mà con có được diễm phúc tham dự khoá An cư cùng chung với quư Thầy quư cô và Phật tử. Có thể nói rằng con chưa bao giờ cảm nhận được những ngày an vui và hạnh phúc như vậy. Tuy rằng thời gian ngắn ngủi nhưng nó đă đem đến cho con nhiều lợi lạc. Mặc dù thân thể khá thấm mệt (v́ do thiếu ngũ), nhưng tinh thần quá mạnh con đă đánh gục được con “ma bệnh” (Nếu như ở nhà con thiếu ngũ chừng hai đem là con bị ngă gục trên “chiến trường”).

Con thật sự hạnh phúc và vui quá quư Thầy quư cô ơi! Ước mong sao thời gian kéo dài thêm măi th́ con mới hy vọng dễ dàng bỏ hết được những tập khí xấu xa và những con ma “tham, sân, si” mà con quá ư là ích kỷ không chịu buông xả nó. Con biết rằng cuộc đời vốn dĩ vô thường, có hợp th́ phải có tan nhưng sao con cảm thấy xao xuyến, bồi hồi, nhớ thương...khi nghĩ đến ngày chia tay. Biết làm sao đây. Con sẽ cố gắng hết sức ḿnh tu tập theo những lời khuyến nhủ và dạy bảo của quư Thầy, quư cô trong thời gian qua để khỏi phụ ḷng của quư Ngài đă không ngại đau ốm, bệnh tật hoặc bận rộn...đă đành nhiều thời gian quư báu hữu ích cho chúng con. Con xin nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho quư Ngài sống lâu trăm tuổi thân thể tráng kiện để dần dắt chúng con trên bước đường tu tập giải thoát.

Nam Mô A Di Đà Phật

Đệ tử Thục Đức – Giác Trí ^

 

Quảng Đức Lưu Phương

 

Quảng Đức từ bi cứu đạo ngàn

Đem đạo vào đời khắp rạng soi

Nơi Tu Viện tiếp tăng độ chúng

Quảng độ chúng sanh hết năo phiền!

Thích Hải Ấn ^

 

 

Tấm ḷng Bắc Úc

Chúng con ở Darwin, tận cùng miền Bắc nước Úc, xa cách nơi đa số ngựi Việt sinh sống như Sydney, Melbourne, cũng xa cách  những Già Lam Tự Viện do các bậc tôn túc kiến lập để duy tŕ nếp sống Phật Giáo thuần túy Việt Nam. Ở Darwin chỉ có một ngôi chùa được nhà nước cấp đất cho các cộng đồng theo đạo Phật tôn tạo. Trong chánh điện thờ tôn tượng Đức Bổn Sư với h́nh tướng Thái Lan và Miến Điện, Lào; gần đây mới có vị Tăng người Trung Hoa. Các lễ hội Phật Giáo theo Nam truyền, chủ yếu là Vesak và các ngày nhập hạ và ra hạ. Vào những ngày lễ ấy, Phật tử các cộng đồng về chùa, được sư thuyết pháp bằng tiếng Anh và tụng kinh bằng tiếng Pali. Đa số Phật tử Việt Nam sinh sống bằng nghề nông và nghề biển nên do ngôn ngữ khác biệt cũng ít khi về chùa.

Từ năm 2000, Phật tử Việt Nam có đủ duyên phước nên được Thượng Tọa thượng Quảng hạ Ba nhủ ḷng thương xót, không nề lao nhọc, từ Canberra vân du Darwin để đem ánh đạo vàng đến với chúng con. Chúng con càng cảm niệm ân đức sâu dày của Thượng Toạ khi biết ngài tuy đa đoan nhiều Phật sự nhưng vẫn dành thời gian cho Darwin.

Mỗi khi quang lâm Darwin, Thượng Tọa thường nhắc đến sinh hoạt của Giáo Hội, nhờ đó chúng con mới có duyên phước tham dự các khoá tu học do Giáo Hội tổ chức. Năm trước, chúng con được biết về Khóa An Cư Kiết Đông của Giáo Hội tổ chức tại Canberra, nhưng v́ con đă quen khí hậu ấm này của Darwin nên v́ sợ cái lạnh của mùa đông Canberra mà ... thoái tâm Bồ Đề. Năm nay, Giáo Hội tổ chức Khóa An Cư Kiết đông tại Melbourne. Con trước không đi Canberra, sau này tiếc măi. Bây giờ lại sợ cái lạnh của mùa đông Melbourne mà chần chờ măi sao?

Nhớ lại khi c̣n ở quê nhà, mỗi mùa An Cư Kiết Hạ, chúng con thường đi cúng dường hộ hạ, nhưng dường như các Trường Hạ chỉ dành cho hàng xuất gia, c̣n Phật tử tại gia không thấy tham dự. Nay Giáo Hội nhũ ḷng lân mẫn tạo thuận duyên cho Phật tử tại gia tùng hạ, lẽ nào v́ sợ lạnh mà không đi.

Hơn hai ngàn sáu trăm mùa mưa đă qua, Tăng đoàn kiết giới an cư khắp những nơi ánh đạo vàng của Đức Phật tỏa đến.

Mùa hạ năm (mùa đông ở Nam BánCầu), nơi đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh Quảng Đức, chư tôn đức tăng ni tiếp nối truyền thống mấy ngàn năm, lại thùy từ tạo duyên cho Phật tử tại gia tham dự, đó là chuyện hy hữu chưa từng có, bỏ qua rất uổng. Được dịp thân cận Tăng Bảo là bậc thiện tri thức là phước đức rất lớn, lẽ nào bỏ qua luống uổng. Các Ngài tạo thuận duyên cho giới tại gia sống đời xuất gia thanh tịnh an ḥa, lẽ nào để bỏ qua cơ hội. Các Ngài ban răi châu báu rộng răi, sao không mau đi lănh nhận? Sự nghiệp thế gian thêm mươi ngày cùng chẳng tiến triển, bớt mươi ngày cũng chẳng đ́nh trệ, c̣n mười ngày gây tạo sự nghiệp xuất thế gian, duyên phước  qua đi không t́m lại được. Nếu hẹn đến năm sau, lở khi vô thường đến  có phải là “uổng một đời chơi nẻo nhân gian” ? Thế là “ muốn đi có một đường này con bèn sắp xếp công việc“ nhập trường, tùng hạ”

Vừa đến phi trường Melbourne, đúng là “làm việc thiện mà hối hận“ Sao mà lạnh quá vậy? Gió thổi càng thêm lạnh! Nhưng mà lở rồi, đành liều...

Nhưng mà cái lạnh của mùa đông Melbourne không c̣n là chướng duyên nữa khi mà ân đức của chư tôn đức chan ḥa lên tất cả chúng con. Thầy Nguyên Tạng đích thân ra phi trường đón con v́ con đến quá sớm, Thầy không sắp xếp được huynh đệ nào đăi lao cho thầy.

Những lời thân mến của sư cô Hạnh Nguyên khi những món hoa quả đơn sơ của Phật tử Bắc Úc cúng dường Trường Hạ đă làm ấm ḷng con. Nhất là Thầy Tâm Phương trong lúc đa đoan nhiều Phật sự trước khi khai trường, đă vào tận nhà trù và chứng minh tấm ḷng của những người con Phật ở phương xa khát khao chánh pháp

Mấy ngày tu học êm đềm trôi qua, thức sớm công phu, thúc khuya tọa thiền, trong ngày công tác chúng, học Phật pháp, tụng kinh bái sám, ngọ thực kinh hành. Chúng con muôn vàn cảm niệm ân đức chư tôn Ḥa Thượng, mặc dầu tuổi cao sức yếu, tứ đại chẳng điều ḥa, mà vẫn không nề lao nhọc, ban bố cho chúng con những lời khai thị nghiêm từ. Ngồi trong đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh này, nghĩ nhớ đến ân đức sâu dày của chư  Tôn Thiền đức đă khai sơn lập  tự để thời giờ này, cách quê hương muôn dặm trùng dương, Phật đường vẫn rực rỡ sắc y vàng, tiếng tụng kinh vần trầm hùng vang lên những pháp âm vi diệu, ḷng con rưng rưng thổn thức. Biết làm ǵ để đền đáp ân sâu trong muôn một?

Chúng con chỉ biết y giáo phụng hành , nương tựa Phật Pháp Tăng, ngày đêm sống trong tỉnh thức. Chẳng những trong những khóa tu học được nương tựa hải chúng, mà cả khi trở về trụ xứ, chúng con nguyện giữ ǵn chánh niệm mỗi khi làm những công việc hằng ngày.

Con muôn vàn cảm niệm ân đức của chư Tôn Thiền Đức đă thùy từ lân mẫn tạo thuận duyên cho hàng Phật tử tại gia chúng con được sống nếp sống thiền môn quy cũ. Chư Tôn túc cũng đă thường nhắc con lời di giáo của vị Bổn sư khả kính, vốn là một bậc ni lưu giới đức kiêm ưu, lời từ huấn mà đă bao năm trôi lăn trong ḍng đời, con vâng giữ chưa trọn vẹn.

“Thầy không muốn các con là học giả, Thầy muốn các con là hành giả”

Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát

Tâm Quang

Trường Hạ Quảng Đức

Mùa Đông 2548, Melbourne ^

 

Thành Kính Tri Ơn

Thắm thoát rồi mùa Kiết hạ cũng đă đến, thật ra con đă chuẩn bị và chờ đợi từ mấy tháng trước đây. Cách đây gần một tháng con có nhận tin mẹ con ở Việt Nam nhắn về. Nhưng con cũng gác lại v́ sợ bỏ đi cơ hội mà một năm chỉ có một lần tu học. Để bắt chước theo hạnh của quư Thầy. Bởi v́ con là Phật tử tại gia. V́ gia duyên c̣n bận buộc hay v́ nhân duyên con chưa đến. Nên con chưa thể xuất gia được. Nên con có ư nguyện với ḷng, nếu các chùa có tổ chức những khóa tu học th́ con sẽ tranh thủ đến tu học để mong noi theo hạnh nguyện của ĐứcThế Tôn; v́ giáo pháp giải thoát đă được Đức Phật dày công t́m kiếm, để cho con học hỏi và noi theo con đường giải thoát. Đức Thế Tôn dạy học giáo pháp giải thoát, để khỏi ch́m đắm trong cơi luân hồi, mà chúng sinh ai ai cũng đă biết là dẫy đầy phiền hà và khổ lụy cho nên Đức Phật đă nói đời là bể khổ. Chính lẽ đó con đây muốn tu theo hạnh nguyện của Ngài, để mong sao con thoát được ṿng sinh tử luân hồi. Con nguyện con sẽ cố gắng và sẽ cố gắng để vượt qua mọi khó khăn thử thách để tiến tu trên bước đường học Phật, không uổng công chỉ dạy của quư Thầy.

Con thành thật biết ơn quư Thầy cô đă cho con những lời thuyết giảng thật là bổ ích. Con nghĩ đó cũng là một liều thuốc cho chúng sinh trị bịnh khô gầy.

Con ước mong trong tương lai sẽ có nhiều khóa tu khác mà các chùa sẽ mở ra để dẫn dắt chúng con cùng được tu tập.

Melbourne, Kiết Đông tháng 7/2004
Đệ tử Lệ Ánh
^ 

 

 

Cúng Thầy

Ngày mai Húy kỵ Thầy (1)

Đêm nay xứ lạnh vọng về quê

Ḷng thành:

Dâng ba nén tâm hương

Tỏa bay chiều gió muôn phương

Cơm chánh niệm con hiến

Hoa Tuệ giác con dâng

Trà duyệt thực xin cúng

Với tấm ḷng đơn sơ

Như vẫn tự bao giờ

Thích Thiện Hiền

Đêm mùa Đông 10/7/2004 (23/4 AL)

(1)  Giỗ Thầy ngày 14/5 AL (12/7/2004) ^

 

Chiếc áo tràng

 

Ngắm em trong bộ áo tràng

Lan man tâm tưởng, giữa đàng trầm luân

Cao sang em khước từ phần

Lánh vào cơi tịnh, ḷng trần sạch không?

Nam Mô! Tiếng tụng bâng khuâng

Hồi chuông an lạc, tâm thân b́nh ḥa

Du dương tiếng mơ kiêu sa

Lời kinh ấm cúng, nhă ca Phật đà

Dẫn hồn ta vốn lạc loài

Bơ vơ không trụ, bài hoài vấn vương

Nhận ra! Em lănh t́nh thương

Gieo duyên cơi hạ, mở đường viễn thương

Lời em tụng, giải vô thường

Nhịp chuông, tiếng mơ, thân thương dạt dào

Niệm Nam Mô! Giọng ngọt ngào

Đưa hồn anh nhập thanh cao cơi thường

Vấn vương buông bỏ dặm trường

Theo em luôn tới Phật đường tu thân

Thuận duyên ngộ đạo lư chân

Đồng tu giải thoát vẹn phần duyên cơ.

Nhân mùa, Trường hạ Quảng Đức
 Nguyên Khang

(6/7/04 – 16/7/2004) ^


 

Hạ Trường Quảng Đức

 

Giáo Hội khai mạc kiết đông

Tăng Già quy tụ cộng đồng tham gia

Diển văn khai mạc Tăng Già

Meo-b́nh (Melbourne) Quảng Đức khai hoa hoàn thành

Trung tâm câu hội phát thanh

Mười ngày đâu có chưa thành ngày xưa

Chư tôn nhóm họp cũng vừa

Cam ḷng ghi nhớ người xưa muôn đời

Bổn sư căn dặn nhiều lời

Hằng năm kiết hạ trọn đời Tăng Ni

Đạo hữu đăng kư gắng đi

Chư Tôn đầy đủ quản ǵ tham gia

Nguyện cầu chư Phật thiết tha

Gia bị Châu Úc trẻ già b́nh yên

Cầu cho thế giới hằng niên

Ḥa Thượng Quảng Độ con thuyền tương lai

Mong sao Ngài được lâu dài

Hướng dẫn đại chúng tương lai đời đời

 

Sa Di Thị Đắc ^

 

Giáp Thân An Cư Cảm Niệm

 

Mùa hạ năm nay lại trở về

Tháng ngày thấm thoát lá vàng rơi

Mai này các vị về trú xứ

Chánh pháp được truyền khắp mọi nơi

Mới ngày nào đây con từ Sydney, theo chuyến bay trở về Đạo Tràng Tu Viện Quảng Đức để An Cư Kiết Đông, tất cả niềm hoan hỷ của ngày Kiết Đông đầu tiên trong ư nghĩa thiêng liêng, với truyền thống an cư Quư Dậu mà chư Phật đă lưu truyền sau đó con được an vui tu học trong sự đùm bọc, cưu mang trong hơi ấm t́nh thương của chư Tôn Đức. Thế rồi từng ngày qua đi, khi chiếc lá vàng đông rơi xuống bên hiên, trước mặt của những người Tu sĩ đang ngồi trong tỉnh lặng, con nhận ra là ngày măn hạ đă đến. Chính v́ thế ngày hôm nay, trong không gian thấm nhuần đạo vị, buổi chia tay tạm biệt đă đến rồi. Con biết nói ǵ đây khi những ḍng cảm xúc cứ tuôn trào rất lạ trong cảm tưởng của ḿnh, đă tạo cho con sự mạnh dạn nói nên lời thành kính biết ơn và cảm nghĩ của ḿnh đến với chư Tôn Đức trong Ban Chức Sự Trường Hạ. Mỗi ngày tu học trong trường hạ, là mỗi ngày con càng mang nặng ơn đức của chư tôn trưởng thượng, và ơn của đàn na tín chủ dày công, đă cho con sống trong an vui, tứ sự đầy đủ, với sự hết ḷng lo lắng ấy con nào quên được, bên cạnh đó sự tu học dâng cao giác trí, chư Tôn Đức đă hết ḷng chỉ dạy lại tất cả những kinh nghiệm của ḿnh, giảng giải những lời kinh pháp.Trong mỗi giờ tu các Ngài khuyên nhắc trong oai nghi các Ngài nghiêm dạy, trong từng lời giảng kinh các Ngài như đem hết tâm huyết của ḿnh để truyền trao, rồi mai này con không c̣n dịp để nghe các ngài dạy nữa, th́ sự nuối tiếc tràn ngập cơi ḷng, với những ngày sống chung tu học, sự ḥa hợp của Giáo Hội trong Trường Hạ đă tạo cho con nhận ra được sức mạnh ḥa hợp của Giáo Hội giờ đây, con thành tâm, kính chúc như Tôn Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni sức khoẻ dồi dào, tâm huệ thường lạc để d́u dắt chúng con và chúng sanh trên bước đường giải thoát, và cũng xin cầu chúc cho quư nam nữ Phật tử thân tâm an lạc, tu hành tinh tấn theo chánh pháp của chư Phật.

Mùa kiết đông tại Tu Viên Quảng Đức 2004

Thích Minh Tri ^

 

Cảm niệm những mùa an cư ở Úc 

 

Hải Hạnh Ngọc Dung 

Hằng năm, y theo lời đức Phật dạy, hàng đệ tử xuất gia phải câu hội về một trú xứ để an cư kiết hạ trong ba tháng để thúc liễm thân tâm và tránh sự vô ư sát hại các loại côn trùng nhỏ bé. Cũng vậy, đặc biệt tại Úc, v́ do khí hậu và thời tiết  khác biệt nên mùa an cư được tổ chức vào mùa Đông trong ṿng 10 ngày. Đến nay, thắm thoát cũng năm mùa an cư đă trôi qua.

Theo truyền thống có từ thời đức Phật, chỉ có chư tôn đức tăng ni tham dự mùa an cư; nhưng ở Úc châu một nét tu tập độc đáo đă được phương tiện mở bày. Đó là chư tôn đức của Giáo Hội đă mở ra một tiền lệ cho phép giới Phật tử tại gia được theo tu học trong mùa an cư của chúng xuất gia. Quả thật đây là cơ hội quư giá đối với giới cư sĩ Phật tử, v́ nếu ai có duyên lành tham gia những khoá hạ này sẽ có nhiều thời gian thân cận, gần gũi, nghe học Phật pháp với nhiều vị giảng sư, pháp sư khắp nơi tụ hội về. Đặc biệt các buổi giảng tại trường hạ Quảng Đức năm nay được trực tiếp lên mạng internet, v́ thế Phật tử khắp mọi nơi có thể nghe pháp thoại và có thể trực tiếp tŕnh những nghi vấn của ḿnh về Phật pháp nhờ chư vị giải thích. Theo thống kê của ban tổ chức, hằng ngày có gần cả 100 người học Phật bằng phương tiện này. Đây có lẽ là nét đặc thù nhất của mùa An Cư tại Úc châu này. Khi tham dự khoá tu học năm nay tại Quảng Đức tôi bỗng nhớ lại mùa Kiết Đông An Cư đầu tiên vào năm 2000 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại-UĐL-TTL được tổ chức tại tổ đ́nh Pháp Hoa, Adelaide, tiểu bang Nam Úc. Một mùa an cư thật sự đă để lại trong tôi nhiều kinh nghiệm quư báu. Những cảm xúc của mùa an cư đó như sóng biển dạt dào phủ kín ḷng tôi. Những h́nh bóng thân thương của quư thầy cô và pháp hữu đang tu tập tại Quảng Đức mà tôi cứ ngỡ là tại chùa Pháp Hoa thân yêu của ḿnh. Tuy nhiên, năm nay trong đại chúng này lại thiếu vắng h́nh bóng của cố Hoà Thượng Thích An Thiên, một bậc thầy đáng kính. Sự ra đi của thầy là một mất mát của Giáo Hội và tín đồ tại Úc châu. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến lời dạy của thiền sư Vạn Hạnh:

 Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời

Sá chi suy thịnh cuộc đời

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành

(Ngô Tất Tố dịch)

Quả thật, đời thật vô thường! Vô thường trong từng tâm niệm, vô thường trong từng sát na. Nhưng khi quán chiếu đến lời dạy này tôi cảm thấy sự bỗ lực của tựï thân ḿnh c̣n  quá yếu kém trên con đường học Phật. Tôi thật sự cảm thấy hổ thẹn với số thiện hạnh bé nhỏ của tự thân và thấy sợ hăi với những bất thiện hạnh mà ḿnh đă và sẽ tạo. Tự hứa với ḷng là phát tâm dơng mănh tinh tấn hành tŕ nhiều hơn nữa lời Phật dạy để không phụ công oơn chư tôn đức tăng ni đă dạy. Những bài học căn bản về Phật pháp mà tôi học được từ những khoá tu này thật sự là những hành trang vô giá đối với tôi trong hiện tại cũng như tương lai. Tuy nhiên, tôi và có lẽ cả những đạo hữu đang tu học tại Quảng Đức  cũng như Phật tử khắp mọi nơi đang nghe pháp trên internet, paltalk, v.v... tha thiết ước mong chư tôn đức sẽ có những bài giảng tập trung vào các bài kinh ngắn như kinh Thiện Sanh , Bát Đại Nhân Giác, Vô thường ...mang tính thiết thực và khả thi vào chính trong đời sống thường nhật, mà cụ thể là trong khoá An cư 10 ngày này.

Tu Viện Quảng Đức, Melbolurne, 7-2004 ^

 

 

Lời Tác Bạch Kiết Giới An Cư


 

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính Bạch Ḥa Thượng một ḷng thương xót,  con Tỳ Kheo ...( Tỳ Kheo Ni/ Thức Xoa Ma Na Ni/ Sa Di/ Sa Di Ni) nay nương tựa nơi Quảng Đức Tăng Già Lam, xin an cư tu học 10 ngày. Kính xin Ḥa Thượng từ bi hoan hỷ  chứng giám ( đọc 3 lần)

Ḥa Thượng hỏi: Thiện

Đáp: Nhĩ

 

 

T́nh cha

Trước Phật Đài hương trầm bay ngào ngạt

Chấp hai tay đảnh lễ Đức Từ Tôn

Chuông ngân êm nghe thánh thót bên tai.

Làm rung động tâm hồn người con hiếu

 

Trước làn khói tan dần trong gió thoảng

Mất cha lành con chịu kiếp mồ côi

Rồi từ đây trong con thấy trống vắng

Ơn dưỡng dục sanh thành chưa đền đáp

 

Cha yêu ! nhớ từ hôm con cất bước

Ai đưa con đến chốn cửa thiền?

Ai đưa khuyên con gắng niệm chuyên cần

Lo tinh tấn trên bước đường tu học

 

Dầu phải chịu những gian nan khổ nhọc

Lời khuyên xưa con nhớ măi cha ơi

Dầu hôm nay cha đă mất đi rồi

Dù không muốn nhưng con cũng cam đành

 

Thân xác cha vùi chôn trong đất lạnh

Nhớ bóng h́nh vẫn sống măi trong con

Măi nhớ rằng ơn nặng đáp chưa tṛn

Vu Lan đến gợi ḷng con tưởng nhớ.

Dâng tâm thành con hết ḷng cầu nguyện

Kính lạy Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên

Noi gương Ngài con quyết chí tu hành

Mong độ được phụ thân và sanh chúng

 

 Mùa an cư Tu Viện Quảng Đức 6-7 đến 16 -7

Thích Minh Tri ^

 

Yêu thương là tha thứ.

 Có một câu chuyện kể lại như sau:

Một cặp vợ chồng nọ căi nhau như cơm bữa. Một hôm giữa lúc người vợ đang hăng say to tiếng, người chồng liền đề nghị:” Chúng ta đă căi nhau quá nhiều lần, anh đề nghị một giải pháp. Mỗi người lấy một mảnh giấy viết lên đó tất cả những lầm lỗi thiếu sót của nhau, rồi trao cho nhau đọc. Anh hi vọng đây là lần cuối cùng chúng ta kết tội nhau”. Người vợ đồng ư.

Người chồng liền đặt bút xuống tờ giấy, Ông nh́n sang bà vợ rồi viết một câu. Thấy thế, người vợ liền hạ bút viết liên hồi, bà kể ra vanh vách các tật xấu thiếu sót của chồng. Trong khi đó thỉnh thoảng người chồng mới viết một câu rồi đến lúc không c̣n ǵ để viết nữa, họ trao cho nhau bản kết tội. Nét mặt người vợ bỗng biến sắc v́ xúc động. Bởi v́ trên mảnh giấy của người chồng vừa trao, bà chỉ thấy có mỗi một câu, được lặp đi lặp nhiều, “Anh yêu em”.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy được rằng trong các mối quan hệ của đời sống, ta nên biết thương yêu nhau, có thương nhau mới có sự tha thứ cho nhau những lầm lỡ. Đừng lấy ác báo ác, lấy lời nguyền rủa đáp lại nguyền rủa. Hăy đến với nhau bằng tâm hồn hiền ḥa, với ánh mắt sáng trong. Hăy nắm tay nhau như loài hoa Tigon, hể có một dây hoa buông giàn th́ sẽ có một dây khác đưa ra để nâng lấy.

Nên không bao giờ có một dây Tigon nào sà xuống đất. Cuộc sống con người rất ngắn ngủi so với vũ trụ, thật không sánh bằng hạt cát trên sa mạc. Nhưng con người lại có trái tim biết sầu, biết cảm, biết thương yêu và tha thứ. “Tâm hồn không phải là con tim, con tim có nhịp đập riêng của nó”. Vậy chúng ta  nên nối lại nhịp cầu muôn thuở, đến với nhau, xích lại gần nhau trong t́nh huynh đệ, cho nhân loại tăng thêm sức sống.

Quảng Hỷ. ^

 

 

Mặc Niệm 

 

Ta nhớ măi mùa an cư tu học

Tại Melbourne giữa tháng bảy mùa đông

Tiếng chuông ngân d́u dặt chốn thinh không

Tu Viện Quảng Đức An Cư Kiết Hạ

Ta đội ơn chư Tôn Đức Tăng Ni

D́u Phật tử trở về nơi thanh tịnh

Lời thuyết pháp soi tường thân tâm nghiệp

Đoạn oan khiên, tam nghiệp chướng duyên trần

Ta sám hối trong lời kinh tiếng kệ

Ta ăn năn khi chuông đổ công phu

Ta thọ nhận dưa  muối bát tương đầy

Ḷng vui sướng Đấng Từ Bi tế độ

Ta quỳ xuống chắp tay dâng lời nguyện

Trụ thân tâm, giữ định giới kiên ḷng

Theo Bồ Tát tŕ tu đường Chánh đạo

Đoạn luân hồi, giải thoát kiếp phù sinh.

 

Trường Hạ Quảng Đức

6-16/7/2004

Nguyên Nhật An Trà My ^

 

Bài kệ Hô Canh buổi tối

 

Sơ canh dĩ đáo thượng thiền sàng

Tam nghiệp tịnh trừ đổ Thánh nhan

Thâm tín Phật ngôn hằng niệm Phật

Chỉ tu nhất hướng nhập Tây Phương.


Sanh tử đại sự, vô thường tấn tốc ngưỡng lao đại chúng, an toạ thiền trung, các các nhất tâm niệm Phật .
Nam Mô A Di Đà Phật ( 1 hồi kiểng)

Dịch nghĩa:

Canh đầu đă đến lên thiền sàng

Ba nghiệp sạch rồi thấy Thánh nhân

Tin lời Phật dạy luôn niệm Phật

Chí thành tu niệm văng Tây Phương

 

Sanh tử là việc khó, bất chợt đến mau, mong rằng đại chúng, hăy cùng nhau nhất tâm niệm Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật

 

Bài kệ Hô Canh buổi khuya

 

Ngũ canh dĩ đáo pháp môn khai

Phổ nguyện đồng đăng Bát Nhă đài

Liễu triệt Tam thừa dung nhị đế

Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai.

 

Sanh tử đại sự, vô thường tấn tốc ngưỡng lao đại chúng, an toạ thiền trung, các các nhất tâm niệm Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Dịch nghĩa:

Canh năm đă đến pháp mở bày

Nguyện khắp cùng lên Bát Nhă đài

Thấu rơ ba thừa thông hai đế

Đèn tuệ soi cao sạch mây mờ.

 

Sanh tử là việc khó, bất chợt đến mau, mong rằng đại chúng, hăy cùng nhau nhất tâm niệm Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật


TT Thích Bổn Điền dịch
HT Thích Huyền Tôn
chỉnh ngữ
^

 

 

Giă từ

 

Mười ngày tu học nơi đây

Già Lam một cảnh đong đầy mến thương

Mai này cách biệt muôn phương

Vẫy tay từ giả ḷng vương vấn ḷng

 

Đồng Thanh^

 

Giới luật là thọ mạng của Chánh Pháp, Giới Luật c̣n  là Phật Pháp c̣n.


 

So SánhT́nh h́nh PG trong nước hiện nay:

GHPGVN và GHPGVNTN


TT Thích Quảng Ba (Soạn & Tŕnh bày)

 

 

Giáo Hội PGVN Thống Nhất

GHPGVN

Thời điểm và nguyên nhân thành lập

H́nh thành như hệ quả tất yếu, và chính thức là hậu thân: 1- của phong trào chấn hưng PG từ 1920s-1964 (sau hơn 300 năm đất nước bị qua phân, nội chiến và ngoại thuộc), 2- của Tổng hội PGVN do 6 tập đoàn Tăng/Cư sỹ thành lập từ 1951, 3- của Ủy ban Liên phái PG, qua nỗ lực chung trong cuộc vận động b́nh đẳng tôn giáo, công bằng xă hội hậu bán 1963 (thất bại qua h́nh thức qua chiến dịch Nước Lũ đêm 20/8/63 của chế độ Ngô, nhưng gây được ư thức hợp quần mănh liệt nơi 90+% Tăng Ni Phật tử toàn quốc, do đó có Đại Hội thành lập tháng 1/1964). Do 9 hệ phái PG lớn nhất đồng ư chung thành lập.

CSVN ép HT Trí Thủ đơn phương đi ‘vận động’ thành lập và ép buộc 8 ‘nhóm’ PG đến dự Đại Hội 1981 theo lệnh ‘cải tạo PG miền Nam’ (sau khi đă ‘cải tạo’ tan nát bộ máy hành chánh/quân đội, tư sản/tư bản, văn/nghệ sỹ, vv..-gây vô vàn tù tội, chết chóc-  sau khi chiếm đóng miền Nam) của Tổng Bí Thư đảng CSVN Nguyễn văn Linh. Sau đó hủy bỏ tư cách các giáo phái, hệ phái, tổ chức thành viên

Yếu tố tồn tại

Ḥa hợp qua giới luật trong tu học và thống nhất cương lĩnh hành động qua hoằng pháp giữa những thành viên Tăng Ni Cư sỹ Nam/Băc truyền (tự do tham gia và ly khai, không ràng buộc/ép buộc)

Nhà Nước: 1- ra lệnh thành lập, 2- kiểm soát/chỉ đạo, 3- tài trợ/lũng đoạn, 4- bóc lột và khủng bố trắng (làm cho Tăng/Ni sợ hăi, hèn nhát)

Thái độ chính trị

Đ̣i hỏi và giữ tư thế độc lập chính trị, không thân chính, không ủng hộ bất cứ đảng phái nào.

Hoàn toàn lệ thuộc và bị Nhà Nước CHXHCNVN chỉ đạo. Bị bắt buộc phải ủng hộ và phải ca tụng đảng CSVN.

 

Không tham chính (có thể thừa nhận bất cứ nhà đương quyền nào; không tùng phục-lựa chọn cũng không phủ nhận-chống đối bất cứ cơ chế Nhà Nước nào). Dàønh quyền độc lập trong việc ủng hộ chính sách ích quốc lợi dân và việc chỉ trích những chính sách trái chống dân quyền, dân sinh, dân chủ của mọi loại h́nh Nhà Nước và các đảng chính trị.

Bị buộc làm thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam; nhất nhất tuân lệnh và đợi lệnh của Nhà Nước; nhiều Tăng Ni bị buộc trực tiếp làm chính trị (đại biểu quốc hội, HĐ/UB Nhân Dân các cấp, vv..vv )

Tiêu chí hành động

Dân tộc- Đạo Pháp

Dân tộc – Đạo pháp – Chủ nghĩa xă hội

Cờ biểu tượng

Tự ư chọn và sử dụng rộng răi từ 1951 cờ Năm màu của PG Quốc tế

Nhà Nước CSVN cấm không được dùng cờ nầy

Phương pháp điều hành

Cấp GH Vức, Khuôn, Chi, Tỉnh hội do Phật tử và Tăng Ni tại đơn vị đó bầu chọn; GH Trung Ương do đại biểu GH cấp Tỉnh/Thành thỉnh cử hay bầu chọn. Tăng Thống do HĐ Giáo phẩm thỉnh cử.

CSVN không cho lập cấp GH địa phương; nhân sự cấp GH Trung Ương và Tỉnh phải do Ban Tôn Giáo sắp đặt và chấp thuận mới được. Pháp Chủ và các chức vụ GHTƯ đều do Nhà Nước tuyển chọn và áp đặt qua Đại hội.

Liên hệ Trung Ương – dịa phương

Tùy nghi linh động từng địa phương. GHTƯ chỉ đạo tổng quát và khuyến khích chứ không áp đặt và kiểm tra. Giáo phẩm TƯ và Địa phương ứng dụng tinh thần ḥa hợp truyền thống, lấy giới lạp kính trọng nhau. Không cư xử nhau bằng chức vụ GH mà vẫn có thể thống.

Theo lối trung ương tập quyền; mọi việc do TƯ chỉ huy và quyết định, y như hệ thống chính quyền hay công ty lớn. Chức vụ GH được coi quá trọng và nay quyền chuyên chính.

Kết nạp thành viên

Tự nguyện tham gia và ly khai; được tham gia nhiều GH cùng lúc; được giữ nguyên bản sắc, tổ chức, cơ cấu của Giáo phái, Hệ phái ḿnh

Sau khi bị phỉnh phờ và ép buộc tham gia Đại Hội 1981, lần lượt 8 hệ phái đă bị xoá sổ; GHPGVNTN không tham dự lại bị vu vạ là có tham dự

T́nh h́nh trước 1975

Thống hợp Miền Vĩnh Nghiêm là khối PG miền Bắc di cư với 11 tập đoàn Tăng già và Cư sỹ miền Nam (sau 64 có 2 tập đoàn rút ra); đến 1966 một thiểu số rút ra thành lập một GH trùng tên (thân chính); nhiều vị cao Tăng Nguyên Thủy PG tham dự làm thành viên ṇng cốt.

Chỉ một Hội PG Thống Nhất không sinh hoạt ǵ trừ việc làm kiểng cho chế độ (Ḥa Thượng Hội Trưởng sau 30/4/75 vào Nam thăm với  bộ đồ cán bộ, không có tăng phục, có công an theo canh).

Tư cách đại diện

GH có ảnh hưởng sâu rộng đến tuyệt đại đa số Tăng Ni Phật tử nam vĩ tuyến 17 và khối PG miền Bắc di cư

Tự cho có quyền đại diện tất cả Tăng Ni Phật tử trong ngoài nước

Muốn đi tu theo GH này

Cần có tín tâm nơi Tam Bảo, chọn minh sư thân cận, xin xuống tóc tập sự

Phải nộp đơn xin Nhà Nước, khai lư lịch, chờ Công an xét

Muốn đi học đạo

Cần được Bổn sư giới thiệu đến trường

Phải khai báo và xin coi có Công an chấp thuận không?

Muốn lập trường Phật học

Các vị tôn túc trong vùng họp bàn, góp công sức, chọn địa điểm, tùy duyên thành lập, báo Tổng Vụ Giáo Dục sau

Phải xin và chờ coi Chủ Tịch Tỉnh có chấp thuận không?

Muốn giám quản trường Phật học?

Chư Tăng có công lập ra PHV sẽ yết ma cung cử Ban Giám Viện

Phải do Ủy Ban Tỉnh xét chấp thuận trước

Muốn thọ giới xuất gia?

Bổn sư đào tạo, nhận xét, giới thiệu đến Giới đàn; Thập sư cho thi tuyển, vấn già nạn và cho tấn đàn theo cổ chế

Đă có rất nhiều ‘Phật tử (??)’ tự cạo tóc, không bổn sư, cần mua điệp đàn th́ có ngay.

Muốn lập giới đàn?

Sơn môn, hệ phái nào, hay GH cấp Tỉnh nào cũng có quyền tự lập; hễ Giới sư hợp cách, tấn đàn đúng nghi, th́ Tổng vụ Tăng sự chấp thuận và cấp Tăng tịch.

Chỉ có cấp Tỉnh Hội mới được lập GĐ. Phải có Nhà Nước và GHTƯ cấp giấy phép (có quyền không cấp) trước. Mọi chi tiết giới sư, giới tử phải đệ nạp Công an xét duyệt trước.

An cư kiết hạ?

Tuỳ duyên các Tự viện an cư nội bộ, hay các Ṭng lâm, Sơn môn an cư đại chúng

GH áp đặt bổn phận và chỉ định nơi tổ chức an cư tập trung; GH cấp giấy phép; GH cấp / bán Chứng Chỉ An Cư

Muốn làm giảng sư?

Nhờ qua kinh nghiệm tu học, và quá tŕnh giảng dạy, sẽ do Giáo Hội Tỉnh hay TƯ kính trọng cung thỉnh. Mỗi Tỉnh thường chỉ thỉnh 4-5 Giảng sư, ở GHTƯ cũng chừng hơn 10 vị. TV Hoằng Pháp có mở khóa Phú Lâu Na đào tạo, nhưng rất chọn lựa.

Phải đi học, có ḷ đào tạo hàng loạt, hay chỉ cần xu nịnh vị cầm quyền ngành Hơàng pháp (không cần học, v́ mua bằng Giảng sư khá dễ, và rẻ) là được công nhận là Giảng sư.

Muốn lập chùa?

Theo truyền thống, chỉ cần xin phép Bổn sư, rồi t́m cầu thí chủ ủng hộ. Hay xin Môn phái cho phép. Được chư Tăng yết ma thuận qua lễ An vị Phật. Nếu muốn gia nhập GH th́ xin. Trước 1975, GH không can dự, cấm chế việc các Tăng Ni lập chùa, mà chỉ công nhận.

Pháp luật không cho ai được lập chùa mới; nhưng nếu hối lộ thật nhiều cho các cấp chính quyền sẽ có giấy phép. Và phải là thành viên GHPGVN. Thành viên GHPGVNTN tuyệt đối không được phép làm ǵ.

Muốn làm Trụ tŕ?

Trước 1975, cần được Bổn sư chỉ định, tuyển cử; hay do Ban Hộ Tự chùa thiếu trụ tŕ thỉnh; hay do Sơn Môn công cử. GH sẽ đương nhiên thừa nhận sự tiến cử trụ tŕ này, không thể phủ quyết. Chính quyền không được có vai tṛ trong việc này. Truyền thống này cần tôn trọng.

Phải do công an xét duyệt (và có hộ khẩu trong chùa này hay không?); có quyền không cho. Mặt Trận và Ban Tôn Giáo Tỉnh có toàn quyền trong việc này.

Muốn được coi là tu sỹ chính thức

Chỉ cần tu học đúng theo chánh pháp, giới luật, và được Bổn sư nhận cho vào tu, dạy dỗ, dắt dẫn, là trở thành tu sỹ. GH và chính quyền trước 1975 không có vai tṛ, không được cho hay không cho ai làm tu sỹ, cũng không can dự vào sự xuất nhập của tu sỹ tại các chùa. NN sau 1975 không công nhận GHPGVNTN và tu sỹ của GHPGVNTN.

Phải chạy hối lộ, thật nhiều tiền, chờ đợi, chầu chực thật lâu (rất thường xảy ra là tiền mất tật mang) để Nhà Nước cho chuyển  hộ khẩu vào chùa. Nếu không có hộ khẩu trong chùa, dù tu 29 năm, lên Thượng Tọa rồi, vẫn là bất hợp pháp.

Tu sỹ muốn đi nước ngoài?

Trước 1975, không có quy chế khó khăn riêng cho tu sỹ của GHPGVNTN và những GH Phật giáo khác. Thủ tục xin passport như các công dân khác. Đi hành hương và du lịch theo nhu cầu, chính quyền không can thiệp. Nhờ học giỏi nhiều vị được cấp học bỗng du học. GH không có vai tṛ, hay can thiệp, ǵ trong việc xin passport.

Phải biết xu nịnh GH, hối lộ cho Mặt Trận, Công An, Ban Tôn Giáo và các cấp Ủy Ban mới được nộp đơn xin, và được cấp hộ chiếu. Có rồi cũng chưa yên, v́ đă nhiều lần NN thu hộ chiếu lại hay/và cấm đi nước ngoài.

C̣n nhiều so sánh khác, sẽ tiếp tục viết tiếp và xin thêm phê b́nh, nhận xét của huynh đệ Tăng Ni trong trường hạ

 

 

Ấn hành kinh sách?

 

 

 

Xuất bản, phát hành báo chí PG?

 

 

 

An Cư là thể hiện ḷng từ bi của Phật ^

(Bài tường thuật khóa An Cư)

Phổ Huân & Nguyên Tạng

Truyền thống An Cư Kiết Hạ phát xuất từ thời đức Phật c̣n tại thế, nghĩa là truyền thống tu hành qua phương tiện quy về một trụ xư, để thúc liềm thân tâm, trau dồi giới định tuệ mà Phật đă đặt ra cho chư Tăng Ni, trong lúc hoàn cảnh không thể t́m phương cách nào khác một khi muốn thể hiện long từ đến tất cả chúng sinh. Nguyên nhân này, mỗi năm vào mùa hạ cũng nhằm là mùa mưa, mùa mà côn trùng sinh nở. Việc côn trùng sinh nở đối với thế gian chẳng có ǵ lạ, nhưng đối với những con người luôn hướng ḷng từ đến mọi loài chúng sinh không phân biệt, th́ đây quả thật là vấn đề lớn, vấn đề sát sinh hàng loạt! Đức Phật là bậc đại từ, ḷng từ của Ngài tất nhiên làm sao chấp nhận việc tổn hại chúng sinh như vậy; hơn nữa việc Tăng đoàn của Ngài mỗi ngày phải rời Tịnh Xá khất thực thiền hành cũng chỉ là gieo ḷng từ qua phương tiện xin ăn (khất thực). Nhưng nay chỉ v́ việc xin ăn để gieo ḷng từ th́ việc di động, chấn động đến chúng sanh trong thời gian này hóa ra lại trở thành mâu thuẩn! Chúng ta nhớ rằng Tăng đoàn của Phật rất đông, khi di chuyển gần cả ngàn người hoặc hơn nữa, sẽ tạo ra gần như một trận động đất cuồn phong khủng khiếp cho loài nhỏ nhít dưới chân các Ngài. Cho nên việc ở yên một chồ thúc liễm thân tâm tu niệm, thể hiện ḷng từ bi đến vô số côn trùng, điều này lại thể hiện phương pháp độ sanh cao cả hơn ! Cũng như thế mà hàng Phật tử tại gia lại hết ḷng pḥ tŕ trợ lực cung dưởng quư Ngài để hàng Phật tử tại gia, xuất gia thể hiện cụ thể giáo pháp sống động giải thoát nơi thế giới dễ tao ác nghiệp này.

Cho đến hôm nay, h́nh ảnh truyền thống An Cư Kiết Hạ ấy vẫn c̣n măi đến ngày nay; và hàng Phật tử tại gia hiểu được điều này nên ḥa hợp cùng chư Tăng Ni giữ măi truyền thống từ bi đó. Tuy nhiên dù hôm nay, Phật pháp phát triển khắp nơi trên thế giới; hàng đệ tử Ngài dù chỉ cảm nhận An Cư Kiết Hạ qua tinh thần lư học, hơn là kinh nghiệm thực tế  đời sống ngày xưa, nhưng điều này vẫn tạo được cơ hội nhân duyên tụ về một nơi nhắc nhở sách tấn ôn lại h́nh ảnh đời sống sinh hoạt của đấng Thế Tôn. Và ngay nơi việc tụ họp về một nơi, tụng kinh học giới đă là thực hiện ḷng từ bi của người con Phật, bởi v́ theo lời Phật dạy, ngày nào mà các đệ tử của Ngài c̣n tụ họp, ḥa hợp, thảo luận chung lo cho Phật pháp th́ ngày đó giáo pháp giải thoát của Như Lai vẫn c̣n sáng ngời ở thế gian này. Như thế quả thật Đức Phật đă đưa ra một pháp tu thiết thực và quan trọng nhất của đời sống người tu sĩ qua mùa tu học Kiết Giới An Cư trong mỗi năm, và dù hoàn cảnh hay thời gian nào, ư nghĩa thâm sâu đó vẫn măi măi không bao giờ phai nhạt.

Như thường lệ, năm nay Giáo Hội PHật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngọai tại Úc Đại Lợi và Tân Tân Lan, trong nỗ lực vượt mọi khó khăn, cuối cùng thuận duyên tổ chức An Cư tại Tiểu Bang Victoria thành phố Melbourne nơi trụ xứ Tu Viện Quảng Đức Tăng Già Lam. So với mùa An cư năm rồi được tổ chức tại Tu Viện Vạn Hạnh, năm nay Chư tôn đức tụ về tương đối khá đầy đủ hơn. Số lượng Tăng Ni tính được trong ngày đầu nhập khóa hôm nay (6/6/2004) là 60 vị, và Phật tử tại gia cũng lui về Tu Viện gần năm mươi người. Điều mà tất cả hai giới đệ tử Phật lấy làm hoan hỷ nhất, là dù thời tiết Melbourne ai cũng lo về cái lạnh bất thần, bất thần ngay cả trong mùa hạ, nói ǵ đến mùa đông; mùa đông đă lạnh mà c̣n bất thần lạnh nữa là sao? Đó là cái lạ của tiểu bang này, nói cách khác là thời tiết Melbourne ai cũng sợ, v́ cái lạnh của nó khác hơn tất cả tiểu bang khác trên đất nước này! Ấy vậy mà chư Tăng Ni và Phật tử chẳng ngại ǵ cái lạnh đó! Có lẽ v́ trong ḷng có cái ấm, cái ấm của người con Phật! Cho nên dù lạnh mà tất cả vẫn vui, vui nhịp nhàng vui tu trong mùa lạnh.

Tu Viện Quảng Đức, là nơi sinh hoạt mới, vừa được khánh thành. Tu Viện có một không gian rộng lớn, có thể dung chứa trên một trăm người ngũ lại qua đêm; như vậy nếu không phải trong mỗi Phật tử hiện đủ cái ấm say mê ham tu Phật pháp th́ chắc sẽ khó mà vui tu được với không gian trống trải rộng lớn của pḥng xá khi đang thời tiếc giá lạnh này.

Vẫn theo quy củ thiền môn qua phương tiện hành đạo, đă được chư Tăng Ni ôn ḥa lập ban chức sự, nhịp nhàng sinh hoạt cho một ngày đầu khai mạc mùa An Cư kiết đông năm nay 2004.

Xin xem các thời khóa sinh hoạt của Trường Hạ năm nay, nếu thấy thuận tiện, xin các vị hoan hỷ tham dự hoặc vào nghe giảng trên Paltalk. 

Việc nào rồi cũng trôi qua, thắm thoát đă đến ngày măn hạ “thập nhựt nhị tuần” (mười ngày); quư Thầy Cô, Quư Cư sĩ Phật tử cũng mệt nhoài: v́ thời tiết, v́ công việc, cố gắng dốc ḷng cho Trường Hạ được thông suốt mười ngày. T́nh đạo cao quư như thế, khiến suốt trong mười ngày không có ǵ đáng nói xảy ra, đây có lẽ Thiện thần hộ pháp gia bị, ũng hộ trợ lực lực Trường Hạ, đúng như tinh thần “... ũng hộ Phật pháp xử trường tồn”.

Bù lại qua những ngày tu tập tinh chuyên, trước ngày măn hạ một ngày; Ban Tổ Chức, Thượng Tọa Hóa Chủ và Đại Đức Phó Trụ Tŕ muốn lưu lại h́nh ảnh vui trong ngày chia tay, qua h́nh thức tạo nên buổi trà đạo thăm t́nh. Giống như Trường Hạ năm rồi, h́nh ảnh Thầy tṛ, huynh đệ quay quần tâm sự, ngâm thơ, hát xướng khiến mọi người ghi lại ḷng cảm ân Phật pháp nhiệm mầu, nói lên được những phiền trược dù vây bủa con người, nhưng ư thức giải thoát vẫn vươn lên nơi ḷng của người con Phật. Và ít ra giải thoát ngay hiện tại, ngay giờ phút tỉnh thức cuộc đời là vô thường này.

Năm nay giờ này không khác, Thầy tṛ, huynh đệ một lần nữa ngồi lại tâm sự chia xẻ, vui vầy văn nghệ nhắc nhở kinh nghiệm tu học, kinh nghiệm hoằng hóa, kinh nghiệm cuộc đời của tự chính ḿnh, và cụ thể nhất là kinh nghiệm tu học trong mười ngày mấy ngày qua.

Buổi trà đạo được đóng góp chia xẻ cảm tưởng, ư hướng, trong niềm vui hỷ lạc, và buổi trà đạo vui tươi nhất là tiết mục văn nghệ. Quư Thầy, quư Cô, quư Phật tử hăng say diển xuất tài nghệ của ḿnh, bằng mọi thể loại giúp vui như: nhạc, thơ, kịch, vọng cổ...

Không thời gian lúc này h́nh như thu nhỏ lại, như nuối tiếc niềm thương mến trong t́nh đạo với nhau; nhưng biết như vậy, mọi người càng thấy vui, v́ có như thế tất cả mới rơ nghĩa của vô thường.

Bên ngoài khí lạnh hôm nay vẫn như ngày đầu nhập hạ, như nhắc nhở rằng thời gian, không gian, khí trời thay đổi, hay không thay đổi thế nào, tất cả đều là mầu nhiệm cho người sống tỉnh thức, ư thức được các pháp đều duyên khởi không ngừng.

Lễ tự tứ ra Hạ diễn ra ngày hôm sau, và trong lễ bế mạc này Trường Hạ biếu  tặng cho mỗi vị một tập Kỹ Yếu; nói là biếu tặng, thật ra đại chúng cũng đă đổi lại, đóng góp với số tịnh tài cho chi phí in ấn.

Trong dịp An Cư mỗi năm như vậy, đây là dịp chư Tăng Ni có cơ hội tựu về,  và ngoài việc tu học chia xẻ kinh nghiệm chung lo Phật pháp, thiết thực cụ thể quan trọng nhất, đó là buổi họp thường niên được diễn ra ngay trong thời gian An Cư này. V́ Tổ chức nào hẳn phải có cơ cấu, hệ thống làm việc, do đó phương diện hiện pháp hóa duyên hoằng đạo cần phải phương tiện phần nào thống nhất hiểu biết nhau. Chính đây mà những buổi họp của Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN UĐL-TTL thường xuyên củng cố duy tŕ sinh hoạt thông qua bằng sự gia tâm phấn đấu phụng tŕ Phật pháp của các Tăng, Ni, Cư sĩ Phật tử, và chính như vậy là phương tiện thiện xảo đưa đạo vào đời.

Được biết Trường Hạ An Cư lần thứ sáu (2005) sẽ được tổ chức tại chùa Phổ Quang Tây Úc (Perth). Cũng như xin nhắc lại Khóa Tu Phật pháp của Giáo Hội cuối năm nay được diễn ra ở tiểu bang Victoria thành phố Melbourne tại Tu Viện Quảng Đức.

Xin cầu chúc chư Tôn Đức Tăng Ni, và đại chúng thân tâm thường an lạc, và pháp vị giải thoát, dư âm An Cư Kiết giới tại Trường Hạ vẫn c̣n măi nơi ḷng chư vị.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Ban Thư Kư Trường Hạ lược ghi^


 

Ngôi chùa mang tên Bồ Tát Quảng Đức trên đất Úc

Thích phổ huân 

Là người Phật tử Việt Nam không ai lại không nghe về vị Bồ Tát sống, thiêu thân v́ đạo, v́ quê hương, v́ chân lư, đó là Bồ Tát Thích Quảng Đức (1897 – 1963). Sự kiện từ bi và trí tuệ của Ngài chỉ để đánh thức tánh linh con người quay về với chân thiện trong đức tính hiếu sinh ḥa b́nh nhân ái, chứ không hạn cuộc bản ngă tầm thường vị kỷ giữa phân định đối kháng chánh tà. Chính thế h́nh ảnh ngồi kiết già nhập định ḥa vào ngọn lửa thiêng trở nên bất tử, và tên Ngài đă đi vào lịch sử đến nay. 

Kể từ đó, tên tuổi Bồ Tát, h́nh ảnh Bồ Tát được ca tụng tán dương qua bao thi văn nhạc đạo - và không những từ quốc nội, danh hiệu Bồ Tát đă vượt quá biên cương, theo người con Phật Việt Nam đến khắp cùng hải ngoại.

Nơi đây, Úc Đại Lợi, tiểu bang Victoria thành phố Melbourne thuộc vùng Fawkner, một ngôi chùa Việt xinh xắn trang nghiêm đầu tiên mang danh hiệu Ngài. Và giờ đây, ngày trọng đại đă đến; ngày Khánh thành Tu Viện Quảng Đức chính thức giới thiệu đến mọi người con Phật trên đất Úc nói chung, và tiểu bang Victoria nói riêng.

Không những danh hiệu Bồ Tát làm ngôi chùa linh nhiệm, mà h́nh dáng kiến trúc đặc thù lại nỗi bật tuyệt hăo của truyền thống Á Đông.

Tầm vóc ngôi chùa Quảng Đức không phải lớn nhất ở Úc hay ở Melbourne, nhưng cũng không phải nhỏ so với nhiều ngôi chùa Việt đă có mặt tại đây từ hơn thập niên qua - lại cũng có thể gọi là lớn, v́ có thể dung chứa khóa tu học từ 100 đến 200 Phật tử nghỉ lại qua đêm. Tuy nhiên đặc biệt hơn, Tu Viện Quảng Đức là nơi bắc một nhịp cầu nghiên tầm giáo lư khởi sắc quy mô, qua mạng lưới điện toán thông tin toàn cầu (Internet) www.quangduc.com, đây là một “tờ báo điện tử Phật pháp” thật lợi ích thiết thực cho hàng Phật tử mọi nơi trên toàn Úc châu, cả đến toàn cầu. Điều này thật t́nh mà nói, cho tới nay chưa có Tu Viện hay chùa nào trên đất Úc theo kịp.

Tu Viện Quảng Đức c̣n là nơi Trung Tâm văn hóa duy nhất trong thành phố Moreland; tạo nhiều cơ hội cho mọi người không phân biệt sắc thái, tin ngưỡng lui tới viếng thăm chiêm bái, nghiên cứu, tu học.

* * *

Hiện hữu của ngôi chùa là một duyên khởi biến động qua vô số nhân duyên chập chùng - ngần ấy nói lên người, vật liên hệ mật thiết và sự nhiệm mầu của lư duyên sanh - nhưng cụ thể phải được khởi lên từ một tâm thức thuần chân hướng thiện. Chúng tôi muốn nói đến vị trụ tŕ Đại Đức Thích Tâm Phương; Người thao thức v́ nhu cầu tâm linh của hàng Phật tử, nên đă kiên định nỗ lực vượt quá sức ḿnh tạo măi bằng tất cả tấm ḷng, bằng mồ hôi và cũng có thể là nước mắt. H́nh ảnh nầy chắc chắn hàng Phật tử thuần thành đă theo chân Thầy từ rất sớm của những thập niên 90; thấy được ưu tư tha thiết của Thầy là niềm ước vọng chung, nên từ đó trở thành nhân duyên thành tựu như ngày hôm nay. Vậy công đức đó là công đức tất cả, và Thầy trụ tŕ hoan hỷ tâm đắc hơn ai hết!

Chúng tôi khách quan nh́n ngôi già lam Quảng Đức trong niềm tán thán, nhưng chủ quan trong đạo t́nh chung tùy hỷ. V́ chánh pháp lại hiện khởi lên từ nơi đất lạ, khi ḷng người con Phật chẳng thấy khác ở khắp nơi. Đây quả đúng như hai câu đối mà Ḥa Thượng Huyền Tôn đă đề tặng trong ngày Khánh  thành Tu Viện sắp tới:

Quảng đại tâm pháp giới tùy duyên quy diệu dụng

Đức lưu phương Tăng già nhập thể hiện chơn như 

Vậy th́ từ đây, nhân duyên nào ghé thăm tiểu bang Victoria, chắc chắn tôi phải dừng chân nơi Tu Viện, mang tên vị Bồ Tát thiêu thân v́ đạo, để chia xẻ niềm vui với người con Phật nơi này. Tôi lại thấy hai câu đối nữa không quên về Tu Viện:

Quảng độ chúng sanh giữ trái tim son ngời phật pháp

Đức trùm muôn loại đốt thân trí tuệ cứu quần sanh.

(Cố TT Quảng Hiện).

Đó, bấy nhiêu lời kính ghi, chia xẻ niềm vui cùng chư vị tôn đức ngôi già lam Quảng Đức, chia xẻ niềm an lạc với Phật tử Melbourne, từ đây có duyên tu học ấm cúng tiện nghi, để nung đúc bồ đề tâm ngày càng kiên cố.

Xin kính chúc Thầy Trụ tŕ luôn luôn an trụ an lạc để tiếp tục con đường hoằng hóa; lại kính chúc Thầy Nguyên Tạng người đặc trách phát huy trang nhà (internet) văn hóa Phật Giáo ngày càng cập nhật đời sống hơn; cùng kính chúc Quư Thầy, Quư Sư Cô chúng già lam Quảng Đức thân tâm an lạc để đốt măi ngọn đèn trí huệ ngày càng sáng rực hơn (truyền đăng tục diệm).

Tôi xin mạn phép trích hai câu đối của Ḥa Thượng Bảo Lạc tăng Tu Viện Quảng Đức  để thay lời kết, trong niềm kính chúc ư nghĩa nhất:

Quảng nhiếp hàm linh chân thật ngữ, chân thật ư, chân thật hành nghi

Đức khai phương tiện như thị văn, như thi tư, như thị tu tŕ ./.^

 

 

---o0o---

[ Trở về Trang An Cư Kiết Hạ năm 2004 ]

 

 

 

****
 

Trở về Trang h́nh ảnh sinh hoạt

 


 

 

****
Văn Pḥng Tổng Thư Kư
12 Freeman Road,
Durack, Queensland, 4077. Australia
Tel: 61.7.3372 1113
Website: www.phatgiaoucchau.com

Email: phatgiaoucchau@yahoo.com