Home
 


Chùa Pháp Luân
13913 S. Post Oak Road
Houston, TX 77045, USA
Tel: (713) 433 4364
Website: http://www.phapluan.com

 


 

T́nh đời, Ư đạo
(Cuộc đời Thánh tăng Ananda)

Ḥa thượng Hộ Giác
---o0o---

 


Mục Lục

 

Lời nói đầu

Phần 1

Một Tâm Hồn
Nơi hoàng cung Ca-b́-la-vệ
Đời bằng hữu
Lệnh bà Mahà Pajàpati

Phần 2

Yêu là khổ
Chạy trốn t́nh yêu
Đoạn ĺa phiền năo

Phần 3

Tể tướng Bandhula và Nhà vua
Nơi rừng Xu-xi
Bản chất Ái dục

Phần 4

Ngôi chùa Kỳ-viên
Năm mỹ tướng
Đại tín nữ Vísàkhà
Phật lực
Phước và Tội
Người thiện, người ác
Một nghĩa cử vô cùng cảm động
Một tấm ḷng

Phần 5

Biểu tượng Pháp bảo
Công đức tri ân
Lần gặp gỡ sau cùng
Giây phút quyết định
Đại đức Ananđa khóc kể
Tại vườn Long Thọ

 

 

 

Lời nói đầu

Ăn cơm có canh tu hành có bạn. Trong hầu hết hoàn cảnh sống, sự kết giao thân cận để có đối tượng tôn thờ, nương tựa là điều tối cần. Thiếu đối tượng, chúng ta sẽ lạc lơng, bơ vơ, cuộc sống trở thành mất hương vị, vô bổ. Bản chất đời sống là t́nh cảm. Lộ tŕnh thành đạt nguyện ước đời sống là lư trí. T́nh cảm thiếu lư trí là t́nh cảm ích kỷ, yếu hèn. Lư trí thiếu t́nh cảm là lư trí lập dị, cực đoan. Sự dung ḥa được hai yếu tố cơ bản này là một đóng góp lớn trong công tŕnh thực hiện một thế giới "Nhân gian cực lạc".

Nếu cuộc đời có cả mật ngọt và mật đắng, có nghĩa địa và có vườn hoa th́ tại sao ta không áo mật ngọt ngoài viên thuốc đắng; và tại sao ta không thiết lập vườn hoa tại nghĩa địa để làm dịu quang cảnh chết chóc thê lương, hoặc tại sao ta không trồng hoa dọc theo con đường đưa đến nghĩa trang để mọi người thưởng ngoạn. Cái ư nghĩa đích thực của cuộc sống là ở chổ đó.

Nếu biển cả có những hải triều gào thét liên hồi, xô đẩy mảnh liệt, th́ cũng có những cánh buồm căng gió nhảy sóng nhịp nhàng, nhấp nhô ẩn hiện khiến nhà thơ tức cảnh sanh t́nh.

Cái vui của đời tại ḿnh ích kỷ muốn ôm giữ làm của riêng nên nguồn vui không được rộng tỏa, cái vui bị giới hạn, không được cùng nhau san sẻ. C̣n cái khổ th́ cố t́nh xô đuổi một ḿnh, xô đuổi không được th́ bực ḷng khổ sở v́ thiếu người thông cảm sớt chia. Chúng ta quên rằng cái vui th́ bao la như bầu trời, cái khổ th́ mênh mông như biển cả. Hăy để bầu trời cho không gian, hăy để biển cả cho nguyên vị. Đừng ngây thơ phí sức trong hành động lấp bể vá trời.

Đi ngược sự thật là chuốc lấy đau khổ. Thái độ khôn ngoan để khỏi bị đau khổ là dám chấp nhận sự thật, hoặc không chối bỏ sự thật. Mà sự thật đấy là có cả mật ngọt và mật đắng trong cuộc đời.

Để có đối tượng tôn thờ, nương tựa, chúng ta hăy quay về chánh pháp, quay về cuộc sống nội tâm. Bản tánh nguyên thủy vốn trong sáng nhưng v́ chúng ta vô t́nh chối bỏ không bám víu để làm đối tượng nên chúng ta bị đẩy ra khỏi ánh sáng. Do đó, đời sống mịt mờ, tương lai tắt nghẻn.

Như đă nói: t́nh cảm và lư trí là hai yếu tố vô cùng quan thiết. Phối hợp nhịp nhàng được cả hai là chúng ta đă có đối tượng sống.

T́nh cảm và lư trí từ con người mà có. Vậy đối tượng cuộc sống là con người. Đức Phật là chứng nhân đă dung hợp và thực nghiệm có kết quả.

Sự dung hợp của Đức Phật không có tính cách cố định. Không nhất đáng lư trí phải thắng t́nh cảm hay ngược lại. Mà tất cả tùy thuộc nhân duyên. Nếu nhân duyên thích hợp với t́nh cảm th́ Ngài dùng t́nh cảm trước, c̣n nhân duyên ứng dụng với lư trí th́ Ngài áp dụng lư trí. Cái trước và cái sau của Đức Phật được thể hiện một cách diệu dụng.

V́ vậy, trên phương diện nhập thế dẫn đạo, Đức Phật và hàng môn đệ cũng linh động khế lư tùy cơ. Trường hợp Đức Phật nhất quyết không chấp nhận dùng cháo của Đại đức Ananda, không nhận thực phẩm của thầy Subhadda v.v... chứng tỏ thái độ cứng rắn, dùng lư trí trước t́nh cảm. Trường hợp Ngài đích thân qua Tây cung để an ủi Da-du-đà-la hoặc cho phép thiếu nữ Kokilà vào hầu v.v... chứng tỏ thái độ mềm dẽo, dùng t́nh cảm trước lư trí.

Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Hàng môn đệ của Ngài cũng đă thành công nhờ nguyên tắc căn bản: "Tùy duyên bất biến" này. Điển h́nh là Đại đức Ananđa mà nội dung quyển sách nhỏ này đề cập đến một phần lớn. Chẳng hạn như lúc c̣n là công tử, Đại đức cũng đă cứng rắn và quyết liệt trong vấn đề cử phái đoàn đi thỉnh Phật, và quyết định một ḷng xuất gia theo Phật. Sau khi xuất gia, Đại đức đă noi gương Đức Phật trong công cuộc độ đời. Có lúc Đại đức tỏ ra cứng rắn dứt khoát như trường hợp quyết hy sinh mạng sống thay cho Đức Phật. Sự quyết tâm bất chuyển của Đại đức đă được minh định như sau khi Đức Phật 3 lần bảo lùi lại sau mà Đại đức vẫn bất động trong tư thế quyết tử. Đây là sự dung hợp t́nh cảm lư trí một cách nhịp nhàng trong sự rung cảm chân thành của con tim và sự khẳng định thuần lư của khối óc.

Có khi Đại đức phải khổ cực trong vấn đề tiếp độ mà lộ tŕnh được dẫn đầu bằng t́nh cảm. Chẳng hạn như thái độ thực sự mềm dẽo của Đại đức trong câu chuyện tiếp độ thiếu nữ Kokilà, thái độ tích cực năn nỉ Đức Phật cho phép nữ giới được xuất gia, thái độ chịu khó ngồi nghe hoàng tử Tứ Binh kể chuyện t́nh ái v.v... Tất cả biểu lộ khả năng tiếp nhận để khơi nguồn cho gịng suối giác ngộ. Và cũng chính đó là những nét độc đáo, thực tế, thực nghiệm, và thực chứng của Đạo Phật.

Thân thế, sự nghiệp và công tŕnh đóng góp lớn lao cho Đạo pháp của Đại đức đă được ghi đậm trong trang sử đạo, sáng ngời qua thời gian và không gian.

Chúng tôi nhận thấy tác phẩm hữu ích có tánh cách thời đại nên cố gắng soạn dịch. Về nội dung và chương mục th́ chúng tôi có mạn phép bỏ bớt để phù hợp với tâm t́nh của người Việt Nam.

Chúng tôi cảm thấy ngần ngại, băng khoăn trong việc thời đại hóa những sự kiện liên hệ đến một nhân vật lịch sử, một vị Thánh Tăng như Đại đức Ananda.

Tuy nhiên, chúng tôi tự biện hộ rằng dù sao quyển sách nhỏ này cũng góp phần khiêm tốn trong việc đầu tư kiến thức đạo đức vào đời sống anh, chị, em thanh niên, thiếu nữ có dịp thưởng ngoạn sắc hương của vườn hoa đạo.

Tất cả sự kiện được mô tả ở đây là những tấm gương sáng phản ảnh trung thực t́nh người, t́nh thầy tṛ, t́nh đạo bạn. Do đó, chúng tôi đặt tên quyển sách: "T́nh Đời, Ư Đạo".

Thích Hộ Giác

 

 

Phần 01

 

Một Tâm Hồn

Có hai vị Sa-môn đi ngang qua cánh rừng và đang tiếp tục trên lộ tŕnh bằng phẳng. Vị đi trước sắc diện hồng hào, nghi dung trang nhă, phong điệu uy nghiêm, đáng cho mọi người chiêm ngưỡng. Lá y màu vàng bằng vải thô nhưng cũng đủ thanh lịch.

Vị đi sau tuy không phương phi, uy dũng như vị đi trước nhưng tương đối cũng trang nghiêm phong nhă. Khoảng cách giữa hai vị vừa vặn, không quá xa, không quá gần.

Khi đến khúc đường rẻ đôi, vị đi trước vừa định quẹo phải th́ vị đi sau liền lên tiếng:

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử hữu sự rẻ trái.

- Này Na-gá-sá-ma-lá, không nên. Như Lai có duyên sự quan trọng cần phải độ sinh ở phía tay phải.

- Đệ tử hữu sự muốn rẻ trái.

Đức Phật năn nỉ:

- Này Nagasamala, đừng làm như vậy, hăy theo Như Lai đi về tay phải.

Mặc dù Đức Phật đă ba lần ngăn cản nhưng Nagasamala không tuân lời. Cuối cùng, thầy bỏ bát Đức Phật giữa đường và liền đi về tay trái theo sở thích. Đức Phật lượm bát, một ḿnh thui thủi hướng về phía tay mặt.

Một lần khác, thầy Mêkhida làm thị giả, theo Đức Phật đi qua làng Chanh-tu, tỉnh Ba-chi-ná-oăn-sá. Buổi sáng, thầy đi khất thực. Lúc trở về, thấy một vườn xoài xum xuê, mát mẻ, thầy nảy sanh ư định đến đây tham thiền, bèn bạch xin phép Đức Phật.

Đức Phật khuyên ngăn ba lần.

Nhưng thầy Mê-khí-dá một mực cải lời, bỏ Đức Phật một ḿnh và ra đi về hướng vườn xoài để hành đạo. Song thầy hoàn toàn thất bại. Tâm thầy xáo trộn, vọng động không ngừng. Các tà tư duy, như tư duy về ái dục, về nhiễu hại, về oán thù, nổi lên đột phá dữ dội, dù trạng thái yên lặng tạm thời, thầy cũng không t́m được.

Cuối cùng đành phải trở về lễ Phật. Đức Phật chẳng những không để tâm về những hành động nông nổi gần như phạm thượng của thầy mà trái lại c̣n dùng lời từ mẫu khuyên lơn:

-Mê-khí-dá ơi, tâm vốn loạn động, khó giữ, khó dạy. Bậc trí tuệ tích cực uốn nắn, khiến nó phải thuần thục như tay thiện xạ uốn nắn mũi tên. Mê-khí-dá này, tâm hằng chạy theo nhập cuộc ngoại cảnh nhất là ngũ dục như cá thích nước. Do đó, nếu bị bắt lên bờ th́ nó dăy dụa không yên. Tâm tuy khó dạy, nhưng nếu dạy được th́ sẽ hàng phục được Ma Vương.

Sự thật Đức Thế Tôn nào muốn ngăn cản công tŕnh tu chứng của môn đồ, nhưng v́ thấy rỏ căn cơ chưa đến thời kỳ liễu ngộ, nên Ngài mới khuyên ngăn đó thôi.

Suốt 20 năm đầu kể từ ngày thành đạo, khoảng thời gian 35 đến 54 tuổi Đức Phật không có vị Thinh văn nào làm thị giả cố định: khi thầy U-bá-va-nạ, khi thầy Na-ghí-tá, khi thầy Su-năc-khăt-tá, khi thầy Sa-gá-tá, khi thầy Rathá, khi thầy Na-gá-sá-ma-lá hoặc thầy Mê-khí-dá đă hành động nông nổi như vừa lược kể và, c̣n có Sadi Chuôn-tá, bào đệ của Ngài Đại đức Xá Lợi Phất nữa.

V́ không có thị giả phục dịch thường xuyên, nên Đức Phật phải chịu cực khổ vô cùng. Các vị thị giả bất đắc dĩ cứ thay nhau phục dịch Ngài một cách gượng gạo, tắt trách.

Vấn đề thị giả là một sự cần thiết, hợp lư, v́ Đức Phật có rất nhiều Phật sự phải làm, một ḿnh không thể hoàn tất mọi việc nên Ngài rất cần thị giả. Chẳng hạn như ngoài 5 điều thường hành Phật sự có tánh cách cập nhật hóa Ngài c̣n phải họp tăng, tiếp khách tứ phương, từ hàng vua chúa thượng lưu đến hàng thường dân lao động, từ bậc xuất gia đến hàng cư sĩ nhất là nữ Phật tử. Tư cách một vị Phật tổ không cho Ngài tiếp khách nữ một ḿnh. Đó là chưa nói đến thỉnh thoảng Đức Phật nhập thất, không tiếp bất cứ ai. Trường hợp ấy, lẽ dĩ nhiên, mọi Phật sự đều do thầy thị giả xử lư.

Vấn đề thị giả quan trọng và cần thiết là như vậy. Chúng ta không nên vô t́nh hiểu sai hoặc cố t́nh xuyên tạc cho rằng Đức Phật muốn quan trọng quá cá nhân mà mang tội.

V́ những lư do vừa kể, có một lần, tại Kỳ Viên Tịnh xá, kinh đô Sa-quách-thi, xứ Cô-sa-la trước số đông chư vị Tỳ kheo nhất là các vị Tôn túc trưởng lăo, có cả nhị vị Đại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, Đức Phật đề cập đến vấn đề thị giả:

- Này các Tỳ kheo, Như Lai đă già rồi, một số các thầy v́ sở thích riêng tư nên đă bỏ Như Lai một ḿnh hoặc bỏ y bát của Như Lai dưới đất rồi ra đi một cách thản nhiên. Do đó, Như Lai yêu cầu chư tăng tuyển chọn cho Như Lai một thị giả cố định.

Chư tỳ kheo vô cùng xúc động, Đại đức Xá Lợi Phất lên tiếng trước nhất xin t́nh nguyện làm thị giả.

Đức Phật bày tỏ sự hoan hỉ và dạy:

- Này Xá Lợi Phất, không nên đâu. V́ thầy ở nơi nào th́ đem lợi lạc đến nơi đó. Lời giảng dạy của thầy không khác lời dạy của Như Lai. Thầy có khả năng chuyển Pháp luân như Như Lai. Những người được thân cận đàm đạo với thầy cũng như được thân cận đàm đạo với Như Lai.

Chư Đại đức Trưởng lăo khác cũng t́nh nguyện xin làm thị giả, nhưng Đức Phật đều khước từ. Chỉ c̣n một ḿnh Đại đức Ananđa ngồi yên lặng. Đại đức Xá Lợi Phất khuyến khích:

- Thầy Ananđa, tại sao thầy ngồi yên lặng?

- Bạch Đại đức, chức vụ mà ḿnh van xin hoặc t́nh nguyện, tôi tưởng không được cao quí mấy. Vả chăng, Đức Thế Tôn đă biết rơ tâm trạng của tôi. Nếu thấy được, Đức Thế Tôn sẽ chỉ định tôi trong chức vụ ấy. Thiện chí cũng như t́nh cảm của tôi thế nào, Đức Thế Tôn đều quán thấu.

Hội trường im lặng. Không một cử động. Không một lời nói. Một sự im lặng tuyệt đối gần như hội trường không có người.

Giữa không khí ấy, Đức Phật long trọng xác nhận vai tṛ Đại đức Ananđa:

- Này các Tỳ kheo, Ananđa đă có ư nguyện làm thị giả Như Lai từ lâu. Sự xác nhận hôm nay chỉ nhằm mục đích công khai hóa vai tṛ thị giả của Ananđa mà thôi. Bắt đầu từ giờ phút này, Ananđa là thị giả chính thức và cố định của Như Lai.

Cử chỉ này quả thật vô cùng đẹp đẽ. Thật ra, Đức Phật không cần công khai tuyên bố vai tṛ thị giả của Đại đức Ananđa mà chỉ cần chọn riêng cũng được. Nhưng Đức Phật có ư tuyên dương thiện tâm, thành ư của Đại đức, đồng thời chính thức hóa một vai tṛ quan thiết, có tánh cách cố định. C̣n trên thực tế, th́ Đại đức Ananđa đă lập công bồi đức, tŕ hành Ba-la-mật trong nhiều trăm kiếp cũng chỉ để đạt thành hạnh nguyện được làm thị giả, một chức vụ tuy không lớn lao nhưng vô cùng danh dự. Đại đức Ananđa là mẫu người tự trọng, nh́n xa thấy rộng, khế lư, khế cơ. Cho nên, sau khi được Đức Phật và chúng Tăng giao phó trọng trách, bèn bạch Đức Phật xin được đặc miễn những trường hợp sau:

1- Xin Đức Phật đừng ban y mới, đẹp và đắt giá cho Ananđa.
2- Đừng ban thực phẩm cao lương mỹ vị.
3- Đừng cho Ananđa ngụ chung tịnh thất.
4- Đừng cho Ananđa tháp tùng đến những địa điểm mà Đức Phật đă hứa khả.

- Này Ananđa, ngươi nhận thấy lợi ích thế nào mà xin đặc miễn 4 điểm này?

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin đặc miễn như vậy là để ngừa những lời b́nh phẩm cho rằng đệ tử phục dịch Đức Thế Tôn chỉ v́ lợi lộc và danh vị.

Đại đức Ananđa bạch tiếp:

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin Đức Thế Tôn ban cho những đặc ân sau đây:

1- Xin Đức Thế Tôn tùy thuận quang lâm đến những nơi mà đệ tử đă hứa.
2- Xin cho đệ tử được phép tiến dẫn Phật tử vào bái kiến Đức Thế Tôn.
3- Cho phép đệ tử bạch hỏi những điều hoài nghi trong mọi trường hợp.

- Này Ananđa, ngươi thấy lợi ích thế nào mà yêu cầu như vậy?

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử yêu cầu như vậy là để ngăn ngừa những lời chỉ trích, cho rằng những vấn đề có tánh cách giao tế mà đệ tử cũng không làm được, th́ giữ chức vụ thị giả làm ǵ?

Đại đức bạch tiếp:

- Bạch Đức Thế Tôn, c̣n một đặc ân cuối cùng, xin Đức Thế Tôn từ bi chấp thuận cho luôn, đó là:

4- Xin Đức Thế Tôn hoan hỉ nói lại những bài pháp mà đệ tử vắng mặt không được nghe.

- Này Ananđa, ngươi nhận thấy lợi ích thế nào mà yêu cầu như vậy?

- Bạch Đức Thế Tôn, cũng đều ngăn ngừa những lời bàng quang chê trách rằng: đệ tử theo hầu Đức Thế Tôn như h́nh với bóng, nhưng khi được hỏi đến kinh, luật, kệ ngôn hay tích truyện th́ không biết chi cả, giống như ếch trong ao sen không biết thưởng thức hương vị của sen.

Đức Thế Tôn chấp thuận tám điều khoản yêu cầu của Đại đức Ananđa và, Đại đức Ananđa cũng bắt đầu nhận lănh vai tṛ thị giả chính thức ngày hôm ấy.

Lúc bấy giờ, Đức Phật hưởng được 55 tuổi đời, 20 tuổi đạo trong khi Đại đức Ananđa được 55 tuổi đời, 19 tuổi đạo.

 

Nơi hoàng cung Ca-b́-la-vệ

Ngược ḍng thời gian, kể từ ngày Đại đức Ananđa nhận làm thị giả về trước là 55 năm.

Tại hoàng cung nguy nga tráng lệ của hoàng gia họ Thích, đèn đuốc sáng choang, hoa thơm ngào ngạt, cờ xí rợp thành. Hoàng thân Súc-cô-đa-na, bào đệ của Đức vua Tịnh Phạn Sút-thô-đa-na, nét mặt vui tươi, chuyện tṛ cởi mở với mọi người từ trong ḍng hoàng tộc đến ngoài công thần tướng sĩ, tất cả đều rộn lên một niềm vui trước tin mừng Công nương Súc-cô-đa-na hạ sinh một hoàng nam.

Căn cứ điềm vui mừng sung sướng của mọi người, công tử được đặt tên là Ananđa. Công tử Ananđa chào đời cùng một ngày với Thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhatta) (1) và được song thân cưng như trứng mỏng. Mọi phương tiện dưỡng nhi và dục nhi được áp dụng đúng mức. Ananđa truởng thành trong nhung lụa, ngọc ngà nhất là trong sự vui mừng sung sướng tuyệt vời của song thân và hoàng gia Thích tộc.

Công tử tỏ ra rất mực ngoan hiền tài hoa và trí thức. Gương mặt thật sáng. Da dẻ hồng hào. Nói năng lễ độ. Thật đáng mặt con nhà.

Thân phụ cho tuyển chọn những bậc danh sư kỳ tài dạy dỗ công tử. Chẳng bao lâu, sự thông minh đĩnh ngộ và tài năng lỗi lạc của công tử nức tiếng xa gần, khiến cho thân phụ đă sung sướng càng thêm măn nguyện.

Thế rồi, một hôm, tin Thái tử Sĩ Đạt Ta rời bỏ ngai vàng, cha già, vợ đẹp và con thơ ra đi xuất gia tầm đạo, làm kiếp người hùng của nhân loại, khiến tâm trạng Ananđa vừa ngạc nhiên vừa thán phục. Càng thán phục lại càng hoan hỉ (2). Sự hoan hỉ thúc đẩy một biểu đồng t́nh. Ananđa suy nghiệm chắc hẳn phải có một lư tưởng phi thường, một đại sự nhân duyên thế nào đó, nên Sĩ Đạt Ta, con cưng của Ca-b́-la-vệ mới rủ áo đế hoàng, sống kiếp phong sương, vui thú tiêu dao thoát tục.

Rồi 6 năm sau. Tin Thái tử Sĩ Đạt Ta thành Phật được loan truyền vô cùng nhanh chóng. Từ Vương Xá thành đến các đô thị lớn và, cuối cùng đến kinh đô Ca b́ la vệ. Mọi người tràn ngập niềm vui rộng lớn. Người vui nhất có lẽ là Công tử Ananđa. Công tử vốn có chủ định: khi nào Đức Phật về thuyết pháp th́ sẽ theo Ngài đi tu.

Chú thích:

(1) Hoan hỉ, sung sướng, khánh hỉ, bội hỉ, hoan lạc...
(2) Nhân vật đồng sinh với Sĩ Đạt Ta: Ananda, Yasodhara, Tể tướng Kàludàyi, cận thần Channa, tuấn mă Kiền Trắc, cây Bồ đề, và 4 hầm châu ngọc.

Một hôm, tại hoàng thành Ca b́ la vệ, phiên họp khoáng đạt có đủ mặt hoàng gia thích tộc, vương tôn công tử, đặt dưới quyền chủ tọa của đức vua Tịnh Phạn.

Sau nghi thức khai mạc, Đức vua Tịnh Phạn tuyên bố:

- Thưa quí vị, quí vị đều được nghe và biết tin mừng Đức Phật ra đời, Ngài không phải ai xa lạ mà Ngài chính là Thái tử Sĩ Đạt Ta. Được biết Ngài đang ngụ tại Vương xá Ràjagaha kinh đô của Đức vua Tần bà sa la (Bimbisàra). Tôi xin hỏi ư kiến quí vị, chúng ta có nên cử người sang thỉnh hay để Ngài tự động về? Xin quí vị cho biết.

Một công tử đưa tay và phát biểu:

- Thưa hội nghị, theo thiển kiến của tôi, chúng ta không nên cử người sang thỉnh v́ hai lư do. Một, Thái tử chính là con Đức vua chủ tọa. Khi ra đi, Ngài chẳng từ giả ai, thậm chí phụ vương của Ngài. Hai, hoàng thành Ca b́ la vệ này, thuộc quyền sở hữu của Ngài. Chúng ta lấy tư cách ǵ để mời ông chủ trở về nhà ông chủ. Hơn nữa, Thái tử tự cho ḿnh là Phật, mà không biết nhớ thương cha mẹ, ḍng họ để về thăm viếng th́ tội t́nh ǵ ḿnh phải thỉnh mời.

Vừa lúc ấy, một vị công tử khác đứng lên phát biểu:

- Kính thưa cử tọa, ư kiến công tử Đề Bà Đạt Đa vừa tŕnh bày thiếu vô tư. Theo tôi thiển nghĩ: Đức Phật dù trạc tuổi chúng ta nhưng hiện nay Ngài là một Samôn. Đối với một Samôn b́nh thường mà chúng ta c̣n quí trọng th́ tại sao chúng ta không thể dành sự quí trọng ấy cho Đức Phật, vừa là một Samôn vừa là họ hàng cật ruột? Hơn nữa địa vị Phật tổ, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác th́ ngay như đức chuyển luân thánh vương cũng phải quí trọng huống chi là chúng ta. Tôi đề nghị nên cử phái đoàn sang thỉnh mới đúng.

Ư kiến và đề nghị Công tử Ananđa chạm tự ái Đề ba đạt đa rất nặng, Đề ba đạt đa phản ứng:

- Thưa cử tọa, nếu lấy địa vị Phật tổ làm động lực áp đảo thiên hạ, th́ ai ai cũng có thể trở thành Phật tổ miễn đủ can đảm nói láo là được. Hàng động tự phong chức là hành động thiếu thực tế.

Liền khi ấy, một vị cao niên đứng lên phát biểu:

- Thưa cử tọa, nếu quả thật Thái Tử Sĩ Đạt Ta nói láo thiên hạ và tự phong cho ḿnh là Phật Tổ như ư kiến của công tử Đề Bà Đạt Đa vừa phát biểu th́ chúng ta càng nên cử người sang thỉnh Đức Phật về để sớm rơ trắng đen, hư, thực rằng, Ngài là Phật Tổ thực sự hay giả hiệu.

Hội trường im lặng. Không có ư kiến chống đối. Đức vua Tịnh Phạn kết luận:

- Thưa quí vị, những ư kiến vừa đóng góp đều hữu ích, đáng ghi nhận. Chúng tôi muốn được kết thúc phiên họp hôm nay bằng một quyết định. Vậy chúng tôi xin lấy biểu quyết: ai đồng ư cử người sang thỉnh Đức Phật th́ xin đưa tay lên.

Cử tọa nhất loạt đưa tay. Họ đưa thật cao để chứng tỏ sự biểu đồng t́nh. Chỉ có công tử Đề Bà Đạt Đa và một vài người bạn chí thân của công tử là không đưa tay mà thôi.

Tiếng tán đồng vang dội khắp hội trường. Họ yêu cầu đức vua Tịnh Phạn hỏa tốc cử người sang thỉnh Đức Phật ngay. Công tử Ananđa lấy làm hoan hỉ và xin t́nh nguyện lănh sứ mạng đi thỉnh. Nhưng Đức Vua Tịnh Phạn khước từ. Công tử Đề Bà Đạt Đa bực tức vô cùng, v́ nhớ lại, từ ấu thơ đến giờ, chưa lần nào thắng được Thái tử Sĩ Đạt Ta.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đă rời địa phận U ru quê la (Uruvela) nơi Ngài đắc đạo, trực chỉ

I-si-pa-ta-mi-ga-đa-da để tiếp độ năm thầy Kiều Trần Như. Tiếp theo, Ngài độ công tử Dásá (Yassa) và 54 người bạn thân của công tử. Sau đó, Ngài độ ba anh em du sĩ ngoại đạo. Người anh là Pu-ra-na-ca-sa-pa có 500 đồ đệ. Người em thứ là Ga-da-ca-sa-pa có 300 đồ đệ và, người em út là Na-di-ca-sa-pa có 200 đồ đệ. Độ xong nhóm này, Ngài bèn đi về thành Vương xá để hóa độ đức vua Tần Bà Sa La (Bimbisàra), người mà Ngài đă từng hứa hẹn từ trước, trên bước đường xuất gia tầm đạo. Tại đây, Ngài nhận ngôi chùa Trúc Lâm, do đức vua Tần Bà Sa La hỉ cúng. Đây là ngôi chùa đầu tiên trên bước đường khai đạo của Ngài.

Tin Đức Phật ngự tại Trúc Lâm được truyền đi rất mau trong quần chúng. Và cũng tại đây, Ngài tiếp độ nhị vị Đại Đệ tử Phật: Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.

Nói về Đức vua Tịnh Phạn cử phái đoàn đi thỉnh Phật, nhưng sau khi nghe pháp tất cả đều phát tâm xuất gia, không một người nào nhớ thỉnh Phật cả. Măi đến phái đoàn thứ 10, do đại tướng Ca-Lu-Đa-Di (Kàludàyi) hướng dẫn, đến chùa Trúc Lâm, sau khi nghe pháp và được xuất gia, đại tướng vẫn nhớ thỉnh Phật theo sứ mạng triều đ́nh.

Đức Phật nhận lời. Ngài khởi hành chung với một số đông thánh tăng La Hán khoảng hai muôn vị. Ngày đi đêm nghỉ và phải mất 60 ngày đường mới đến Ca B́ La vệ. Suốt cuộc hành tŕnh, Ngài luôn thuyết pháp độ sanh. Một số đông đắc đạo chứng quả, hoặc ít nhất cũng thọ quy giới, bỏ dữ theo lành, cải tà qui chánh.

Đức vua Tịnh Phạn chuẩn bị tiếp đón Đức Thế Tôn vô cùng trọng thể và, không quên cho kiến tạo ngôi chùa Ni-gô-ra cúng dường Đức Phật.

Chuyến trở về của Đức Phật hôm ấy, quả thật là một niềm vui tưng bừng, rộn ră. V́ đă 7 năm dài cách biệt phân ly, hoàng gia Thích tộc không bao giờ được gặp Ngài dù chỉ là cái bóng.

Sáng hôm sau, Đức Phật và chư thánh tăng vào thành khất thực. Đức vua Tịnh Phạn được công nương Da Du Đà La khẩn tấu, lập tức đi đến địa điểm khất thực, tay nắm chéo y Đức Phật, nét mặt thật buồn:

- Sĩ Đạt Ta con, tại sao con làm như vầy? Ḍng dỏi nhà ḿnh nào phải ăn xin. Con đă làm nhục Phụ vương và hoàng tộc. Hơn nữa, cung điện sẵn có, tại sao con không về, mà lại đi ăn xin thế này? Phụ vương c̣n mặt mũi nào dám nh́n thiên hạ. Cha làm vua c̣n con th́ đi ăn xin. Thật là mai mỉa!

Bằng giọng trầm ấm dịu hiền, Đức Phật giải thích:

- Tâu Phụ vương, giờ đây Như Lai không c̣n là ḍng họ Thích Ca nữa mà là ḍng họ A lị da (Ariya: Thánh). Truyền thống chư Phật quá khứ đều đi khất thực nên Như Lai cũng phải duy tŕ truyền thống ấy. Cả phương tiện nhà cửa, Như Lai cũng không có. Như Lai là bậc Mu Ni không có gia đ́nh.

Đức vua Tịnh Phạn tủi hờn và phản đối quyết liệt:

- Này con, dù con mang tộc họ ǵ, có gia đ́nh hay không, con vẫn là con của Phụ vương. Con đă xa cách Phụ vương hơn bảy năm rồi, Phụ vương nhớ thương con vô cùng, Da Du Đà La cũng vỏ vàng v́ nhớ thương con. C̣n Ra Hầu la tuy có cha song chẳng khác một đứa trẻ mồ côi, vô thừa nhận. Hôm nay, con phải về hoàng cung thăm vợ, thăm con và chư vị hoàng thân trưởng thượng. Nói xong, đức vua hướng dẫn Đức Thế Tôn vào nội thành và cúng dường thực phẩm thật trang trọng. Đức Phật thuyết pháp độ vua cha và d́ mẫu Ma-ha-pa-cha-pa-ti-go-ta-mi đắc quả Tu Đà Hườn. Sau đó, Ngài trở về chùa Ni-gô-ra-thá (Nigrodha).

Trong suốt thời gian Đức Phật ngụ tại chùa Nigrodha xứ Ca B́ La Vệ có một số đông hoàng thân xuất gia theo Phật và hầu hết đều đắc đạo chứng quả.

Một thời gian sau, Đức Phật lên đường sang xứ Málá và ngự trong vườn xoài A-nú- pi-dá.

Khi Đức Phật đi rồi các vị hoàng thân trưởng lăo cùng nhau kiểm điểm và nhận định rằng: quả thật đă có một số đông hoàng thân xuất gia theo Phật, chỉ c̣n một số ít các công tử như Ananđa, A-nu-rút-thá, Ma-ha-na-má, Phát-tí-dá, chưa chịu xuất gia. Sự thật th́ hoàng tộc đă đồng ư đặt các công tử này dưới quyền sử dụng của Thái Tử Sĩ Đạt Ta ngay trong ngày lễ quán đỉnh. Vậy th́ tại sao các công tử chưa chịu xuất gia.

Công tử Má-ha-na-má nghe được câu chuyện ấy, cảm thấy thắc mắc trong ḷng, bèn hội ư với em là Á-nú-rút-thá (Anuruddha):

- Này em, theo anh nghĩ th́ một trong hai chúng ta phải xuất gia.

Công tử Á-nú-rút-thá t́nh nguyện xuất gia nhưng thân mẫu không tán thành. Bà phân trần:

- Này con yêu dấu của mẹ, con xuất gia chưa được đâu. V́ xuất gia nào phải dễ dàng như con tưởng. Con phải ăn ngọ, phải đi chân không, phải ngủ giản dị không nệm lót, phải gối đầu bằng gỗ, phải ở dưới cội cây hoặc trong hang núi, thích lạnh th́ gặp nóng, thích nóng th́ gặp lạnh. Do đó, mẹ không bằng ḷng cho con xuất gia.

Công tử Á-nú-rút-thá giải bày:

- Thưa mẹ, con vẫn biết xuất gia là một điều rất khó. Nhưng đă có một số những vị công tử quen sống sung sướng như con đă xuất gia th́ thiết tưởng con cũng có thể làm được. Vả lại, trước kia đời sống Đức Phật sung sướng hơn con nhiều. Con nghĩ, chắc chắn phải có một sự an lạc thù thắng nào đó cao quí hơn, thay cho sự sung sướng giả tạo, chóng tàn này. Con tin là con đủ sức chịu đựng, nếu được xuất gia.

- Con ơi, dù con có chịu đựng được nếp sống tu hành nhưng mẹ thú thật với con là mẹ không chịu nổi. Mẹ chưa từng thấy con cực khổ và không muốn cho con cực khổ. Hơn nữa, con là núm ruột của mẹ. Mẹ không muốn sống xa con dù chỉ một ngày. Nếu con xuất gia mẹ con ta phải xa nhau quanh năm suốt tháng, th́ mẹ chịu sao cho thấu. Theo mẹ nghĩ, nếu muốn hành thiện th́ ở nhà tu tại gia cũng được, đâu cần phải xuất gia. Hăy nghe lời mẹ đi con!

Nói xong, bà lấy tay rờ đầu và vuốt tóc công tử Á-nú-rút-thá, cử chỉ vô cùng tŕu mến.

- Thưa mẹ, nếu nói đến vấn đề nghèo khổ, th́ kể sao cho hết. C̣n nói đời sống tu sĩ là cơ hàn, th́ đă có biết bao người cơ hàn hơn tu sĩ. C̣n nói đến vấn đề phân ly, th́ đă có biết bao gia đ́nh phân ly v́ lư do này hay lư do khác. Đă vậy, c̣n có sự ngăn cách vô vàn đau khổ nữa, mà mọi người không ai tránh khỏi đó là cảnh tử biệt phân ly. Con đồng ư với mẹ về vấn đề hành thiện th́ ở đâu, h́nh thức nào cũng làm được. Tuy nhiên, con nhận định rằng bậc xuất gia hành thiện được nhiều hơn v́ có th́ giờ nhiều, ít bận rộn. Ví như dụng cụ đựng nước nếu vừa lớn vừa sạch th́ đựng nước được nhiều, hợp vệ sinh. C̣n nếu dụng cụ vừa nhỏ vừa dơ th́ đựng nước vừa ít vừa bẩn. Cho nên hạnh xuất gia cũng như dụng cụ vừa to vừa sạch, chứa đựng được nhiều điều thiện.

- Con làm sao hiểu được, khi con chưa có xuất gia. Sự suy nghĩ đôi khi trái ngược với thực tế, con ạ!

- Thưa mẹ, con chưa biết rơ, nhưng con muốn tập sự.

- Này con, mẹ tính thế này được không? Nếu công tử Phát-đí-dá, bạn của con cũng xuất gia nữa, th́ mẹ đồng ư.

Bà đề nghị như vậy, v́ bà tin tưởng một trăm phần trăm là công tử Phát-đí-dá sẽ không khi nào xuất gia.

Công tử Á-nú-rút-thá mừng lắm, bèn lập tức đi t́m bạn. Gặp bạn, công tử nói thẳng:

- Này bạn, tôi quyết chí xuất gia theo Phật nhưng chính bạn vô t́nh làm trở ngại công cuộc xuất gia của tôi. V́ mẹ tôi bảo rằng, khi nào bạn cùng xuất gia, th́ mới đồng ư cho tôi xuất gia.

Công tử Phát-đí-dá phân trần:

- Này bạn, tôi cũng có ư định xuất gia ngay sau khi được nghe câu chuyện bàn tán và nhận định của các bậc trưởng thượng. Vả lại, Đức Phật xuất gia được, th́ có lư nào ḿnh xuất gia không được.

Công tử Á-nú-rút-thá (Anuruddha) mừng khôn thể tả. Cả hai cùng rủ thêm bốn người nữa, là các công tử: A-nan-đa (Ananda), Phá-gú (Bhaggu), Kim-bi-lá (Kimbila), và Đê-qua-đát-tá (Devadatta) đồng khởi hành trực chỉ xứ Má-lá (Malla) để bái kiến Đức Phật.

Khi đến ranh giới hai nước Sắc-cá (Sakka) và Má-lá (Malla) sáu vị công tử bèn cởi áo măo quí trao cho Ú-pa-li (Upali), một chuyên viên thẩm mỹ cùng đi theo mang trở về Ca b́ la vệ lập nghiệp.

Ngay lúc chủ tớ chia tay, núi rừng gần như cũng cảm động, thở than trước cảnh sinh ly hy hữu ấy.

Đi được một đổi đường Upàli thấm buồn và tự nghĩ:

- Các vị công tử đă xem thường những bảo vật này và đem tặng cho ḿnh để làm sinh kế. Nghiệm cho cùng, nếu ḿnh nhận th́ chẳng khác nào ḿnh liếm nước miếng của các vị ấy đă nhổ ra. Càng suy nghĩ càng thấm thía. Upàli bèn treo gói bảo vật lên cành cây, chạy trở lui t́m sáu vị công tử, bày tỏ ư kiến tự giác của ḿnh và xin t́nh nguyện cùng được xuất gia.

Sáu vị công tử cùng nhau hội ư và cuối cùng bằng ḷng. Khi bái kiến Đức Phật, sáu vị công tử bày tỏ chí nguyện xuất gia. Trước khi xuất gia, các vị công tử không quên bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, chúng đệ tử là ḍng vua chúa có nhiều thành kiến và rất nặng ngă mạn. Do đó, xin Đức Thế Tôn từ mẫn cho phép Upàli được xuất gia trước, để chúng đệ tử có cơ hội cung kính, ngỏ hầu đă phá thành kiến ngă mạn, cho được thích nghi với nếp sống phạm hạnh của hàng Sa môn.

Sau khi xuất gia không lâu, Đại đức Phát-đí-dá (Bhaddiya), Phăc-gu (Bhaggu), Kim-bí-lá (Kimbila) và Á-nu-rút-thá đắc quả Alahán. Đại đức Đê-qua-đát-tá đắc được phàm thiền. Đại đức Ananđa măi 19 năm sau mới đắc được Tu đà hườn.

 

Đời bằng hữu

Đối với Đức Phật, Đại đức Ananđa có những vai tṛ cố định như sau:

1- Dâng nước uống, nước xài lạnh nóng.
2- Dâng tăm xỉa răng cở lớn, cở trung và cở nhỏ.
3- Bóp tay, chân.
4- Đấm lưng.
5- Lau, quét hương thất và xung quanh thất.

Đêm đêm Đại đức Ananđa luôn luôn tỉnh thức và phục dịch rất mực chu đáo, đúng với tôn ư Đức Phật. Tương truyền rằng Đại đức tay cầm đèn lớn đi tuần quanh hương thất mỗi đêm bốn lần. Đại đức nổi tiếng là chu đáo, thông minh và có óc thẩm mỹ. Bất cứ việc ǵ một khi được giao phó là Đại đức hoàn thành tốt đẹp.

Chẳng hạn như, có một lần, vua Ba tư nặc (Pasanadikosala) phát tâm cúng dường thực phẩm thường trực Đức Thế Tôn và yêu cầu Ngài thường xuyên quang lâm thành nội.

Đức Phật nhă nhặn từ khước:

- Muôn tâu, thông thường chư Phật là người của quần chúng. Do đó, Như Lai không thể hứa nhận thực phẩm tại một địa điểm cố định.

Đức vua bạch thêm:

- Bạch Đức Thế Tôn, nếu vậy, xin Đức Thế Tôn từ bi chỉ định một vị đại diện hướng dẫn chư tăng vào thành nội cho đệ tử được cúng dường.

Đức Phật chỉ định Đại đức Ananđa. Những ngày đầu, đức vua đích thân cúng dường rất chu đáo. Nhưng lần hồi về sau, v́ đa đoan công vụ, đức vua mệt mỏi, dậy trễ. Chư tăng đến mà chẳng ai dám đánh thức. Hơn nữa, đức vua lại quên không chỉ định người đại diện chính thức. Do đó, một số đông chư tăng đă phải ra về, chỉ có Đại đức Ananđa c̣n kiên nhẫn ở lại. Sự kiện xảy ra nhiều ngày như vậy.

Một hôm, đức vua đích thân cúng dường. Nhưng chẳng thấy chư tăng đâu cả, ngoại trừ Đại đức Ananđa. Đức vua vô cùng phiền năo. Một buổi chiều, nhà vua đến chùa lễ Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, chư tăng đă khinh thường lời thỉnh cầu của đệ tử. Đệ tử chuẩn bị thực phẩm nhiều trăm phần để cúng dường, thế mà chỉ có một ḿnh Đại đức Ananđa đến nhận.

Đức Phật an ủi:

- Muôn tâu, chư tăng không được quen biết và thân thiện nhiều với hoàng gia cho nên mới có hành động như vậy. Xin bệ hạ đừng phiền. Riêng Ananđa là con người tự trọng, hiểu biết và chịu đựng. Một mẫu người như vậy, quả thật khó kiếm.

Một lần khác, Đức vua Ba tư nặc yêu cầu Đức Phật chỉ định Đại đức Ananđa dạy đạo cho hoàng hậu Ma-li-ca (Malikà) và công chúa Va-sa-pha-khách-đi-dá (Vàsabhakhattiya). Hoàng hậu rất mực chú tâm và chuyên cần học đạo nhưng công chúa th́ thờ ơ, học lấy lệ.

Đại đức Ananđa đem chuyện này bạch Phật. Đức Phật dạy:

- Này Ananđa, thiện ngôn đối với người không tŕ hành th́ quả thật vô ích. Nó vô ích như loài hoa có sắc mà không hương. Thiện ngôn chỉ có ích thiết thực đối với người biết tŕ hành, cũng như loài hoa vừa có màu sắc thắm tươi vừa có hương thơm ngào ngạt.

Ananđa nghĩ, chánh pháp mà Như Lai đă thuyết dạy sẽ trở thành vô ích nếu người nghe không thực sự phụng hành; c̣n trái lại, tích cực phụng hành th́ chánh pháp sẽ vô cùng ích lợi.

Nói đến t́nh thương yêu quí kính của Đại đức Ananđa đối với Đức Phật th́ quả thật không có văn tự nào phản ảnh trung thực và diễn tả tṛn đầy. V́ tấm t́nh của Đại đức là một thứ t́nh cao vời như đỉnh Tuyết sơn, trong suốt như ngọc pha lê và đẹp dịu như ánh trăng ngà trên băi bể.

Đại đức sẵn sàng hy sinh tánh mạng cho Đức Phật. Một sự hy sinh bằng t́nh nguyện, bằng hoan hỉ, bằng tất cả rung cảm của con tim và sáng suốt của khối óc. Một bằng chứng hùng hồn và cảm động nhất, đó là lần Đề Bà Đạt Đa cấu kết với vua A-xà-thế phục rượu voi Na-la-gi-ri (Nàlàgiŕ) sai nó giết Phật.

Câu chuyện như vầy:

- Hôm ấy, b́nh minh rạng rở. Những giọt sương mai c̣n lấp lánh ít nhiều trên ngọn cỏ. Gió mai thổi nhè nhẹ hơi sương. Đức Phật và Đại đức Ananđa vào thành khất thực. Một tín nữ đang để bát cho Ngài, th́ bỗng dưng dân chúng ùn ùn kéo nhau chạy loạn. Tiếng kêu la thất thanh của dân chúng, tiếng rống dồn dập của voi say thi nhau vang lên rùng rợn. Họ chạy đạp bừa lên nhau thoát nạn: Người và vật ngổn ngang trên đất. Đức Phật im lặng tiến về hướng voi say một cách b́nh thản. Ngay lúc ấy, Đại đức Ananđa tiến thật nhanh đến phía trước Đức Phật, đứng án ngữ trong tư thế sẳn sàng hy sinh. Trước cử chỉ cao quí ấy, Đức Phật dạy:

- Ananđa, hăy lùi lại sau. Đừng quá lo sợ cho Như Lai.

- Bạch Thế Tôn, tính mạng của Thế Tôn có giá trị tuyệt đối. Sự sống của Thế Tôn là nguồn hạnh phúc lớn của chúng sanh. Đức Thế Tôn không thể bị hại trong lúc này. Vả lại, sinh mạng của đệ tử không đáng giá là bao. Xin cho đệ tử được hy sinh một vật không đáng giá để duy tŕ một giá trị tuyệt đối như bỏ đi một cục đá để bảo tồn một viên ngọc quí.

- Không nên đâu Ananđa. Như Lai đă tṛn đầy Ba la mật hạnh. Không ai có thể gây thương vong cho Như Lai, trừ phi Như Lai chấp nhận.

Mặc dù Đức Phật dạy như vậy nhưng v́ quá lo ngại cho tính mạng của Thế Tôn, Ananđa vẫn giữ nguyên vị trí cũ. Đức Phật dùng thần thông di chuyển Ananđa ra phía sau. Liền khi ấy voi Nalagiri đă chạy sồng sộc đến gần Đức Phật. Trong tiếng kêu la thất thanh tuyệt vọng của số đông Phật tử đồng lúc vang lên như báo hiệu đây là lần gặp gỡ sau cùng giữa họ và Đức Phật. Trong giây phút thập tử nhất sanh ấy, Đức Phật răi ḷng từ bi và nh́n thẳng voi dữ. Na la ghi ri khựng lại như đụng phải bức tường sắt. Sự hung dữ, say sưa đă biến mất, nhường cho sự tỉnh táo hiền lành, một thay đổi toàn diện như hai thái cực. Lửa hung dữ đă bị nước từ bi dập tắt. Na la ghi ri qú xuống chân Đức Phật. Đúc Phật rờ đầu voi và phủ dụ:

- Na-la-ghi-ri ơi, sở dĩ ngươi mang thân thú là do ác nghiệp tiền kiếp. Giờ đây ngươi không nên gây thêm trọng nghiệp bằng ác ư muốn làm hại Như Lai. Ngươi sẽ trả quả vô cùng cay đắng trong vô số lượng kiếp, nếu ngươi chưa chịu hồi tâm.

Na-la-ghi-ri cúi đầu yên lặng, rồi lấy ṿi áp nhẹ vào chân Đức Phật tỏ thái độ nhận lỗi, ăn năn.

Trước oai thần của Đức Phật, quần chúng vô cùng kinh ngạc và kính phục. Để tỏ ḷng qui ngưỡng, họ hoan hô vang dậy cả một góc trời và cúng dường tràng hoa, hương liệu tràn ngập dưới chân Ngài.

Một lần khác, Đức Phật bị bịnh cảm tỳ Đại đức Ananđa đích thân nấu cháo cúng dường. V́ Đức Phật thường dạy, cháo là món thuốc trị bịnh cảm rất kiến hiệu. Đức Phật hỏi:

- Ananđa, ngươi làm sao có cháo này?

- Bạch Thế Tôn, đệ tử nấu lấy.

- Ananđa, tại sao ngươi làm vậy? Ngươi đă hành động không xứng đáng, không thích hợp với đời sống Samôn. Ngươi quên rằng bậc xuất gia không có quyền tự ḿnh nấu nướng. Ngươi hăy đem đổ đi. Như Lai không dùng cháo của ngươi đâu.

Đại đức Ananđa cúi đầu thinh lặng không dám thốt một lời, dù là lời biện bạch.

Một lần khác, Đức Phật bị bịnh bón. Đại đức Ananđa lập tức đi t́m vị danh y A-chi-qua-ca-cô-ma-ra-phach-cha cho biết tin ấy. Vị danh y khuyên nên để Đức Phật nghỉ dưỡng sức một vài hôm. Đại đức Ananđa thi hành lời khuyên một cách nghiêm chỉnh. Sau đó Đại đức bèn trở lại t́m vị danh y. Vị này trao cho Đại đức ba cánh sen có rắc bột thuốc. Sau khi ngửi vào, Đức Phật xổ được ba, bốn lần.

Một lần khác, lúc ngụ tại thành Quê-sa-li, Đức Phật bịnh nặng. Ngài dùng năng lực tinh tấn và nhẫn nại để làm giảm thiểu cơn đau và cuối cùng được hoàn toàn b́nh phục. Đại đức Ananđa bạch Phật về tâm trạng của ḿnh như sau:

- Bạch Đức Thế Tôn, trong thời gian Đức Thế Tôn thọ bịnh, thân xác đệ tử héo hon như đọt khổ qua bị cháy nắng. Đệ tử có cảm tưởng trời đất tối tăm, sụp đổ. Đệ tử tuyệt vọng nhưng cố tự trấn tỉnh rằng: Đức Thế Tôn chưa có nhập diệt, v́ Ngài chưa triệu tập tăng già và chưa thuyết minh Di giáo tối hậu.

Những sự kiện vừa kể, chứng minh cụ thể rằng Đại đức Ananđa đối với Đức Phật chẳng những là một thị giả, mà c̣n là một đại bằng hữu một tấm t́nh tuyệt vời, một tâm hồn chí thiện.

Nói đến Đại đức Ananđa, chúng ta không thể bỏ qua đức tính thông minh và óc thẩm mỹ. Chính nhờ những nét độc đáo này mà Đại đức đă trở thành một cộng sự viên đắc lực của Đức Phật. Điển h́nh là việc sáng chế giáo phục. Câu chuyện như vầy:

Một lần nọ, Đại đức theo Đức Phật qua tỉnh Đắc-khi-na-ghi-ri. Đức Phật nh́n thấy thửa ruộng của nông dân xứ Magatha vuông dài, bốn cạnh bằng nhau, lại thêm có những đường nhỏ thông ngang dọc trông thật đẹp mắt, bèn hỏi Đại đức Ananđa:

- Này Ananđa, ngươi có thể chế biến giáo phục cho chư Tăng theo h́nh thức thửa ruộng này được không?

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử sẽ cố gắng.

Sau đó, Đại đức Ananđa đă cắt may được một mẫu y có h́nh thức như thửa ruộng đệ tŕnh Đức Phật. Đức Từ Phụ vô cùng hoan hỉ và chính thức ban hành giáo phục cho tăng già.

Nhơn tiện, Đức Phật khen ngợi Đại đức Ananđa giữa tăng chúng:

- Này các tỳ kheo, Ananđa là người thông minh, có óc thẩm mỹ, trí lực bén nhạy, có khả năng hiểu biết toàn diện những điều Như Lai chỉ nói vắn tắt.

C̣n nói đến đức tri túc th́ Đại đức Ananđa quả thật là mẫu người xứng đáng, khả kính và mực thước. Câu chuyện xảy ra sau khi Đức Phật tịch diệt như vầy:

Một hôm, theo di ngôn của Đức Phật, Đại đức Ananđa sang xứ Kosambi bằng đường thủy nhằm tuyên phạt phạm án Đại đức Channa, một vị tỳ kheo ương ngạnh, khó dạy. Rời thuyền, Đại đức đi bộ và tạm nghỉ tại vườn thượng uyển của đức vua Udena.

Lúc bấy giờ, đức vua và hoàng hậu đang ngự nơi ấy. Hoàng hậu được biết Đại đức Ananđa quang lâm đến rất lấy làm hoan hỉ. Đại đức nói đạo cho Lệnh bà nghe. Lệnh bà phát tâm trong sạch cúng dường Đại đức Ananđa 500 bộ y. Hay tin, nhà vua chỉ trích Đại đức Ananđa nặng lời.

Đến khi có cơ hội, gặp Đại đức, nhà vua phán hỏi:

- Bạch Đại đức, nghe nói chánh cung có cúng dường 500 bộ y cho Đại đức phải không?
- Muôn tâu, có. Và bần đạo đă nhận tất cả.
- Đại đức nhận làm chi mà nhiều quá vậy?
- Để chia cho những vị nào mà y phục đă cũ, rách.
- Y cũ, rách để làm ǵ?
- Để làm trần.
- Trần cũ để làm ǵ?
- Làm vải trải đơn (giường ngủ).
- Vải trải đơn cũ để làm ǵ?
- Làm vải lau bát.
- Vải lau bát cũ để làm ǵ?
- Làm vải lau sàn.
- Vải lau sàn cũ để làm ǵ?
- Làm vải lau chân.
- Vải lau chân cũ làm ǵ?
- Làm vải lau bụi.
- Vải lau bụi cũ để làm ǵ?
- Đem nhồi chung với đất sét tô vách tường.

Đức vua Udena vô cùng hoan hỉ và cúng dường thêm 500 bộ y nữa v́ cho rằng các bậc Thích tử rất tri túc, không bừa băi, phung phí.

Ngoài đức tính tri túc, Đại đức Ananđa c̣n nổi tiếng là người nhớ ơn. Đại đức chẳng những nhớ ơn người lớn mà c̣n biết ơn kẻ nhỏ.

Có một lần, Đức vua Pasenadi cúng dường Đại đức hàng trăm bộ y. Nhớ ơn một môn đệ đă từng phục dịch Đại đức trong mọi công tác vô cùng tích cực, nên Đại đức ban thưởng tất cả y cho vị này. Vị này quả thật xứng đáng, khả kính, khả ái, không phụ ḷng thầy, nên sau khi nhận y, liền đem tất cả cúng dường lại cho chư tăng.

Nhơn câu chuyện này, một vị tỳ kheo bạch hỏi:

- Bạch Đức Thế Tôn, vị Tu đà hườn c̣n tư vị hay không?
- Này các tỳ kheo, trường hợp như thế nào?

Sau khi các vị tỳ kheo bạch rơ sự kiện, Đức Phật dạy:

- Này các tỳ kheo, sự tư vị không có nơi Ananđa. Sở dĩ Ananđa hành động như vậy là v́ nhớ ơn người đă có công với ḿnh. Các tỳ kheo này, bậc trí giả lúc nào cũng nhớ ơn và luôn luôn t́m dịp báo ơn.

 

Lệnh bà Mahà Pajàpati

Đại đức Ananđa c̣n có tính hay thương người, thấy ai khổ là chịu không được và sẵn sàng giúp đỡ tùy khả năng, không phân biệt thân sơ, nam nữ. Câu chuyện điển h́nh như sau:

D́ mẫu Mahapachapati (Mahàpajàpati) rất mực thương yêu và quí kính Đức Phật. Để thể hiện t́nh cảm sâu đậm ấy, Lệnh bà tự kiểm và nhận thấy rằng từ ngày Thái tử thành Phật, trong hàng hoàng gia Thích tộc có người hiến cúng lễ vật, có người rũ áo đi tu, riêng ḿnh th́ chưa làm được việc thiện nào cụ thể. Nghĩ xong, Lệnh bà tự chọn cho ḿnh một công tác là tự tay canh cửi dệt vải và cắt may một bộ y phục thật tốt để cúng dường Đức Phật. May xong, Lệnh bà đến chùa bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, D́ mẫu tự tay canh cửi, dệt vải và cắt may bộ y này để cúng dường, xin Đức Thế Tôn từ bi thọ dụng.
- Thưa D́ mẫu, xin D́ mẫu cúng dường đến vị khác. Như Lai đă có đủ y rồi.

Lệnh bà tha thiết năn nỉ ba lần, nhưng Đức Thế Tôn vẫn một mực khước từ. Lệnh bà vô vàn buồn tủi. Nhớ thuở nào, khi Đức Phật c̣n ấu thơ, Lệnh bà ẳm bồng, nưng niu. Cầm ḷng không được, Lệnh bà vừa khóc kể vừa ôm bộ y đến chổ ở Đại đức Xá Lợi Phất kể hết sự t́nh và yêu cầu Đại đức hoan hỉ thọ nhận.

Mặc dù thông cảm cảnh ngộ và tâm trạng của Lệnh bà, song Đại đức khước từ và đề nghị Lệnh bà cúng dường cho vị khác. Nhưng câu chuyện được ghi nhận là không có vị nào thọ y của Lệnh bà.

Cuối cùng, Đức Phật cho triệu tập tăng chúng, và khuyến khích Lệnh bà cúng dường đến chư tăng do Đại đức A-chi-ta đại diện nhận. Đồng thời, Ngài an ủi, khích lệ và tán thán đạo tâm tuyệt đối trong sạch của Lệnh bà, khiến Lệnh bà chẳng những hết tủi thân mà c̣n vô cùng hoan hỉ.

Nhơn câu chuyện này, Đức Phật giải thích về cung cách bố thí:

- Thưa D́ mẫu, bộ y mà D́ mẫu vừa cúng dường gọi là tăng thí trong sự chứng minh của Như Lai, một vị Phật Tổ. Cách thí này phước báu to lớn vô cùng, to lớn hơn cúng dường đến một cá nhân, dù cá nhân ấy là Như Lai. D́ mẫu ơi, sở dĩ Như Lai không thọ y của D́ mẫu, không phải Như Lai muốn làm khó hay làm buồn ḷng D́ mẫu, mà sự thật chỉ v́ Như Lai muốn cho D́ mẫu được thật nhiều công đức.

Đức Phật nh́n sang Đại đức Ananđa và dạy:

- Ananđa, ngươi khẩn cầu Như Lai thọ y của D́ mẫu bằng cách gợi lại mối t́nh dưỡng dục tuyệt vời mà D́ mẫu dành riêng cho Như Lai thuở ấu thời. Điều này Như Lai không phủ nhận. Do đó, Như Lai đă triệu tập chúng tăng, và hướng dẫn D́ mẫu cúng dường đến đoàn thể thay v́ cá nhân. Sự cúng dường đến tập thể có giới đức th́ phước báu thật là vô lượng. Ananđa này, cá thể th́ có 14 hạng:

1- Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
2- Bậc Độc giác Phật.
3- Bậc Alahán.
4- Bậc đang hành đạo để đắc quả Alahán.
5- Bậc Anahàm.
6- Bậc đang hành đạo để đắc quả Anahàm.
7- Bậc Tư đà hàm.
8- Bậc đang hành đạo để đắc quả Tư đà hàm.
9- Bậc Tu đà hườn.
10 -Bậc đang hành đạo để đắc quả Tu đà hườn.
11- Tu sĩ ngoại đạo đă diệt ái dục.
12- Phàm nhơn có giới đức.
13- Phàm nhơn không có giới đức.
14- Loài súc sanh.

Này Ananđa, thực phẩm mà người cho đến súc sanh vẫn được phước báu to lớn. Ananđa, có lần Như Lai nói với một du sĩ ngoại đạo rằng:

- Dù đổ nước rửa bát với ư định bố thí cho những loại thấp sinh vẫn được phước nhiều. Do đó, sự bố thí từ người có giới đức trở lên đến bậc Chánh Đẳng Chánh Giác th́ phước báu lại càng to lớn hơn. Tuy nhiên, phước của cá thể vẫn là phước tương đối, giới hạn; c̣n phước của tập thể thí th́ tuyệt đối, vô hạn. Này Ananđa, đến thời mạt pháp sẽ không c̣n bậc xuất gia có giáo phục và giới đức, mà chỉ có h́nh thức tối thiểu để ghi nhận mà thôi. Chẳng hạn như, quấn vải vàng trên cổ, buộc chỉ vàng nơi cườm tay hoặc trên búi tóc. Mặc dầu vậy, sự bố thí đến h́nh thức tăng ấy cũng được phước vô lượng miễn là tác ư hướng vọng tăng già.

Đức Thế Tôn an ủi thêm D́ mẫu:

- Thưa D́ mẫu, do đó, sự cúng dường hôm nay của D́ mẫu là sự cúng dường đến tập thể. Quả thật D́ mẫu là người đại phước, đại duyên, v́ nó đánh dấu một thắng lợi lư trí. Nguyên D́ mẫu đă phát tâm muốn xuất gia theo Phật ngay từ lúc Ngài c̣n ngụ tại chùa Ni-gô-rô-tha-ra-ma (Nigrodhàràma) xứ Ca-b́-la-vệ. Nhưng Đức Phật khước từ. Lệnh bà không thối chí nản ḷng, cứ tiếp tục khẩn cầu nhiều lần nhiều lượt, nhưng Đức Phật vẫn không đổi ư. Măi đến khi Đức Phật ngự sang xứ Vesàli và tạm ngụ tại Cu-đa-ga-ra-sa-la (Kutàgàrasàla) rừng Đại lâm (Mahàvana) th́ Lệnh bà cùng với một số đông công nương Thích tộc phát đại nguyện xuất gia làm tỳ kheo ni. Tất cả đồng loạt thí phát, đắp y cà-sa, đi chân đất từ Ca-b́-la-vệ đến Vesàli, khoảng đường dài 200 cây số. Mặc dù đôi chân vương giả đă bị sưng phồng, Lệnh bà và hàng công nương vẫn vào bái kiến Đức Phật xin phép xuất gia. Đức Phật vẫn không chấp thuận. Lệnh bà vô cùng buồn tủi, bèn ra đứng ngoài ven rừng Đại lâm khóc than thảm thiết.

Đại đức Ananđa thấy vậy động ḷng, bèn an ủi Lệnh bà dằn cơn sầu khổ. Đại đức vào bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, Lệnh bà Gotami, D́ mẫu của Đức Thế Tôn, đă tự động thí phát, đắp y cà-sa, thân h́nh tiều tụy, nét mặt bơ phờ hai chân sưng phồng v́ đi bộ từ Ca-b́-la-vệ. Mặc dù vậy, Lệnh bà vẫn không nghĩ đến sự cực khổ, đau đớn, mà chỉ cầu mong được xuất gia. Bạch Đức Thế Tôn, Lệnh bà là người có nhiều công ơn, đă thay từ mẫu cho Đức Thế Tôn những ḍng sữa ấm. Xin Đức Thế Tôn mở ḷng bi mẫn cho phép Lệnh bà được xuất gia theo sở nguyện.

Một phút im lặng, Đức Phật dạy:

- Này Ananđa, D́ mẫu có nhiều công ơn đối với Như Lai, điều này Như Lai vẫn hằng tâm niệm. Nhưng Ananđa cũng đừng quên rằng Như Lai là vị Pháp vương phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với giáo đoàn, giáo sử và càng không thể lẫn lộn giữa vấn đề t́nh cảm và lư trí. Do đó, Như Lai phải tuyệt đối vô tư. Này Ananđa, nếu ví giáo đoàn Tăng già như thửa ruộng th́ sự có mặt của ni chúng sẽ là loài sâu bọ làm hại mùa màng. Này Ananđa, Như Lai đă từng dạy rằng, nữ giới là phiền trược của phạm hạnh. Ananđa ơi, nếu chánh pháp của Như Lai có thể tồn tại và thạnh hành 1000 năm, nhưng khi có ni chúng th́ thời hạn ấy sẽ giảm thiểu c̣n phân nữa. Hăy cho thông qua chuyện ấy. Ananđa chớ nên sốt sắng khẩn cầu mà sẽ có điều bất lợi về sau.

Nhưng h́nh ảnh vô cùng tiều tụy, xác xơ, với nét mặt bơ phờ và đôi chân sưng húp của D́ mẫu trong bộ y cà-sa dính nhiều bụi đất đă khiến Đại đức chạnh ḷng thương cảm:

- Bạch Đức Thế Tôn, nữ giới nếu được xuất gia đúng chánh pháp có thể đắc được thánh quả hay không?
- Có thể được không trở ngại.
- Bạch Đức Thế Tôn, nếu vậy xin Đức Thế Tôn từ bi chấp thuận cho D́ mẫu xuất gia.

Qua một phút im lặng nữa, Đức Từ Bi phán dạy:

- Này Ananđa, nếu D́ mẫu chịu nghiêm hành 8 trọng pháp (1) th́ Như Lai có thể chấp thuận. Tám trọng pháp ấy là:

1- Tỳ kheo ni dù có 100 tuổi đạo cũng phải đănh lễ, đứng dậy tiếp rước và phụng sự xứng đáng đối với vị tỳ kheo tăng dù mới xuất gia trong ngày.

2- Không được nhập hạ tại địa điểm không có tỳ kheo tăng.

3- Phải tự hành lễ Phát lồ (2) và sau đó phải đến thỉnh giáo với tỳ kheo tăng trong mỗi định kỳ nữa tháng.

4- Phải tự hành lễ Tự tứ (Pavàranà) và sau đó phải đến xin hành lễ với tỳ kheo tăng.

5- Nếu phạm tăng tàng phải chịu thọ phép Ma-nach-ta (Mànatta) (3) 15 ngày thay v́ 7 ngày nơi hai giáo hội.

6- Giới tử ni (Sikkhamànà) trước khi xuất gia phải nghiêm tŕ lục giới suốt thời gian hạn định 2 năm và phải được hành lễ thọ cụ túc giới nơi lưỡng phái giáo hội.

7- Không được nặng lời chỉ trích, hoặc mắng chửi tỳ kheo tăng.

8- Không có quyền giáo huấn tỳ kheo tăng, mà chỉ có tỳ kheo tăng mới đủ thẩm quyền giáo huấn tỳ kheo ni.

- Này Ananđa, đây là 8 trọng pháp mà ni giới phải nghiêm hành suốt đời.

Chú thích:

(1) Cũng được gọi là Pháp Bát Kính.
(2) Lễ Bố tát.
(3) Nghi thức giáo luật để trong sạch hóa tỳ kheo phạm trọng tội.

Đại đức Ananđa thuật lại tất cả cho D́ mẫu nghe và chờ xem phản ứng. Lệnh bà vô cùng hoan hỉ, có cảm tưởng như cô gái đẹp tắm rửa sạch sẽ, điểm trang lộng lẫy, đầu đội tràng hoa, th́ thử hỏi làm sao Lệnh bà không vui mừng cho được. Lệnh bà bạch với Đại đức Ananđa là sẽ trọn đời nghiêm hành Bát kính pháp.

Đức Phật cho Lệnh bà và 500 công nương Thích tộc được xuất gia thọ cục túc giới. Đây là khởi đầu cho trang ni sử trong Phật giáo.

Tại sao Đức Phật có tôn ư không cho nữ giới xuất gia? Điều này đă được trả lời dứt khoát và minh bạch qua thái độ không chấp thuận lời khẩn cầu của D́ mẫu. Ngài lo xa: Ni giới sẽ gây trở ngại cho bản thân ḿnh cũng như tha nhân. Chẳng hạn, tỳ kheo ni không thể bảo vệ an ninh cho chính ḿnh. Do đó, ni chúng không có quyền sống biệt lập, mà phải luôn luôn đặt dưới sự giáo huấn và giám hộ của tỳ kheo tăng. Sự liên đới trách nhiệm này là một trở ngại lớn cho cả hai giới.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh bất khả kháng, Đức Thế Tôn cũng hoan hỉ chấp thuận với những điều kiện trên. Qua Pháp Bát Kính, chúng ta phải nhận rằng, tôn ư Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia nhưng chế định giới luật vô cùng khó khăn để ni giới không phát triển được và cuối cùng giáo đoàn ni bộ không c̣n nữa. Sự kiện đă xảy ra như dự liệu. Nghĩa là sau khi Đức Phật tịch diệt, không có đoạn kinh nào đề cập đến ni giới. Măi cho đến triều đại A-Dục vương (1), giáo đoàn ni bộ mới tái xuất hiện.

Một điều quan trọng khác, tưởng cũng nên biết, đó là nghi thức và cung cách cho nữ giới xuất gia. Theo luật định, một vị tế độ chỉ có quyền cho một giới tử ni xuất gia và sau đó phải nghỉ một năm. Nghĩa là cách năm mới được phép cho xuất gia. Với điều kiện này, dù muốn dù không, giáo đoàn ni bộ cũng phải đi đến chổ tự diệt.

Vả lại tôn ư Đức Phật chỉ muốn nữ giới giữ vai tṛ tiếp liệu, tỳ kheo tăng là chiến sĩ, mà Đức Phật là vị Tổng tư lệnh tối cao.

 

Phần 02


 

Yêu là khổ

Ngoài bản chất từ bi hay thương người và sẵn sàng cảm thông giúp đỡ, Đại đức Ananđa rất khiêm nhă, phong cách uy nghi, lại thêm sắc diện sáng tươi khả ái đă vô t́nh khiến cho một thiếu nữ say mê cuồng nhiệt. Câu chuyện như vầy:

Có một hôm mùa hè nóng bức, Đại đức hữu sự đi đường xa, lúc trở về Kỳ viên tịnh xá ánh nắng gay gắt như đốt cháy thịt da, khiến Đại đức khát nước khô cổ, mồ hôi nhễ nhại. Vừa lúc ấy, một thiếu nữ đang xách nước xuất hiện như một cứu tinh. Quá vui mừng, Đại đức đến gần và lên tiếng:

- Này tín nữ, bần đạo đi đường xa nên khát nước, nếu không thấy phiền xin tín nữ vui ḷng cho bần đạo ít nước giải khát.

Nghe lời nói vô cùng lịch sự tao nhă, thiếu nữ ngước lên nh́n, nàng giựt ḿnh mất b́nh tĩnh, vừa bước lui vừa nói:

- Thưa Đại đức, tôi không dám dâng nước cho Đại đức đâu. Đại đức cũng không nên uống nước này v́ Đại đức là ḍng dơi quí tộc, c̣n tôi là ḍng nô lệ thấp hèn.
- Tín nữ không nên nghĩ như vậy. Bần đạo là người vô giai cấp. Bần đạo là Thích tử Sa môn chứ không phải vua chúa, bà la môn, thương gia hay lao động, mà chỉ là một con người như tín nữ vậy.
- Tôi chỉ sợ làm hoen ố đến Đại đức v́ Đại đức nhận nước từ tay người khác giai cấp, mà kẻ ấy lại là tôi, một giai cấp hèn hạ, nô tỳ và chính cá nhân tôi cũng bị đắc tội. Chớ thực ra tôi đâu tiếc rẻ ǵ với Đại đức - Nàng trả lời với giọng nhẹ nhàng và xúc động.
- Tín nữ này, sự hoen ố và tội lỗi không bao giờ có nơi người nặng ḷng từ bi và nhiều nhân ái. Sự hoen ố và tội lỗi chỉ có trong hành vi bất thiện. Như vấn đề này, bần đạo là người xin nước, tín nữ là người thí nước, tất cả đều là hành động đạo lư, mà hành động đạo lư th́ không thể bị hoen ố và có tội, trái lại nó là chất nước trong sạch để tẩy rửa những vật dơ bẩn. Truyền thống giai cấp mà Bà la môn giáo chủ xướng không tạo được sự b́nh đẳng mà chỉ tạo thêm sự ngăn cách, làm tổn thương nhân phẩm. Đức Tôn Sư của bần đạo có dạy rằng: không có giai cấp trong ḍng máu cùng đỏ, không có sự bất b́nh đẳng trong giọt nước mắt cùng mặn. Tất cả sự thật, bần đạo đă giải bày, nếu tín nữ có thể cho được th́ xin đổ nước vào cái bát này.

Nàng cảm thấy thấm thía, ngọt ngào qua lời nói vừa thành thật vừa hữu lư của Đại đức. Đấy là lần đầu tiên trong đời bất hạnh của nàng mới được nghe, nhất là lời nói đó phát xuất từ con người, mà đời cho là thượng lưu quí tộc. Dư âm lời nói dường như cứ ngân nhẹ trong tai nàng. Bàn tay dịu dàng, trịnh trọng đổ nước vào bát Đại đức trong tư thế qú một chân, c̣n Đại đức Ananđa th́ đứng cúi xuống nhận nước và uống một cách ngon lành. Nàng ngước nh́n Đại đức uống nước mà niềm vui tràn ngập cả tâm hồn.

Uống xong Đại đức phúc chúc:

- Cầu cho tín nữ được nhiều hạnh phúc.

Nàng nghiêng thùng nước và mời:

- Bạch Đại đức, xin Đại đức uống thêm cho thật hết khát.
- Vừa đủ rồi tín nữ ạ!
- Bạch Đại đức, làm sao tôi có hân hạnh được biết quí danh Đại đức?
- Tín nữ có từng nghe Ananđa, thị giả của Đức Phật bao giờ chưa?
- Dạ có.
- Có từng thấy mặt không?
- Dạ không.
- Chính tín nữ đang tiếp chuyện với Ananđa đó.

Nàng bàng hoàng v́ sung sướng ngập ḷng. Quả thật, nàng chưa bao giờ dám mơ ước được thấy mặt con người bằng xương bằng thịt huống chi được hầu chuyện cùng Đại đức Thị giả của Đức Thế Tôn. Hào quang của sự sung sướng tỏa chiếu ra ngoài sắc mặt và ánh mắt. Nàng nói thật nhẹ, giọng nói hơi run:

- Bạch Đại đức, thật là một diễm phúc lớn cho tôi được gặp Đại đức, người có giới hạnh, có danh vị mà tôi cứ tưởng là ḿnh nằm mộng.

Đại đức Ananđa từ giă nàng và về Kỳ Viên tịnh xá. Được một đổi đường, Đại đức nghe tiếng chân người phía sau, bèn quay lại nh́n th́ thấy thiếu nữ ban năy. Đinh ninh nhà cô ta ở cùng đường, nên Đại đức cứ tiếp tục đi, không nghi ngờ chi cả. Nhưng khi đến gần cổng chùa không c̣n ngă rẻ, Đại đức quay nh́n lại, vẫn thấy nàng lẽo đẽo theo sau, cặp mắt đắm đuối nh́n ḿnh, bèn dừng bước, chờ nàng đến gần, và hỏi:

- Tín nữ đi về đâu?
- Dạ, tôi đi về chùa Kỳ viên.
- Tín nữ vào đó để làm ǵ?
- Để được gặp Đại đức và tṛ chuyện với Đại đức.
- Tín nữ không nên vào đây nếu không có lư do chính đáng, v́ đây là chỗ ở của chư tăng. Tốt hơn, tín nữ nên về nhà.
- Tôi không về nhà nữa. Tôi thương Đại đức. Đời tôi chưa bao giờ gặp ai khả kính, khả ái như Đại đức.
- Này tín nữ, Đức Tôn Sư dạy rằng: muốn biết người tốt xấu phải ở chung lâu ngày, nhận xét vô tư và phải phán quyết sáng suốt. Ở đây, tín nữ mới gặp bần đạo một lần th́ làm sao dám quả quyết là bần đạo khả kính, khả ái. Nếu bần đạo đă mượn danh Đại đức Ananđa, th́ tín nữ nghĩ sao? Thôi tín nữ hăy về nhà, đừng vào chùa bất tiện lắm.
- Dù Đại đức là ai, tôi vẫn thương Đại đức.
- Tín nữ, Đức Tôn Sư dạy rằng: yêu là khổ. Yêu sanh ra lo sợ. Yêu là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Tín nữ không sợ khổ sao?
- Thưa Đại đức, tôi sợ khổ và không muốn bị khổ. Mọi người trên thế gian cũng như tôi. Tuy nhiên, tôi muốn được thương yêu đặc biệt là yêu thương Đại đức.
- Làm sao được hở tín nữ? V́ nhân quả lúc nào cũng liên quan mật thiết. Cái nhân thương đă gieo, th́ cái quả khổ phải gặt.
- Đại đức nói vậy, chớ tôi nào thấy khổ. Tôi chỉ thấy vui sướng và hạnh phúc khi được gặp gỡ, chuyện tṛ với Đại đức, người mà tôi yêu thương, quí kính nhất đời.
- Nếu sau này không gặp bần đạo nữa th́ tín nữ có khổ không?
- Chắc chắn là phải khổ nhiều lắm.
- Như vậy chứng tỏ yêu là khổ.
- Không phải vậy. Đó là do sự xa cách người thương, chớ không phải do bản chất sự thương yêu.
- Nếu xa cách người không thương th́ có khổ không ?
- Dạ không.
- Này tín nữ, như vậy tín nữ đă tự thú nhận rằng chính sự thương yêu là nguyên nhân của đau khổ.
- Bạch Đại đức, sự đau khổ mà Đại đức vừa nói đó là sự đau khổ của người không được thương yêu, nếu được thương yêu th́ đâu có khổ.
- Tín nữ đă từng được yêu thương lần nào chưa?
- Từ trước th́ chưa.
- Nếu chưa từng được yêu thương th́ tín nữ làm sao biết chắc là không đau khổ. Người bốc lửa dù cố ư hay vô t́nh cùng bị nóng phải không tín nữ?
- Dạ phải.
- Vậy th́ cái khôn ngoan nhất là đừng bốc lửa th́ không nóng, cũng như không yêu là không khổ.
- Bạch Đại đức, dù Đại đức có giải thích cách nào tôi cũng yêu Đại đức. Nếu Đại đức không chấp nhận t́nh yêu đơn phương của tôi, th́ Đại đức cứ nhận tôi như một người giúp việc trung thành để tôi được phục dịch Đại đức và riêng tôi cũng cảm thấy hạnh phúc và măn nguyện.
- Thật tội cho tín nữ quá! Tại sao tín nữ lại thương một người như bần đạo, trong khi t́nh thương yêu của bần đạo đă hiến dâng trọn vẹn cho Đức Tôn Sư rồi. Thú thật với tín nữ, trái tim bần đạo không c̣n khoảng trống. Bần đạo cũng không thể chấp nhận tín nữ như người giúp việc, v́ điều này Đức Tôn Sư đă cấm chỉ. Bần đạo thông cảm nỗi ḷng tín nữ, song bần đạo không thể vượt ra ngoài khuôn khổ luật định. Tín nữ hăy về đi. Không khéo chư vị tỳ kheo, sa-di thấy được th́ họ sẽ chê trách bần đạo. Vả lại, nơi đây rất gần hương thất Đức Bổn Sư. Tín nữ hăy nên tự trọng.

Đức Bổn Sư nghe rơ câu chuyện đối đáp giữa hai người, bèn lên tiếng hỏi:

- Chuyện ǵ đó Anan?
- Bạch Thế Tôn, một thiếu nữ đ̣i theo đệ tử vào chùa.
- Hăy cho cô ta vào, và dẫn đến đây gặp Như Lai.

Đại đức Ananđa hướng dẫn thiếu nữ vào bái kiến Đức Phật. Đức Tôn sư hỏi:

- Ananđa, câu chuyện xảy ra thế nào mà cô đây đ̣i theo ngươi vào chùa?

Sau khi nghe Đại đức Ananđa tường thuật, Đức Tôn Sư hỏi thiếu nữ:

- Này tín nữ, tín nữ thương Ananđa phải không?
- Bạch Đức Thế Tôn phải.
- Tín nữ thương chổ nào?
- Đệ tử thương cặp mắt.
- Tín nữ này, mắt là nơi qui tụ một số thần kinh hệ và hai cục thịt mềm, chứa đựng nhiều trược chất: nước mắt, cức ghèn, nước nhờn và mủ máu. Vậy tín nữ c̣n thương cặp mắt của Ananđa nữa không?
- Bạch Đức Thế Tôn, nếu vậy th́ đệ tử thương cái mũi của Ananđa.
- Này tín nữ, cái mũi cũng là nơi liên kết một số thần kinh hệ, bên trong chứa nhiều trược chất: nước mũi, cức mũi, nước nhờn... và rất hôi hám. Vậy tín nữ c̣n thương cái mũi của Ananđa nữa không?

Nàng mắc cở, đâm liều, cứ nói thương cái này đến thương cái khác. Nàng nói thương bộ phận nào th́ Đức Tôn Sư đều giải thích cái uế trược của nó. Cuối cùng nàng cúi đầu yên lặng. Đức Phật dạy:

- Tín nữ ơi, xác thân này chỉ là cái bị da, được tạo dựng lên bằng xương thịt và máu mủ, các vật uế trược thường trực chảy theo cửu khiếu, là nhà trọ, là nghĩa trang của các loại sinh trùng, là ổ bịnh tật, là nhà vệ sinh cố định, nếu không chịu khó rửa ráy thường xuyên th́ mùi hôi thúi sẽ xông ra tức khắc. Tín nữ ơi, xác thân này sở dĩ đẹp đẽ là nhờ da thịt bên ngoài che đậy các vật uế trược bên trong, cũng như quan tài được sơn phết màu mè, được trau chuốt trơn láng mà bên trong là tử thi hôi thúi. Không ai ưa thích quan tài có tử thi śnh thúi. Vậy tại sao tín nữ lại ưa thích xác thân có nhiều trược chất và sinh trùng?

Lẽ ra, giọt nước cành dương đă rủ sạch ḷng trần. Nhưng tội nghiệp nàng, v́ nàng quá thương yêu Đại đức Ananđa, thương đắm đuối, cuồng nhiệt, quên thân phận hiện tại, quên cuộc sống cách ngăn, quên cả sự hiện diện tôn quí và pháp âm mầu nhiệm của Đức Bổn Sư. Tâm trạng nàng chỉ nghĩ đến Đại đức Ananđa. Trái tim nàng chỉ có h́nh ảnh độc nhất của người nàng yêu. Quả thật t́nh yêu của nàng là t́nh yêu đơn phương, song nàng bất chấp, v́ trong cái cay đắng ấy nàng vẫn cảm thấy thú vị ngọt ngào.

Thỉnh thoảng, ánh sáng chánh pháp lóe lên trong tâm hồn nàng, rồi vụt tắt thật nhanh như điện trời. Nàng như chiếc xe tuột dốc mà bộ phận thắng đă hư. Lửa ái dục đang bốc cháy rực trời mà nước cam lồ chưa dập tắt được. Nàng suy nghĩ lung lắm, t́m phương cách nào để được gần gủi Đại đức Ananđa nhưng vấn đề hoàn toàn bế tắt. Thất vọng nàng bái biệt Đức Phật ra về. Nàng cũng không quên liếc nh́n Đại đức Ananđa như trao gởi hẹn ḥ.

Thời gian nàng gặp gỡ Đại đức Ananđa rồi theo Đại đức về chùa bái kiến Đức Phật đă hết nữa ngày. Trời chiều băng lăng. Nàng phập pḥng lo sợ sự vắng mặt quá lâu của ḿnh sẽ trở nên đại tội nếu chủ nhà cần gọi. V́ đă có lần nàng bị hành hạ tàn nhẫn chỉ v́ cái lỗi này. Thật tội nghiệp cho thân phận và kiếp sống tôi đ̣i.

Nhưng may mắn làm sao! Suốt thời gian ấy chủ nhà tuyệt nhiên không gọi đến nàng. Một sự kiện ngoại lệ. Có lẽ đây là Phật lực.

Đêm ấy nàng Cô-ki-la trằn trọc, thao thức suốt canh trường. Mở mắt th́ nóng rát, mệt mỏi; nhắm mắt th́ h́nh ảnh Đại đức Ananđa hiện lên như thiên thần bất tử. Giác quan thứ sáu của nàng gần như không c̣n đối tượng, ngoại trừ h́nh ảnh của Đại đức Ananđa. Nàng tâm niệm tên Đại đức liên tục không gián đoạn, như tín đồ ngoan đạo niệm hồng danh Đức Bổn Sư. Thỉnh thoảng h́nh ảnh từ bi thanh tịnh của Đức Bổn Sư hiện lên trong tiềm thức và nàng cũng cảm thấy yên tịnh đôi phần. Nàng cũng có cảm giác của khách lữ hành giữa trưa hè nắng gắt được núp bóng tàn cây. Nhưng cuối cùng h́nh ảnh từ bi, thanh tịnh của Đức Phật mờ dần, nhường cho h́nh ảnh khả ái của Đại đức Ananđa ngự trị. Tội nghiệp, nàng hoàn toàn bất lực trước trận giặc t́nh, nên đă tự mâu thuẩn với nổi niềm riêng.

Tiếng gà đă gáy sang canh. Tiếng gáy thúc dục, liên hồi báo hiệu b́nh minh mới. Gió mai thổi hơi sương luồn qua cửa sổ khiến nàng cảm thấy phấn khởi và tỉnh táo. Nàng đứng lên cởi bỏ áo choàng, chuẩn bị thức ăn sáng cho chủ. Mặc dù bận rộn, nàng vẫn không quên được h́nh bóng của Đại đức Ananđa. Nàng thầm van vái thần linh xui khiến cho Đại đức sáng nay đi khất thực ngang qua nhà nàng đang ở.

Nắng mai khiến nàng dễ chịu. Làm xong bổn phận, nàng ra đứng trước cửa, cặp mắt mơ màng, nh́n xa xăm. Bỗng nàng trông thấy một vị tỳ kheo ni, tay ôm b́nh bát, ḿnh mặc áo cà-sa đang đi khất thực và tiến tới nhà nàng. Một ư nghĩ khác thường thoáng hiện qua tâm thức, khiến nàng sung sướng như bắt được vàng.

- Tỳ kheo ni! Ta sẽ xuất gia làm tỳ kheo ni, sẽ được ở gần Kỳ viên tịnh xá, sẽ có cơ hội gặp gỡ chuyện tṛ với người thương.

Quyết định xong, nàng xin nghỉ việc, đến chùa bái kiến Đức Thế Tôn và xin xuất gia. Đức Thế Tôn thấy rơ thiện duyên thánh quả của nàng nên Ngài hoan hỉ chấp thuận và cho ở chung với ni chúng gần Kỳ viên tịnh xá. Sau khi xuất gia, tân ni cô tích cực học tập, làu thông kinh luật, hạnh kiểm trang nghiêm, thu thúc lục căn, sống ḥa ḿnh, có kỷ cương và rất đẹp ḷng ni chúng. Yếu tố giúp nàng thành công trong nếp sống phạm hạnh là đức tính trầm lặng.

Mặc dù tinh tiến vượt bực nhưng nàng cũng không tránh khỏi xao xuyến khi Đại đức Ananđa đến dạy đạo tại ni viện mỗi buổi chiều. Có một lần, nàng được nghe Đức Bổn Sư thuyết pháp về phiền năo là tham ái, sân hận và si mê. Ngài dạy:

- Cả ba thứ phiền năo đều thiêu đốt chúng sanh thường trực, nhất là hạng chúng sanh chịu dưới quyền sai sử của nó. Nhưng tính chất khinh trọng khác nhau: tham ái tội nhẹ, khó diệt. Sân hận tội nặng dễ trừ. Si mê vừa nặng tội vừa khó dứt. Người xuất gia, mặc dù cuộc sống xa cách tham ái nhưng nếu tâm hồn c̣n bị sai sử th́ con đường giải thoát vẫn c̣n ngưng trệ. Ví như khúc gỗ tươi, dù để nơi khô ráo cũng không phải là nhiên liệu phát hỏa.

Nghe xong bài pháp, nàng lănh hội trọn vẹn và cảm nhận sâu xa. Nàng tự thẹn, v́ thấy mục đích xuất gia của ḿnh không phải để tẩy trừ phiền năo hoặc để liễu ngộ Niết bàn mà chỉ v́ muốn được gần gủi người yêu. Quả thật ḿnh đă hành động liều lĩnh, thiếu sáng suốt, v́ như thế có khác nào để dầu gần lửa, tránh sao cho khỏi bốc cháy một sớm một chiều.

Càng suy nghĩ càng xao xuyến, hoang mang. Vả lại, nàng cũng chưa thấy Đại đức Ananđa có một cử chỉ đặc biệt nào đối với nàng. Đành rằng sự gặp gở người yêu là hạnh phúc, song hạnh phúc ấy quá nhỏ nhoi nếu đem so sánh với nỗi buồn cô đơn dầy xéo, và nỗi khổ đọa đầy của kiếp sống cách ngăn. Chiếc áo cà-sa là bức tường ngăn cách giữa nàng và Đại đức. Một sự ngăn cách hữu h́nh, nhưng không thể san bằng vượt thoát. Nàng cảm tưởng như bất thần bị tạt nước đá vào mặt. Tâm trạng nàng chán chường tuyệt vọng.

Nàng cố quên Đại đức Ananđa bằng cách tích cực trau dồi kinh luật. Nàng rất sợ sự gián đoạn của thời gian và khoảng trống của không gian. Tuy đă cố gắng và phấn đấu nhưng h́nh ảnh Đại đức Ananđa cứ hiện lên như thiên thần đối diện. Nàng hoàn toàn bất lực trong ư niệm chạy trốn t́nh yêu. V́ t́nh yêu là nam châm mà trái tim nàng là một loại kim khí.

Một hôm, nàng đưa một cô ni bạn đến gặp Đại đức. Vốn bẩm tánh nhă nhặn lịch sự, Đại đức tiếp nàng rất niềm nở, đạo t́nh. Nàng sung sướng và vui mừng chi xiết. Nàng cảm thấy cuộc đời sáng tươi, đáng yêu, đáng sống. Tâm trạng nàng như hoa xuân đang nở rộ, như lúa háp gặp mưa. Nhưng trước khi nàng ra về, Đại đức nhắc khéo:

- Này cô, từ nay, nếu không có lư do chính đáng th́ cô đừng nên đến đây. C̣n nếu có điều chi thắc mắc liên quan đến giáo lư, th́ nên hỏi, khi tôi đến dạy đạo tại quí viện.

Đêm ấy nàng đă khóc rất nhiều. Có lẽ, nước mắt đă chảy ra suốt đêm trường. Nàng cảm thấy vừa buồn khổ, vừa tủi hờn, vừa đau đớn. Sự đau khổ trào dâng, nàng uất nghẹn nói một ḿnh đứt quảng:

- Phải mà, ông ta có bao giờ nghĩ đến ḿnh đâu. Ḷng dạ ǵ mà như sắt đá!

Một ni cô ngủ gần nghe tiếng nấc giữa đêm khuya, bèn lật đật đến hỏi:

- Kokilà, có sao không?
- À, không có sao, Sumitra. Tôi vừa trải qua cơn ác mộng khủng khiếp quá. Thành thật cám ơn Sumitrà đă thương t́nh lo lắng cho tôi.
- Đức Phật dạy, người răi ḷng từ bi sẽ không nằm thấy ác mộng. Kokilà có nhập từ bi quán trước khi ngủ không?
- À, vậy là trước khi ngủ phải răi ḷng từ bi th́ sẽ không nằm mơ thấy ác mộng phải không?
- Phải.
- Đêm nay, trước khi ngủ tôi đă quên, không nhập từ bi quán. Tôi thành thật xin lỗi v́ đă vô t́nh làm kinh động giấc ngủ Sumitrà.

Sau khi Sumitrà đi rồi, Kokilà nghĩ đến thân phận bèo bọt của ḿnh. Quả thật đời nàng là một chuổi dài bất hạnh. Lúc chưa xuất gia th́ nàng là một kẻ nô tỳ bằng thể xác, đến khi được xuất gia th́ nô lệ bằng tâm hồn. Thật vậy, người bị mắc bẫy t́nh th́ tha nhân không gỡ được mà phải tự lực giải thoát. Nàng chợp mắt trong t́nh trạng uể oải, mỏi ṃn khi trời gần sáng.

 

Chạy trốn t́nh yêu

Cuối cùng, nàng không đủ can đảm chịu đựng nhiều hơn v́ sức người có hạn. Nàng dứt khoát xin phép Đức Bổn Sư và Đại đức Ananđa, từ giă ni chúng đồng đạo, ra đi sang xứ Cô-sâm-bi ( Kosambi) và tạm ngụ tại chùa Khô-si-ta-ra-má (Ghośtàrama) với ư niệm, sự xa cách là phương thuốc nhiệm mầu để xoa dịu niềm đau t́nh ái. Trước phút ra đi, nàng cảm thấy xao xuyến bồi hồi.

Nàng an cư kiết hạ tại một ni viện gần chùa Khô-si-tà-rà-ma do ông Bá hộ Khô-si-ta cúng dường Đức Bổn Sư. Suốt ba tháng sống xa Đại đức Ananđa, tâm hồn nàng tương đối yên tịnh. Đạo hạnh tăng tiến khả quan. Nàng tin tưởng rồi đây sự nhớ thương sẽ có cơ giảm thiểu.

Tuy nhiên, t́nh yêu lúc nào cũng có cái lẩn quẩn của nó, trừ phi, tự nó tan biến hay bị thời gian đào thải. Đời sống lắm rắc rối, đầy cạm bẫy và nhiều mâu thuẩn. Chẳng hạn như, ta chạy theo vật sở thích th́ nó lánh xa; ta không cần th́ nó đến.

Cũng như bóng với h́nh; h́nh t́m bóng th́ bóng lẫn trốn; h́nh lẫn trốn th́ bóng không rời.

Chính cái thông lệ ấy đă đến với Cô-ki-là khi hay tin Đức Bổn Sư sẽ quang lâm Cô-sâm-bi và Đại đức Ananđa sẽ là thị giả.

Tin này được loan truyền vô cùng nhanh chóng. Từ thành thị đến thôn quê, đâu đâu cũng nghe bàn tán và ai ai cũng sốt ruột mong cho mau đến ngày hội ngộ cùng Đức Bổn Sư. Đức vua U-đê-na mặc dù chưa được diện kiến Đức Bổn Sư, cũng vui mừng ra mặt.

Nhóm Lục sư ngoại đạo th́ chuẩn bị vấn nạn. Có vị quyết ăn thua, có vị muốn t́m hiểu để so sánh, có vị muốn phô trương, có vị chỉ muốn tiêu khiển. Chư vị phàm tăng th́ hy vọng được gội nhuần mưa pháp.

Trong lúc đó, nào ai biết được tâm trạng Cô-ki-là khi một cô ni bạn đến báo tin mừng:

- Cô-ki-là, cô có hay tin Đức Bổn Sư sẽ quang lâm đến đây không?
- Thật vậy hả cô, chắc Đức Bổn Sư quang lâm một ḿnh?
- Đức Bổn Sư đâu có quang lâm một ḿnh. Ai ai cũng biết Đức Bổn Sư quang lâm đến đâu th́ cũng có số đông tỳ kheo tháp tùng đến đó và vị thị giả là Đại đức Ananđa.
- Đại đức Ananđa! - Nàng la lớn và lấy tay đè ngực.
- Có chuyện ǵ hở Cô-ki-là. Tại sao cô hoảng hốt?
- Không. Đâu có chuyện ǵ. Tại tôi quá vui mừng, quá xúc động nên mất b́nh tĩnh.
- Mọi người đều vui mừng như vậy. Chúng ta chắc chắn sẽ được lănh hội giáo lư cao siêu mầu nhiệm từ kim khẩu Đức Bổn Sư hoặc do chư Đại đức Xá Lợi Phất, Đại đức Ca Diếp hoặc Đại đức Ananđa phụ tráchg thuyết giảng.

Ngày chờ đợi đă đến. Đức Tôn Sư và số chư vị thánh tăng tháp tùng đă đến Cô- sâm- bi. Đức vua, văn quan, vơ tướng, thân hào, nhân sĩ, Sa-môn, Bà la môn, đón rước Đức Bổn Sư vô cùng trọng thể. Riêng dân chúng th́ tự động đứng làm hàng rào danh dự, tay cầm hoa thơm và các thứ hương liệu cúng dường Đức Bổn Sư trên khoảng đường dài nhiều dặm. Hoa tươi đầy đường. Hương thơm ngào ngạt. Đức Bổn Sư và chư tháng tăng gần như đi trên lớp hoa mềm.

Từ ngoài cổng chùa, tỳ kheo, tỳ kheo ni đă vân tập qú đănh lễ Đức Bổn Sư vô cùng trang trọng. Nỗi vui mừng gần như phỉ lạc. Toàn thể đều hướng nh́n về phía Đức Bổn Sư và Đại đức Ananđa để chiêm ngưỡng. Trong số ấy, người chiêm ngưỡng Đại đức nhiều nhất là Cô-ki-là.

Vừa gặp lại Đại đức Ananđa, sự yêu thương tự nhiên bừng sống dậy như cỏ héo gặp mưa. V́ đă ba tháng rồi, ba tháng dài vắng bóng người thương - Giờ th́ người thương bằng xương bằng thịt đang ở trước mắt. Và trong khung cảnh tưng bừng, khấp khởi ấy, mọi người đều chiêm ngưỡng người thương, th́ bảo sao nàng không vừa hănh diện vừa ghen tức cho được.

Nàng tách khỏi đám đông về tư pḥng, tim nàng đau nhói như bị kim châm, muối xát. Nàng thầm nghĩ: "Trên thế gian này, không lửa nào nóng bằng lửa dục ái! "

Thật vậy, tiếng gọi của t́nh yêu lúc nào cũng thúc dục liên hồi như tiếng kèn xung trận. Sức mạnh của t́nh yêu là vô địch. Không có sự chinh phục nào tốc chiến, tốc thắng bằng cuộc chinh phục của t́nh yêu. Đạo binh t́nh yêu chỉ có thể bại trận trước đạo binh Thánh đạo. Ngoài đạo binh thiện chiến này ra, không một đạo binh nào đủ sức chiến đấu, chớ đừng nói đến vấn đề thủ thắng. Trận giặc t́nh yêu không có chiến tuyến. Đúng hơn là một cuộc nổi loạn, một cuộc đột kích bất thần, một trận băo ḷng thần tốc.

Có hai yếu tố thúc đẩy hành động: một là trách nhiệm, hai là tiếng ḷng. Yếu tố trước nếu bất thành, người ta đau khổ, nhưng tương đối nhẹ nhàng. C̣n yếu tố thứ hai, nếu bất thành th́ hậu quả của nó là thất vọng, tuyệt t́nh, quyên sinh, tự ải.

Tội nghiệp Cô-ki-là! Nàng phải chiến đấu một lúc trong hai trận tuyến. Trách nhiệm của nàng hiện tại là học đạo, hành đạo và thành tựu cứu cánh của đạo. Nàng không c̣n là một thiếu nữ tầm thường, mà là một ni cô xuất gia đầu Phật. Nếp sống thiền môn cũng đă giúp nàng quen mùi thiền vị. Sự luyến ái nam nữ sẽ phá hủy toàn bộ yếu tố trách nhiệm. Nhưng tội cho nàng! Tiếng gọi t́nh yêu lại thúc dục liên hồi như nhịp khúc hành quân, và cũng thiết tha mê hồn như khúc nhạc t́nh liêu trai thần thoại. Nàng không c̣n đủ sáng suốt để phân tích lợi hại. Quả thật trong thâm tâm nàng không muốn có sự thắng bại giữa trách nhiệm và tiếng ḷng. V́ nếu trách nhiệm thắng th́ nàng sẽ tuyệt t́nh, c̣n tiếng ḷng thắng th́ nàng sẽ mất đạo.

Tâm lư nữ giới thường hay hướng ngoại. Một khi đă yêu th́ không phân biệt địa vị, hoàn cảnh. Mặc dù biết rằng t́nh yêu đơn phương của ḿnh là tuyệt vọng nhưng nàng không lùi bước.

Ngày Đức Phật quang lâm đến, chính đêm ấy nàng xót xa và hờn tủi nhiều. V́ nàng thấy vua, quan, thân hào, nhân sĩ, bá hộ, thương gia, đủ thành phần giai cấp xă hội kéo nhau đến bái kiến Đức Phật như gịng suối chảy, trong số ấy nhiều nhất là nữ giới, mà nàng biết chắc rằng họ sẽ chuyện tṛ với Đại đức Ananđa trước khi vào bái kiến Đức Phật. Và Đại đức có bao giờ nghĩ đến nàng đâu.

Suối lệ tuôn rơi lúc nào nàng cũng không hay biết. Đến khi nước mắt chảy thật nhiều nàng mới cảm thấy dễ chịu, ngực bớt nặng và tim bớt nhói. Có lẽ, nước mắt là người bạn trung thành nhất của nữ giới. Gần như ngoài nước mắt, không c̣n người bạn nào thân thiết, chung t́nh và cảm thông hơn.

Sở dĩ có hiện tượng này là v́ nữ giới quan niệm t́nh yêu là cốt tủy của cuộc sống trong khi nam giới chỉ xem t́nh yêu như là một trong những yếu tố của cuộc sống. Do đó khi đă yêu th́ nữ giới sẵn sàng hy sinh thể xác, linh hồn và sẵn sàng nô lệ cho t́nh yêu không cần cân nhắc.

Chiều hôm sau, nàng bách bộ quanh chùa ngắm cảnh, để tâm hồn được phần nào nhẹ nhàng. Đứng nh́n cảnh muôn hoa đua nở, ḷng nàng đắm đuối, say mê. Đây hoa thảo đường khoe nhụy đưa hương cợt đùa lũ ong, kia nàng dạ lư lẳng lơ đưa t́nh với bướm; nọ là đóa sen trắng ấp ủ hương trinh, biểu tượng một vẻ đẹp thanh kỳ, quư phái. Mỗi loài có một vẻ đẹp khác nhau; một đàng th́ phóng đảng kiêu sa; một đàng lại dịu dàng thanh nhă. Chung quanh ao sen có băng đá dài để ngồi hóng mát, ngắm cảnh. Nàng thường ra đây ngồi, nh́n những con bướm lượn. Gió chiều thổi nhẹ, đưa hương sen vào bờ, một mùi thơm nhẹ nhàng tinh khiết. Trước cảnh hữu t́nh ấy nàng cảm thấy phấn khởi. Cảnh vật thiên nhiên lúc nào cũng có giá trị đối với cuộc sống. Nó là người bạn trung thành trong những giây phút vui, buồn. Nếu được sống gần gủi thiên nhiên chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Càng sống xa thiên nhiên càng bị phủ phàng, nghiệt ngă.

Trong lúc nàng măi thả hồn theo ngoại cảnh, bỗng có tiếng chân người phía sau đi tới. Vội quay đầu nh́n lại, nàng bắt gặp Đại đức Ananđa và ông chủ chùa. H́nh ảnh ấy làm tan biến không khí yên tịnh thần tiên của nàng. Trong giây phút bàng hoàng, nữa mơ, nữa tỉnh, không biết nàng mừng hay lo mà bàn tay và vành môi run lên nhè nhẹ. Khi Đại đức Ananđa đến gần th́ nàng bước lùi, nàng không c̣n nhớ được rằng phía sau lưng là ao nước. Nàng cứ tiếp tục lùi và vô t́nh vấp phải cục đất cứng, mất thăng bằng, nàng ngă xuống.

Cả Đại đức Ananđa và ông bá hộ đều không ai dám đỡ nàng v́ nàng là một tỳ kheo ni. Nàng tự gượng đứng lên, qú gối, đầu cúi xuống.

- Này cô, - giọng nói của Đại đức Ananđa vừa lo lắng vừa thương hại - tôi thành thật xin lỗi v́ đă làm kinh động, khiến cô phải khổ sở. Cô có đau lắm không?

Những lời hỏi han đầy lo lắng và nhiệt t́nh của Đại đức Ananđa như món thần dược giúp nàng hết cơn đau nhức. Thật vậy, không có ǵ khiến cho người nữ vui mừng bằng, khi biết người yêu lo lắng và tưởng nhớ đến ḿnh. Họ quên tất cả lỗi lầm quá khứ của người yêu, và rất dễ tha thứ, như trẻ thơ quên khóc, quên la khi được bú sữa mẹ.

Nàng rất cảm động muốn thốt lời cảm tạ, nhưng nghẹn ngào v́ quá xúc động. Cuối cùng nàng đành yên lặng.

Đại đức Ananđa hỏi tiếp:

- Cô có đau lắm không? Tôi cảm thấy ái ngại quá!
- Bạch Đại đức, không sao.
- Cô đến ở đây có an vui không?
- Bạch Đại đức, tạm an.

Ông bá hộ xen lời:

- Thưa sư cô, nếu sư cô cần chi trong tứ sự, tôi xin t́nh nguyện cúng dường.

Nói xong, Đại đức và ông bá hộ lại tiếp tục đi. Nàng nh́n theo Đại đức Ananđa mà tâm hồn như chết lặng. Nhưng sực nhớ cử chỉ lo lắng vừa rồi của Đại đức, nàng cảm thấy vô cùng sung sướng và ước ǵ được té năm mười lần trong một ngày. Mất tự chủ, nàng tự động bước theo Đại đức. Đi được một khoảng đường nàng dừng bước. Động tác nàng lúc ấy trông thật đáng thương. Cuối cùng, nàng quay về tư pḥng với tâm hồn u ẩn. Nàng thèm gặp gỡ, chuyện tṛ với Đại đức Ananđa, như người chết khát thèm nước. Khi muốn gặp nhau, th́ người ta dùng đủ phương cách, kể cả thủ đoạn bất chánh để đạt sở nguyện, v́ yêu là mù quáng.

Nàng đóng cửa nằm như người bịnh nặng. Sú-nan-đà, một cô ni ở gần, gỏ cửa hỏi:

- Có sao không Cô-ki-là?
- Cám ơn Sú-nan-đà, tôi chỉ hơi nhức đầu và cảm thấy khó chịu trong người.
- Có uống thuốc chưa?
- Dạ có.
- Có cần tôi giúp chi cứ nói, đừng ngại nhé!
- Vâng. Cám ơn Sú-nan-đà. Cô có quen biết Đại đức Ananđa không?
- Biết chớ, ai mà không biết Đại đức, họa chăng người ấy không biết Đức Phật. Bộ cô có chuyện ǵ liên hệ với Đại đức phải không?
- Vâng, tôi muốn nhờ cô hoan hỉ thỉnh cầu Đại đức quang lâm đến đây để tôi được nghe lời chỉ giáo sau cùng. V́ tôi cảm thấy mạng sống không bảo đảm. Đức phật có dạy: sanh, bệnh, thời giờ, địa điểm và cảnh giới là những diều bất định. Do đó, xin cô thương t́nh đến thỉnh cầu Đại đức theo lời khẩn thiết của tôi như vầy: Cô-ki-là tỳ kheo ni, xin đê đầu đănh lễ Đại đức, giờ đây nàng đau rất nặng, không ngồi dậy được, xin Đại đức mở ḷng từ bi đến thăm bệnh nhân lần cuối. Sự quang lâm của Đại đức sẽ là một điều rất hạnh phúc cho nàng.

Trời đă về chiều. Bóng chùa và những bóng cổ thụ nghiêng ḿnh ngă dài khiến vị trí quanh chùa trở nên mát mẻ u nhàn. Trên cành, chim hót líu lo. Có cặp th́ đứng sát gần nhau, vừa rỉa lông vừa chuyện tṛ ríu rít. Loài phi cầm tuy không đủ khôn ngoan như loài người, nhưng đời sống vô cùng hạnh phúc, trong khi loài người mệnh danh là thông minh, tài trí, nhưng đă có mấy ai hạnh phúc, thanh nhàn. Sự thật, hạnh phúc là do sự an phận, mà loài người v́ quá thông minh nên quá nhiều dục vọng. Hậu quả dục vọng là khổ sở, lo phiền. T́m hạnh phúc trong ái nhiễm chẳng khác ǵ t́m dầu trong đá sỏi. Hăy ra khỏi nhà lửa tham dục th́ lập tức có sự mát mẻ, an lạc. Đi t́m hạnh phúc ngoại giới cũng như người khát t́m nước ở sa mạc. Cái triết lư t́m hạnh phúc là t́m ở nội tâm. Trước hết phải nh́n thẳng sự thật khổ đau và truy t́m nguyên lư khổ đau là hạnh phúc. Ví như bệnh nhân muốn được sống an vui, lạc thú th́ trước hết phải truy tầm bịnh căn phục dược. Sự hoàn toàn b́nh phục là điều hạnh phúc.

Lời khẩn cầu của Cô-ki-là được chuyển đến Đại đức Ananđa khiến Ngài lấy làm bâng khuâng, thầm nghĩ:

- Có lẽ nàng bị té ban chiều mà sanh ra bệnh? Thật là tội! Nàng yêu ḿnh trong khi ḿnh không thể yêu nàng. T́nh yêu của nàng ví như trẻ thơ thấy mẹ nằm chết, cứ kêu réo bảo trả lời. Bản tánh nữ nhi vốn yếu mềm hơn nam giới, nhưng có một điều là nam nhi phải đầu hàng vô điều kiện đó là sự chịu đựng đau khổ.

Đại đức Ananđa nhờ một vị tỳ kheo đi với ḿnh đến chổ ở Cô-ki-là để thăm bệnh. Nhưng khi trông thấy bệnh t́nh Cô-ki-là th́ Đại đức bớt lo lắng một phần lớn. Trí tuệ bén nhạy của Đại đức đă soi thấu được bệnh căn của nàng. Nhưng Đại đức tự nhủ: đây là cơ hội tốt nhất để ḿnh giác ngộ nàng.

 

Đoạn ĺa phiền năo

Chủ đích đă có, Đại đức Ananđa an ủi và khích lệ:

- Này Cô-ki-là, đời sống bắt đầu từ những yếu tố đáng nhờm gớm và hổ thẹn. Hiện hữu của nó là sự tập hợp của tứ đại. Chung cuộc của nó là tiêu tán khổ đau. Mở mắt chào đời ta khóc. Nhắm mắt ĺa đời ta cũng khóc. Nếu lúc chào đời trẻ thơ nắm chặt đôi tay biểu hiện cho khả năng chiếm hữu th́ khi nhắm mắt ĺa đời người ta x̣e tay cảnh tỉnh thế nhân hăy hồi quang tu tỉnh. Này cô, tôi xin phép kể cô nghe cuộc đời của tôi. Tôi là em họ Đức Tôn Sư, được sinh trưởng trong ḍng Thích Ca quí tộc và xuất gia lúc 36 tuổi. Một công tử tuổi đời như vậy th́ tránh sao khỏi vướng dây t́nh ái. Chính nhờ sự từng trải, lịch kinh nên tôi khẳng định được rằng: Yêu là khổ. T́nh yêu hành hạ thể xác, đày đọa linh hồn. Mọi người đều muốn được như ư nguyện trong địa hạt t́nh yêu, nhưng chính t́nh yêu th́ chưa cho ai được toại nguyện. Nó là độc chất phá hoại toàn bộ cơ cấu nội tâm. Hạnh phúc của t́nh yêu cũng giống như bệnh nhân muốn mau b́nh phục rồi uống mă tiền. Cô không nên chạy theo tiếng gọi của t́nh yêu v́ khi t́nh yêu ngự trị, sai sử th́ tâm hồn đâm ra loạn động, càng loạn động càng khổ sở. T́nh yêu trông xa đẹp như núi tuyết, nhưng đến gần chỉ có lạnh lẽo, hoang liêu. Cô hăy nh́n thẳng vào cuộc sống, đừng nuối tiếc những ǵ đă qua, đừng mong cầu những ǵ chưa đến. Cuộc sống tuy có hiện thành nhưng mau tiêu tán, như lượn hải triều trườn ḿnh lên băi cát. Cô-ki-là ơi, t́nh yêu sẽ làm mờ tối lương tri như áng mây trôi che vầng trăng sáng. Bẩm tánh nữ giới hay mắc cở, xấu hổ nhưng khi đă yêu th́ không c̣n biết xấu hổ nữa. Do đó, rất dễ đi sâu vào con đường tối tăm, tội lỗi, như trẻ thơ bị lạc ở trong rừng. Lúc bấy giờ cái cô đơn nguy hiểm của rừng sâu, không c̣n là vấn đề, mà chính sự cô đơn, hoang mang, lo sợ của đứa trẻ mới đáng ngại. Có những người, trông h́nh thức bên ngoài thật là ấm êm, hạnh phúc, nhưng nội tâm là trận cuồng phong băo tố. Cái cô đơn của người đâu phải v́ thiếu bạn, thiếu t́nh mà v́ thiếu lư tưởng để tôn thờ, thiếu hải đảo chánh pháp để nương tựa. C̣n riêng cô th́ đă có tất cả. Vậy cô hăy tiếp tục tôn thờ và nương tựa. Hăy chấp nhận dấn thân cho mục đích cao đẹp đó. C̣n t́nh yêu th́ như chiếc thuyền lủng đáy, bám vào nó là tự trầm ḿnh.

Chánh pháp là thuyền từ cứu độ, là đuốc tuệ soi đường. Khách trầm luân hăy bám vào thuyền Từ, c̣n kẻ lạc lối, hăy cầm lấy đuốc Tuệ. Bất cứ hành động nào đưa đến hậu quả đắng cay, ân hận, Đức Tôn Sư khuyên chúng ta tuyệt đối không nên làm. Do đó, dù thể xác héo hon, dù cuộc đời cay đắng, cô không nên bỏ quên chánh pháp. Nếu phải chết thà chết v́ chánh pháp chớ không nên chết v́ t́nh yêu. Làm người ai cũng có lúc quên ḿnh, lầm lỗi, nhưng một khi đă hồi quang phản tỉnh th́ đài sen giác ngộ cũng gần. Biển cả bao la nhưng quay đầu sẽ thấy bến. Hơn nữa cô là bậc xuất gia, một phẩm hạnh thanh cao, một tâm hồn ly tục, một ư chí kiên cường, th́ cô hăy tích cực và xứng đáng.

Các loài trầm, kỳ dù khô vẫn giữ được mùi vị; tượng chiến lâm trận dù chết không lùi, mía dù bị ép, bị nấu vẫn ngọt; bậc trí tuệ dù gặp khổ đau thà chết vẫn không bỏ đạo. Cô đă từ bỏ cuộc sống của một thiếu nữ tầm thường, đă từ bỏ h́nh thức thế nhân, đă đem thân nương nhờ cửa Phật th́ cô hăy cố gắng từ bỏ những liên hệ về tư tưởng khác phái, v́ nó là kẻ thù nguy hiểm của phạm hạnh. Chắc cô cũng biết: trong năm người mới có một người anh dũng, ngàn người mới có một người nói thật, nhưng trong loài người khó t́m được một kẻ thoát ly.

Đức Tôn Sư có dạy, nhờ ái dục để dứt ái dục, nhờ kiêu mạng để ĺa kiêu mạng, nhờ vật thực để ngăn vật thực, nhưng vấn đề t́nh dục th́ không thể như vậy được.

Câu nói: "Nhờ ái dục để dứt ái dục" , nghĩa là khi ta được nghe có vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, u-bà-tắc, u-bà-di đắc đạo chứng quả, rồi ta cố gắng tu hành để được thành đạt như những người đó, gọi là nhờ ái dục để dứt ái dục.

Câu nói: "Nhờ kiêu mạng để ĺa kiêu mạng ", nghĩa là khi nghe có người đắc đạo chứng quả th́ tự ái nổi lên, nghĩ rằng người ta làm được tại sao ḿnh không làm được rồi cố gắng tu hành để thành đạt đạo quả. Ấy gọi là nhờ kiêu mạng để ĺa kiêu mạng.

Câu nói: "Nhờ vật thực để ngăn vật thực ", nghĩa là các bậc chân tu thường quán tưởng: vật thực chỉ để nuôi mạng sống như người lạc giữa sa mạc bắt buộc phải ăn xác chết để tự cứu. Nhờ đó các Ngài không bị dính trong vị ngon và cố gắng công phu hành đạo. Gọi là nhờ vật thực để ngăn vật thực.

Này Cô-ki-là, riêng t́nh dục th́ không thể nhờ chính nó để dứt được, trừ phi tích cực hành đạo để đoạn ĺa. Đức Phật dạy: ngũ dục là vô thường, vui ít khổ nhiều, dẫy đầy tội lỗi, cực nhọc là nhân, khổ sở là quả. T́nh dục là mẹ đẻ của luân hồi.

Giảng xong, Đại đức chờ xem phản ứng. Quả thật, thời giảng có kết quả. Nàng ngồi dậy, đắp y chỉnh tề, qú đănh lễ gần chân Đại đức, tức tửi, nói chẳng nên lời.

Trên thế gian này, nếu sự đau khổ và sự nhục nhă không tác động song hành th́ hậu quả không đáng kể. Nhưng nếu cả hai cùng lúc phát khởi th́ tác hại của nó sẽ vô cùng khủng khiếp nhất là đối với phái nữ.

Nàng tủi thẹn và hờn tức v́ t́nh yêu không được đáp ứng. Lời nói của Đại đức Ananđa như mũi lao nhọn đâm vào tim nàng. Càng xấu hổ hơn nữa, khi nàng nhận thấy Đại đức không tin thái độ và tư cách của ḿnh. Nàng cảm thấy như bị tạt nước vào mặt. Nàng qú im lặng, nghẹn ngào. Giây phút trôi qua, Đại đức Ananđa lên tiếng:

- Cô-ki-là hăy nín đi, đừng khóc nữa. V́ khóc lóc không giải quyết được ǵ và cũng không làm vơi cạn sự khổ đau ngập ḷng. Tội nghiệp cho nàng, v́ Đại đức Ananđa chỉ nói toàn những lời của bậc thánh nhân thoát tục.

Vị tỳ kheo phải quay mặt nơi khác v́ không đủ can đảm nh́n cảnh đoạn trường của người khác phái.

- Bạch Đại đức - nàng nói qua tiếng nấc - tôi sẽ quyết tâm phụng hành lời dạy của Đại đức dù phải đắng cay cùng cực. Tôi không tự trọng nên phải khổ lụy đến mức này. Thân phận tôi chỉ là một kẻ nô tỳ hèn hạ. T́nh yêu đă làm tôi mù quáng, quên giai cấp, ḍng dơi, đi yêu một người thượng lưu quí tộc. Bạch Đại đức, thân nghiệp và khẩu nghiệp của tôi hoàn toàn vô tội, nhưng ư nghiệp chắc chắn là đă bợn nhơ. Tôi yêu Đại đức, một t́nh yêu chân thành tuyệt đối, nếu hành động ấy có lỗi, xin Đại đức từ bi hỉ xả.

Nói xong nàng cúi xuống, nước mắt dầm dề làm ướt một phần chiếc áo cà-sa.

Nh́n gương mặt bơ phờ ủ dột của nàng, Đại đức an ủi:

- Này Cô-ki-là, cô không nên đề cập đến vấn đề giai cấp, v́ tôi đă quên nghĩ đến lâu rồi. Sở dĩ tôi không yêu cô không phải v́ sự dị biệt giai cấp, mà v́ tôi nhận chân được cái tội lỗi và hậu quả đắng cay của t́nh yêu. Hiện tại, tôi có bổn phận phục dịch Đức Bổn Sư và cố gắng thành đạt đạo quả để đoạn trừ phiền năo. Bao giờ phiền năo c̣n, là bấy giờ luân hồi c̣n. Đức Bổn Sư dạy rằng: hiện hữu là nguyên nhân của thống khổ. Nếu dễ duôi để bị đọa vào khổ cảnh th́ con đường giải thoát sẽ bị tŕ trệ lâu dài. Cô đừng bận tâm về việc bất đồng giai cấp. Mọi người sinh ra để rồi chịu chung định luật già, đau, chết. Tất cả đều bất lực và cô đơn. Vả lại, con người máu đều đỏ, nước mắt đều mặn, biết tham sống, sợ chết, ghét khổ ưa vui cũng như các loài cây khi bị đốt cháy th́ màu than vẫn đen, màu tro vẫn xám và màu lửa vẫn hồng. Ḥa ḿnh chung lo hạnh phúc an b́nh cho chúng sanh là một hành động thức thời, hữu ích. C̣n giai cấp cao thấp không thành vấn đề. V́ bất cứ giai cấp nào một khi đă hành động bất thiện th́ tội ác như nhau, c̣n nếu hành động thánh thiện th́ phước đức cũng như nhau.

Tôi ước mong cô đừng nghĩ tới vấn đề giai cấp làm chi cho thêm tủi phiền, mà hăy cố gắng, tích cực hành đạo cho mau giải thoát.

Cô-ki-là ơi! Bản chất t́nh yêu vốn đau khổ, lại càng đau khổ hơn nếu yêu không đúng chổ. Chẳng hạn như cô yêu tôi, hay tôi yêu cô, gọi là yêu không đúng chổ. Vậy xin cô hăy tự dứt khoát, đừng vương vấn mà chuốc lấy lụy phiền. Nếu làm được như vậy, là cô sẽ đạt đến một hạnh phúc tuyệt vời, vừa an lạc, vừa thanh tịnh.

Trên đường về Đại đức Ananđa đi thẳng đến ao sen và ngồi nghỉ trên một băng đá. Đại đức thở dài, nặng nhọc như muốn trút bỏ những nổi u hoài. Đại đức bảo vị tỳ kheo đi chung về trước và dặn:

- Khi nào Đức Bổn Sư gọi, hăy ra đây t́m tôi.

Hồi tưởng những chuyện đă qua, Đại đức cảm nhận có một thứ t́nh cảm nhẹ nhàng đối với Cô-ki-là. Nhưng nhờ đại duyên, đại hạnh trong tiền kiếp yểm trợ, nên Đại đức tự ngăn được sóng ḷng. Đại đức tự giáo hóa: này Ananđa, ngươi mới đắc Tu đà hườn, tham ái, sân hận, si mê vẫn c̣n. Ngươi không nên dễ duôi, gần gủi và gặp gỡ Cô-ki-là, v́ ư căn rất khó uốn nắn, chế ngự như voi nổi cơn tà dục.

Ananđa, ngươi hăy huy động chánh niệm để án ngự ư căn, không nên để nó tự do phóng túng mà phải nắm thế chủ động. Người mà Đức Tôn Sư ban khen là chiến sĩ là người có khả năng chế ngự và tự thắng.

Sau khi tự giáo hóa, Đại đức vào bái kiến Đức Phật và tường thuật đầy đủ diễn tiến của sự việc v́ Đại đức không bao giờ dấu diếm Đức Phật bất cứ điều ǵ. Đức Tôn Sư dạy:

- Này Ananđa, ngươi quên rằng bậc tu đà hườn không bao giờ đọa vào hạ cảnh và chắc chắn sẽ đắc Alahán trong một hoàn cảnh thuận duyên. Ngươi chớ khá nghĩ suy, phiền năo. Lời dạy vừa chí t́nh, vừa khích lệ ấy khiến Đại đức Ananđa vô cùng hoan hỉ.

Chiều hôm sau, tại giảng đường chùa Khô-si-ta, khi Phật tử tập trung đông đảo, Đức Tôn Sư đăng lâm pháp ṭa, uy nghiêm như Đức Thiên Vương Đế Thích nơi thiên điện. Ngài phóng hào quang rực rỡ như ánh thái dương. Hội trường im lặng. Ngài nh́n tứ chúng với đôi mắt từ bi. Đức Tôn Sư nghĩ: đại chúng quả thật nghiêm trang, xứng đáng, chân tay không cử động, không một tiếng ho hen đằng hắng, chứng tỏ một sự tôn kính tuyệt đối. Nếu Như Lai không lên tiếng trước chắc chắn họ sẽ tiếp tục thinh lặng.

Qua huệ nhăn, Ngài thấy rơ thiện duyên thánh quả của tỳ kheo ni Cô-ki-là đă đến thời kỳ liễu chứng. Để chuyển hóa và tiếp độ, Ngài đề cập đến bài pháp Chuyển Pháp Luân:

- Này tứ chúng, có hai cực đoan mà các người không nên hành tŕ. Một là lợi dưỡng hưởng lạc. Hai là khổ hạnh ép xác. Cả hai đều không phải thánh đạo, là con đường hèn hạ, tầm thường, phàm tục, bất thiện và vô bổ. Trái lại, này tứ chúng, có một con đường trung dung cao thượng, thánh thiện, hữu ích, giác ngộ, đó là con đường thánh đạo có tám chi: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, nghề nghiệp đúng, nuôi mạng đúng, tinh tiến đúng, niệm tưởng đúng, và định tâm đúng.

- Này tứ chúng, khổ là sự thật. Hiện hữu là sự tập thành của ngũ uẩn và tứ đại. Do đó, hiện hữu khai nguồn cho thống khổ: sanh khổ, già khổ, đau khổ, chết khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ... Tóm lại, những ǵ liên hệ đến ngũ uẩn là khổ, khổ thường trực, khổ lớn lao.

- Này tứ chúng, khổ là sự thật. Nguyên nhân khổ cũng là sự thật. Nguyên nhân ấy là ái dục, tức sự khao khát, mắc dính trong cảnh giới vừa ḷng, trong sự hiện hữu và trong những vật sở hữu. Những sự mắc dính khao khát vừa kể là nguyên nhân của mọi thống khổ.

- Này tứ chúng, cảnh giới an lạc tuyệt đối không c̣n bị chi phối bởi phiền năo và các sự thống khổ, chính là sự đoạn diệt, ly tham, không c̣n dư tàn khát ái, là sự khai trừ, quăng bỏ, giải thoát, không c̣n chấp trước là một sự thật.

- Này tứ chúng, con đường hành tŕnh đến cảnh giới Niết bàn cũng là một sự thật. Con đường có 8 chi này Như Lai đă đề cập nơi phần Trung đạo.

- Các ngươi hăy nương nhờ chánh pháp. Như Lai chỉ là người hướng đạo. Phần tinh tiến thiêu hũy phiền năo là nhiệm vụ của các ngươi. Con đường giải thoát Như Lai đă chỉ dạy, vậy các ngươi hăy tự hành tŕnh.

Thời pháp hôm ấy, kết quả vô cùng khích lệ. Riêng tỳ kheo ni Cô-ki-là th́ như người chết đuối vớ được phao, như lữ hành sa mạc gặp nước. Nổi vui mừng biến thành phỉ lạc. Năng lực định tâm chuyển thành minh sát. Những vi tế phiền năo đă bị đoạn ĺa. Tâm trạng Cô-ki-là vô ưu, vô nhiễm, và chứng ngộ Thánh đạo Alahán. Từ đây tỳ kheo ni Cô-ki-là được dự phần trong đại gia đ́nh Thánh nhơn vô lậu.

 

Phần 03
 

 

Tể tướng Bandhula và Nhà vua

Một sáng mùa xuân. Lá non xanh mướt, đều đặn theo cành như phô trương sức sống, như đùa giỡn gió xuân, khiến tao nhân mặc khách như quyến luyến sanh t́nh.

Mùa xuân không phải chỉ dành riêng cho cây cỏ mà dành chung cho loài người. Thật vậy, khi gió xuân mát và nắng xuân ấm báo hiệu mùa xuân đến th́ loài người cũng cảm thấy tâm hồn phơi phới và tứ đại điều ḥa. Do đó, thiểu bệnh, thiểu tật, cuộc sống có nhiều khởi sắc. Loài chim cũng nô đùa trên cành líu lo gọi bạn. Tiếng ríu rít hữu t́nh, hồn nhiên và đều rộ của chúng cũng báo hiệu một b́nh minh mới.

Đại đức Ananđa kinh hành trong không khí tươi mát của mùa xuân, suy nghiệm: "Quạ và tu hú đều đen. Cái ǵ khiến chúng khác nhau. Xuân đến quạ cũng là quạ, tu hú cũng vẫn là tu hú. Người hiền người dữ cũng là người. Vậy lấy tiêu chuẩn nào để phân biệt?". Và Đại đức tự chọn một tiêu chuẩn, đó là tiếng kêu , là lời nói.

Đại đức liên tưởng đến Phật ngôn: "Nơi nào không có thức giả, nơi đó không có hội trường. Người nói những lời bất chánh không gọi là người trí ".

Ngay lúc ấy, h́nh ảnh một thiếu phụ hiện ra. Khi đến gần, Đại đức mới nhận ra là tín nữ Mallikà phu nhơn của Tể tướng Bandhula, một Phật tử rất ngoan đạo và có nhiều thiện cảm với Đại đức.

Đại đức hỏi:

- Hôm nay có chuyện chi mà Đạo hữu đi chùa sớm vậy?
- Bạch Đại đức, đệ tử đến bái biệt Đức Bổn Sư trở về Kusinàrà, quê nội của Tể tướng. Đệ tử định sau khi bái biệt Đức Bổn Sư, sẽ đến từ biệt Đại đức. Không ngờ được gặp Đại đức ở đây.
- Có chuyện chi quan hệ không Đạo hữu?
- Bạch Đại đức, Tể tướng bảo đệ tử như vậy.

Khi nàng vào bái biệt, Đức Tôn Sư phán hỏi:

- Có chuyện chi, Mallikà ?
- Bạch Thế Tôn, đệ tử đến bái biệt Đức Thế Tôn để trở về Kusinàrà.
- Tại sao vậy ?
- Tể tướng bảo đệ tử như vậy.
- Có chuyện ǵ quan hệ lắm không?
- Bạch Đức Thế Tôn, câu chuyện xảy ra chỉ v́ đệ tử không có con để nối dơi tông đường.
- Câu chuyện chỉ có bấy nhiêu sao?
- Bạch Đức Thế Tôn, đúng vậy.
- Này Mallikà, nếu đúng vậy th́ ngươi cứ ở lại và hăy nói cho Tể tướng biết đây là lời dạy của Như Lai.

Mallikà chi xiết vui mừng. Nàng có cảm giác của một tử tội được ân xá trước giờ hành quyết. Nàng đănh lễ Đức Bổn Sư và trở về đường củ. Được gặp Đại đức Ananđa vẫn c̣n kinh hành, nàng bèn thuật tất cả cho Đại đức nghe. Đại đức khích kệ:

- Đạo hữu thật là người hữu phước. Từ nay, đạo hữu ước mong điều chi sẽ được toại nguyện. V́ lời dạy của Đức Tôn Sư lúc nào cũng hội đủ yếu tố nhân duyên. Nay Ngài cản như vậy chắc chắn phải có điều hạnh phúc lớn cho Đạo hữu. Đạo hữu hăy vững niềm tin.

Nàng Mallikà vợ của Tể tướng Bandhula là một trong ba tín nữ đại phước, có những món đồ trang sức có giá trị liên thành. Ngoài nàng ra, c̣n có hai người nữa là Đại tín nữ Visàkhà và ái nữ ông bá hộ tại Bàrànaś.

Với tâm trạng vô cùng cởi mở, hân hoan, nàng đem lời dạy của Đức Tôn Sư thuật lại cho chồng nghe. Tể tướng lấy làm hoan hỉ và nghĩ rằng, chắc chắn phải có một nhân duyên đại sự thế nào đó, nên Đức Tôn Sư mới khuyên Mallikà ở lại. Hơn nữa, tuệ giác Đức Tôn Sư thông thiên đạt địa, không một việc thầm kín nào vượt ngoài tầm lưới thiên nhăn của Ngài. Tể tướng tŕu mến nh́n vợ:

- Này em, sở dĩ anh bảo em trở về quê không phải v́ anh không yêu em mà chính v́ tục lệ đă có từ ngàn xưa. Người vợ không sanh con, phải nhường quyền cho chồng cưới vợ lẻ để có con nối dỏi tông đường. Anh chỉ hành động theo tục lệ cổ truyền chứ trong thâm tâm anh lúc nào cũng yêu em.

Mallikà sung sướng ngă đầu vào ngực chồng, nước mắt chảy dài theo má. Tâm trạng nàng vui buồn lẫn lộn. Vui là sẽ được tiếp tục sống bên chồng và có cơ hội phục dịch. Buồn v́ thân phận hiếm hoi bạc phước của ḿnh. Nàng cũng thông cảm sự thiệt tḥi lớn lao của chồng trong vấn đề tuyệt tự. Nàng nói qua nước mắt:

- Anh, em hiểu ḷng anh và sẵn sàng tuân lời anh dạy. Em đă hiến dâng tất cả cho anh. Em hằng tâm nguyện là sẽ làm hết sức ḿnh để anh được vui ḷng, dù gian nguy, cực khổ. Nhưng vấn đề bất lực của em hôm nay thật vượt ngoài khả năng hữu hạn của em. Em tự an ủi, trên đời đă có mấy ai toại nguyện. Cuộc sống là sự lẫn lộn giữa mật đắng và mật ong, giữa ngọt ngào và cay đắng. Chúng ta không phải là chủ nhân của vạn hữu, mà chỉ là nô lệ, nô lệ thường trực và liên tục cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt.

Tể tướng nói thật nhẹ nhàng:

- Tại sao em tự chuốc lấy lụy phiền bằng tự ti mặc cảm. Cuộc sống không có ǵ đến đổi phải quá khổ sở, đắng cay. Những sự kiện bất như ư xảy ra bất thường ấy cũng phần nào nói lên giá trị của những sự kiện như nguyện. Nếu không có vị đắng th́ vị ngọt sẽ trở thành vô nghĩa. Nếu không có cái nóng cháy mùa hè th́ cái tươi mát của mùa xuân sẽ không c̣n thú vị. Em hăy nh́n thẳng vào sự thật cuộc đời trong khái niệm lạc quan, để hy vọng đẹp được tràn đầy, để cuộc sống được vươn lên.

Nàng ngước nh́n thẳng đôi mắt chồng và nói:

- Thưa anh, nếu ḿnh cố gắng lạc quan trong khi tâm hồn ray rứt th́ chẳng hóa ra ḿnh tự dối ḷng sao?

- Nếu lạc quan để đạt mục đích thiện, mỹ th́ hành động ấy đâu có hại. Vấn đề đáng ngại, là người đời thường dối ḷng trong mục đích xấu xa tội lỗi. Vậy tại sao không hướng tâm theo một kích thước lạc quan để phụng hành chánh pháp. Người phụng hành chánh pháp sẽ được an vui trong hiện tại và được sanh về nhàn cảnh trong vị lai.

Cũng có thể em không đồng quan điểm với anh. Trên thế gian này, bất cứ quan điểm nào cũng có kẻ tán đồng có người chống đối. Chẳng hạn như em thương anh cũng có nhiều người ghét anh. Nhưng ai ghét anh cũng được miễn em thương anh là đủ lắm rồi.

Mallikà nh́n thẳng mắt chồng mà ḷng ngập tràn sung sướng. Trên cao, mảnh trăng thượng tuần treo lơ lững, chiếu ánh sáng ngà ngọc xuống trần gian, xua đuổi bóng đen tối tăm buồn nản, đem lại cho hai tâm hồn nguồn hy vọng mới.

Nơi cửa sổ từng lầu thứ ba, Tể tướng đứng choàng tay trên vai mảnh dẻ của vợ như bảo vệ chở che, c̣n Mallikà đứng nép ḿnh bên chồng như chờ đợi âu yếm.

Mới đầu hôm mà gió đưa trăng đă thổi nhẹ từ chân trời. Mùi thơm hoa viên theo gió quyện vào thoang thoảng. Tể tướng nh́n vợ:

- Này em, trong gió mát, dưới trăng ngà được gần bên em quả thật đời anh sung sướng. Anh có cảm tưởng như ngày đầu ḿnh mới yêu nhau. Anh xin xác nhận một lần nữa với em rằng anh yêu em chân thành, tha thiết.

Sau đêm ấy, Mallikà thọ thai và đến ngày khai hoa, nàng song sanh 16 lần, tất cả được 32 đứa trai vô cùng kháu khỉnh và giống cha như khuôn đúc. Tể tướng mừng như bắt được vàng. Các cậu được cha mẹ cưng như trứng mỏng.

Nhưng cuối triều đại vua Pasênađi cái hung tin Tể tướng và 32 đứa con trai bị ám sát đă khiến dân chúng và chư vị Tỳ kheo bàn tán xôn xao. Vị th́ nói, Tể tướng là người đức độ, liêm chính, tài ba xuất chúng, tại sao lại chết một cách oan uổng; vị th́ bảo, Tể tướng và 32 đứa con trai là cột trụ triều đ́nh tại sao lại bị sát hại một cách tức tửi. Lúc ấy Đại đức Ananđa đi ngang qua. Các vị Tỳ kheo đứng lên cung kính mời ngồi. Sau khi an toạ Đại đức lên tiếng:

- Chư vị đang bàn chuyện chi vậy?
- Bạch Đại đức, chúng tôi đang bàn về cái chết vô cùng thê thảm của Tể tướng và 32 đứa con trai của ông.

Đại đức Ananđa cũng tỏ ra xúc động thật sự. Thoáng phút giây, Đại đức tiếp lời:

- Quả thật cái chết của Tể tướng khiến tôi vô cùng xúc động. Mặc dù sinh quán của Tể tướng ở Kusinàrà, nhưng gia đ́nh cũng như cá nhân Tể tướng đối với tôi th́ mối cảm t́nh rất sâu đậm. Do đó, cái chết của Tể tướng làm tôi chua xót không ít.

Các vị Tỳ kheo đâm ra thắc mắc khi Đại đức bảo rằng Tể tướng là người sanh trưởng ở Kusinàrà.

Một vị Tỳ kheo đặt câu hỏi:

- Bạch Đại đức, tôi lấy làm thắc mắc v́ Đại đức bảo rằng Tể tướng không phải người bản xứ th́ làm sao làm đến chức Tể tướng, một chức vụ mà tôi cho là vô cùng quan trọng đối với triều đ́nh, ngoại nhân không khi nào được giao phó. Lại nữa, dân chúng xứ Kôsala này rất quí mến Tể tướng và chính tôi cũng chưa bao giờ nghe ai đề cập đến vấn đề sinh quán của vị văn quan khả kính ấy.

Đại đúc Ananđa tŕnh bày:

- Chư vị c̣n nhỏ tuổi nên chưa tận tường những vấn đề xa xưa có liên quan đến Tể tướng. Nếu các vị muốn, tôi sẽ tóm lược để các vị nghe:

- Ngược gịng thời gian cách đây hơn 30 năm. Lúc bấy giờ Tể tướng là một vị hoàng tử nổi tiếng tài ba, văn vơ kiêm toàn, nhất là kiếm pháp th́ vô cùng trác tuyệt. Sau khi thành tài từ trung tâm vơ đường Takasilà trở về, Tể tướng được Hoàng gia đón rước trọng thể. Theo tục lệ, khi một hoàng tử thành tài phải thi triển sở học của ḿnh trước hoàng gia và dân chúng. Vơ học sở trường của Tể tướng là kiếm pháp và cung pháp.

Trong cuộc thi triển kiếm pháp lần này th́ tất cả các bó tre chất cao khỏi đầu đều bị Tể tướng chặt đứt thật liền như chém chuối. Nhưng đến bó cuối cùng th́ bỗng nghe tiếng rắc. Truy nguyên th́ được biết trong hoàng tộc có người lén đút sắt vào bó tre ganh tài. Tể tướng quá tức giận v́ nghĩ rằng trong hàng hoàng tộc đối xử quá tệ bạc với ḿnh. Phải chi có một cá nhân nào cho ḿnh biết trước, ḿnh sẽ chặt đứt thật ngọt, không hề nghe tiếng rắc.

Tể tướng ngỏ ư trả thù nhưng song thân chàng dùng lời an ủi và khuyên ngăn không được hành động táo bạo.

Vâng lời song thân Tể tướng không dám có hành động tàn sát nhưng trong thâm tâm th́ đă dứt nghĩa đoạn t́nh. Tể tướng xin phép song thân bỏ xứ ra đi mặc cảm v́ tự thẹn:

"Chặt tre c̣n nghe tiếng rắc !"

Này chư hiền đệ, theo thông lệ, tự ái nam nhi rất lớn, nhất là nam nhi tài ba xuất chúng th́ tự ái nam nhi rất lớn hơn. Do đó, Tể tướng không bao giờ chấp nhận một cuộc sống mà danh dự bị tổn thương, dù sự tổn thương ấy do âm mưu thâm độc của tiểu nhân.

Nhưng đi đâu bây giờ, Tể tướng nhớ đến người bạn học hiện làm vua tại kinh đô Sàvatthi - tức đức vua đương kim- bèn gởi thơ ngỏ ư xin được sống nhờ bạn. Đức vua Pásênáđí Kôsalá thông cảm và thương bạn vô cùng. Hơn nữa, sự có mặt của một cộng sự viên tài ba xuất chúng vừa là t́nh bằng hữu chi giao th́ quả thật là điềm lành báo hiệu cho một triều đại vàng son cực thịnh.

Đức vua hạ lệnh tổ chức tiếp rước thật trang trọng và phong chức Tể tướng kiêm Tổng tham mưu trưởng quân lực. Tể tướng vô cùng cảm kích và tận tụy gánh vác công việc triều đ́nh một cách có sách lược.

Một hôm, hữu sự đi ngang qua pháp đ́nh dân chúng trông thấy bèn hoan hô vang dội và yêu cầu Tể tướng xử lại vụ án bất công mà người ngay bị kết tội oan uổng. Sở dĩ có sự bất công vừa kể chỉ v́ người có tiền hối lộ th́ được kiện. Dân chúng đă oán hận ngập ḷng v́ nỗi oan ức gần thấu đến chín tầng mây. Không c̣n chịu đựng được nữa v́ sức người có hạn. Tức nước vỡ bờ. Người cầm cân công lư mà không công bằng chính trực th́ dân chúng sống cuộc đời khổ sở bất an. Không có sự khổ sở, bất an nào bằng sự bất công. Nó c̣n độc ác, nguy hiểm và đáng sợ hơn loài rắn độc. Người giữ cán cân công lư phải có lương tâm, biết hổ thẹn và ghê sợ sự bất công và hậu quả của nó th́ mới không dám hành động bất lương. Đức Phật gọi sự hổ thẹn và sự ghê sợ là trợ-thế-pháp. Nghĩa là hai pháp này có năng lực bảo trợ hạnh phúc và an lạc của thế nhân. Đức Tôn Sư cũng dạy thêm nghệ thuật lănh đạo phải công bằng và liêm chính. Ví như đàn ḅ lội nước, nếu con đầu đàn lội ngay th́ đàn ḅ cũng ngay, ngược lại cũng vậy.

Trong cuộc sống cộng đồng người lănh đạo công bằng minh chánh, th́ dân chúng an cư lạc nghiệp, nếu ngược lại thượng bất chánh, hạ tắc loạn. Khi dân chúng không c̣n tin tưởng th́ hậu quả khó mà lường được.

Hôm ấy, v́ phẩn uất và oán hận người cầm cân công lư, nên dân chúng mới hoan hô và thỉnh cầu Tể tướng tái xử vụ án. Thật không hổ danh là vị Tể tướng đạo đức, liêm chính, tất cả những nghị án mà Tể tướng phán quyết đều công minh, khiến dân chúng vô cùng hoan hỉ. Họ tiếp tục hoan hô Tể tướng làm chấn động cả khu vực pháp đ́nh. Đức vua biết chuyện lấy làm hoan hỉ bèn phong Tể tướng kiêm nhiệm chức vụ H́nh bộ Thượng thư.

Để trong sạch hóa guồng máy pháp đ́nh Tể tướng thanh lọc nội bộ và loại trừ những phần tử bất hảo, khiến cho không khí pháp đ́nh trở nên nghiêm minh, là nơi nương tựa của người cô thế. Nhưng chính sóng gió cũng bắt đầu manh nha từ đây.

Thế rồi những phần tử bất hảo cấu kết và phao tin Tể tướng âm mưu thí chúa. Thoạt tiên, đức vua không tin nhưng hết người này đến người khác họ nói rất giống nhau khiến cho đức vua tin lời.

Ngừng một lúc, Đại đức Ananđa kể tiếp:

- Này chư hiền đệ, có những sự kiện khó thể kham nhẫn được, đó là:

1- Người nữ biết chồng san sẻ t́nh yêu.
2- Người nam bị chà đạp danh dự.
3- Loài rắn bị cắp trứng.
4- Loài voi thấy vợ ḿnh bị cưỡng ái.
5- Nhà vua biết người khác muốn cướp ngôi.

V́ mất sáng suốt, đức vua nghĩ kế loại trừ Tể tướng bằng cách phao tin nơi biên thùy có loạn. Cướp bóc nổi lên sát hại lương dân gây xáo trộn nền an ninh biên pḥng và hạ lệnh cho Tể tướng cùng 32 đứa con hỏa tốc đem binh ra biên thùy dẹp loạn.

Trong khi Tể tướng và 32 đứa con chuẩn bị lên đường th́ phu nhân Mallikà linh cảm có chuyện chẳng lành, thỏ thẻ với chồng:

- Thưa phu quân, ngoài phu quân ra không có người nào đủ sức dẹp loạn hay sao mà đức vua phải cần đến một vị Tể tướng như phu quân?

- Em ạ, đừng nói là đức vua sai anh dẹp loạn mà ngay như bảo anh chết anh cũng không từ nan. Em nên nhớ rằng, đức vua là chúa của thần dân và chính sự sống của chúng ta đều do người thanh toàn. Do đó, bất cứ lúc nào người cần đến là chúng ta phải hy sinh.

- Nhưng em linh cảm có chuyện chẳng lành. Phu quân cũng đă nhiều lần ra đi v́ công vụ nhưng em có khi nào dám cản trở. Tuy nhiên, lần ra đi này của phu quân khiến em đau ḷng như ai cắt ruột và run sợ như người đắm thuyền giữa đêm tối mông lung. Phu quân đừng đi có được không?

- Anh đă bảo với em rằng, bổn phận thần tử là phải tuyệt đối tận trung dù phải hy sinh.

- Nhưng tại sao lại phải đem các con theo. Để chúng nó ở nhà có được không?

- Lệnh truyền như vậy. Anh không dám di mạng.

Tể tướng hơi chột dạ, thoáng buồn khi nghe vợ đề cập đến các con. Ông cố gắng giữ nét mặt b́nh thản để trấn an vợ hiền.

- Phu quân không đem cháu Đikhácaradáná cùng theo cho có bạn?

- Không có lệnh em ạ!

- Cho em theo với có được không?

- Không nên đâu em ạ. V́ đây là nhiệm vụ của anh và các con. Em chớ quá lo ngại.

Trên thực tế giác quan thứ sáu của phái nữ nhạy cảm hơn nam giới trên mặt t́nh cảm. Do sự nhạy cảm của ư căn nên sự linh cảm của người nữ về mặt này thường thường là đúng.

Trên đường về, Tể tướng và các con đều bị phục binh của đức vua hạ sát.

- Bạch Đại đức - một vị tỳ kheo lên tiếng- thật khó tin quá. Không lẽ một người như Tể tướng mà không tiên liệu được những âm mưu tày trời như vậy hay sao. Theo tôi nghĩ, Tể tướng là người tự trọng, bỏ xứ đến sống nhờ với bạn, nay bạn sanh tâm hại ḿnh th́ thà chết c̣n hơn. Vả lại, Tể tướng là người trung hậu, trọng nghĩa, khinh tài nên bị thiệt thân. Mọi người đều biết đức vua nhẹ dạ và hay nghe lời tôi nịnh. Do đó, tôi cả quyết là Tể tướng có thể biết được âm mưu của nhà vua.

Đại đức Ananđa lặng nh́n về phía xa xăm. Mọi người đều im lặng. Cảnh vật như biểu đồng t́nh. Không gian như bất động.

Để phá tan bầu không khí bất động ấy, Đại đức tiếp lời:

- Khi biết được sự thật, đức vua hối hận vô cùng nhưng t́m đâu ra người bạn hiền như Tể tướng. Sự ân hận cứ ám ảnh, khiến đức vua không an tâm. Nổi tiếc thương như tê tái cả tâm hồn, nhất là mỗi khi quốc gia hữu sự mà khả năng và thông tuệ hữu hạn của Ngài khó bề giải quyết.

Này chư hiền đệ, "Người nhẹ dạ, thiếu sáng suốt hay tin lời nịnh hót không phải chỉ làm khổ bản thân mà c̣n gây đau khổ cho người thân yêu trung hậu. C̣n hạn người ác th́ nhiều như cỏ cú. Thế nhân dễ bị chúng đầu độc và, một khi đă tin chúng th́ vô phương cứu văn. Trước mặt th́ ngọt như mật ong nhưng sau lưng là rắn độc. Thân ác, khẩu ác, ư ác là tướng người ác. Thân cận người ác là tự sát. V́ ảnh hưởng tội ác của họ sẽ giết chết đời sống thuần lương đạo đức của ta".

Kể đến đây, Đại dức Ananđa cáo biệt chư vị tỳ kheo v́ đă đến giờ phục dịch Đức Tôn Sư.

 

Nơi rừng Xu-xi

Thời gian lặng lẽ trôi qua, tuổi đời của cũng già theo năm tháng. Màu tóc đen đă ngă sang màu bạc. Nhất là sau ngày Đức Tôn Sư nhập diệt, nỗi buồn cô đơn lại càng in rơ những nếp nhăn trên gương mặt phong trần.

Một h́nh bóng, tiếp nối công hạnh độ đời, từ cao nguyên rừng núi đến b́nh nguyên sông Hằng, từ thành thị đến thôn quê, không nơi nào là không có dấu chân Đại đức. Khi cần thanh vắng th́ vào rừng sâu, lúc cần giảng đạo th́ t́m nơi đô hội. Sứ mạng truyền tŕ chánhh pháp không cho phép Đại đức an phận hưởng nhàn. Suốt 40 năm tiếp nối trọng trách của một sứ giả Như Lai, Đại đức Ananđa đă tỏ ra vô cùng xứng đáng.

Một hôm, Đại đức rời kinh đô Sà-vát-thi, xứ Kô-sá-lá trực chỉ con sông lớn Dá-mú-na (Yamuna) và di hành xuống lưu vực hướng nam dẫn đến kinh đô Kô-sâm-bi xứ Văn-sá, một đô thị nổi tiếng về kỷ nghệ, một trung tâm thương măi và cũng là trục lộ giao tiếp giữa các xứ Kô-sá-lá, Má-gá-dhá và các quốc gia thuộc phương nam và phương đông.

Gịng nước Dá-mú-na trong nh́n thấy đáy. Bên kia bờ sông nhà cửa san sát , tường cao kiên cố. Những lâu đài thoáng nh́n như cung điện đức vua Ú-đê-ná. Những buổi chiều về, ánh thái dương phản chiếu trên những nóc nhà tṛn thếp vàng óng ánh như có hằng trăm mặt trời. Dưới sông, thuyền bè tấp nập, cờ xí đủ màu quả là một đô thị vô cùng phồn thịnh.

Đại đức di hành đến đây th́ hoàng hôn đă xuống. Ánh sáng chạy dài trên ngọn lúa chín như trải đệm vàng. Gió chiều nhè nhẹ như mơn trớn, khiến Đại đức như cảm thấy sinh lực dồi dào, khang kiên.

Những áng mây chiều băng lăng như phiêu bạt về chân trời vô định. Thỉnh thoảng chúng cũng tụ lại thành bức tranh vân cầu gợi hứng nguồn thơ.

Đại đức không có ư định vào thăm thành mà mục đích muốn t́m nơi thanh vắng để tịnh thần. Do đó, Đại đức tiến sâu vào rừng.

Đêm xuống. Vầng trăng lấp ló ẩn hiện sau những tàn cây phía đông như e thẹn, rụt rè. Ánh sáng chị Hằng trải ḿnh xuống trần gian, tô vàng nhân thế nhưng cũng không đủ xô đuổi bóng tối của rừng đêm. Sự vắng lặng của núi rừng rất phù hợp với tâm hồn của những bậc chân tu hành đạo. Do đó thỉnh thoảng cũng có các bậc Sa môn hành giả đến đây tạm ngụ. Đại đức chọn một tịnh thất, quét dọn sạch sẽ, trải tọa cụ ngồi thiền cho măi tới canh hai mới chỉ tịnh.

B́nh minh vừa xuất hiện. Ánh thái dương chiếu xuống trần gian c̣n mờ sương khói. Gió thổi sương mai lung linh trên ngọn cỏ như những hạt kim cương lóng lánh. Tiếng quạ vỗ cánh tung bay kiếm mồi kêu chát tai nhưng không đủ làm náo động núi rừng yên lặng. Tiếng lá cây va chạm từng hồi xào xạt và tiếng lá khô ĺa cành chậm chạp.

Khi trời thật sáng tỏ, Đại đức đắp y mang bát vào thành Kô-sâm-bi khất thực.

Phật tử trông thấy Đại đức, họ vừa vui mừng vừa xúc động. Vui mừng v́ đă lâu lắm rồi họ mới gặp Đại đức. Xúc động v́ Đại đức c̣n đó mà Đức Tôn Sư vắng bóng đâu rồi. Thấy vật thực vừa đủ, Đại đức trở vào rừng dùng ngọ.

Chiều hôm ấy, sau khi xả thiền, Đại đức trông thấy một vị tỳ kheo dáng người cao lớn, phong cách nghiêm trang từ ngoài đi vào rừng. Khi thấy Đại đức Ananđa có h́nh thức y phục giống ḿnh, vị tỳ kheo đến gần làm quen:

- Thưa hiền hữu, tôi nghĩ là sẽ không bao giờ được gặp ai trong cảnh núi rừng vắng vẻ này. Có lẽ hiền hữu cũng là một tịnh giả, nên mới một ḿnh t́m đến nơi này.

Đại đức Ananđa giao thân:

- Này hiền hữu, tôi cũng đoán được hiền hữu là một vị Samôn xuất gia đúng theo chánh pháp mà Đức Tôn Sư là giáo chủ. Đức Tôn Sư dạy rằng: sự vắng lặng là người bạn quí nhất.

Thưa hiền hữu, câu nói mang tính chất Phật ngôn vừa rồi của hiền hữu, nếu tôi đoán không lầm th́ hiền hữu là một vị trưởng lăo tôn túc có nhiều tuổi đạo. Riêng tôi mới phát tâm xuất gia sau khi Đức Tôn Sư tịch diệt.

- Này hiền đệ - Đại đức Ananđa thay đổi cách xưng hô- tôi xuất gia thuở Đức Tôn Sư tại tiền, và hữu phước được hầu cận Ngài.

- Thưa Đại đức - vị tỳ kheo cũng thay lối xưng hô, khi biết Đại đức Ananđa có nhiều tuổi đạo - đệ tử hằng khát vọng được nghe những giai thoại về Phật hạnh, nhất là được nghe kể lại từ một nhân vật sống gần gủi Đức Tôn Sư. Nhưng trước hết, đệ xin Đại đức hoan hỉ cho biết tôn danh để trang điểm cho sự hiểu biết của đệ. Riêng đệ th́ tên là Kâm-bô-ja, trùng tên với sinh quán của đệ ở về mạn bắc, nổi tiếng về giống ngựa quí.

Đại đức Ananđa tự nghĩ: vị tỳ kheo đối diện quả thật là người chân tu có đạo tâm, ngưỡng mộ Đức Tôn Sư và nhất là nguyện ước được nghe Phật hạnh. Rất có thể khi được nghe sẽ phát sanh phỉ lạc và cũng có thể đắc được pháp nhăn.

Đại đức nói:

- Này hiền đệ, tôi xin lược thuật một ít công hạnh của Đức Tôn Sư để đệ được măn nguyện. Tuy nhiên, tôi tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng, có những vấn đề chính tôi được mục kích, và cũng có những vấn đề do Đức Tôn Sư v́ lời khẩn cầu của tôi thuật lại. C̣n tên họ tôi, khi c̣n tại gia th́ bà con gọi tôi là công tử Ananđa. Đến khi xuất gia th́ đồng đạo gọi tôi là thầy Ananđa. Và Đức Tôn Sư thường gọi tôi là "Ananđa, Ananđa ".

Nghe xong, vị tỳ kheo Kô-sâm-bi khôn xiết vui mừng v́ thầy không ngờ được gặp Đại đức Ananđa. Một luồng điện phỉ lạc chạy tỏa khắp châu thân. Thầy qú lạy dưới chân Đại đức thật lâu, chứng tỏ một sự kính trọng tuyệt đối, một sự vui mừng tột độ. Khi thầy ngẩng đầu lên, Đại đức mới biết vị tỳ kheo đang khóc v́ hoan hỉ.

- Bạch Đại đức, thật là diễm phúc lớn cho đệ được bái kiến Đại đức, một vị đại diện tôn quí của Đức Tôn Sư. Đệ đi bộ vô cùng cực khổ qua nhiều thị trấn với mục đích được diện kiến và thỉnh giáo Đại đức, không ngờ đột nhiên lại được như nguyện. Đệ mừng quá. Tâm trạng đệ như ḅ con lạc đường được gặp lại ḅ mẹ.

Nói đến đây, vị tỳ kheo cúi đầu đănh lễ dưới chân Đại đức một lần nữa.

- Thôi hăy bỏ qua chuyện này. Vấn đề cá nhân không có chi đáng nói. Chuyện đáng nói và có giá trị là chuyện Đức Phật. Này hiền đệ, thuở Đức Tôn Sư tại thế, cũng tại rừng Xu Xi này, trước số đông chư vị tỳ kheo, Ngài bốc một nắm lá và hỏi:

- Này các tỳ kheo, lá trong rừng và lá trong tay Như Lai, phần nào nhiều hơn?

- Bạch Thế Tôn, lá trong rừng quá nhiều, c̣n lá trong tay quá ít.

- Này các tỳ kheo, cũng như thế ấy, giáo lư mà Như Lai chứng tri nhiều như lá trong rừng, c̣n những giáo lư mà Như Lai đă truyền dạy th́ ít như lá trong nắm tay. Này các tỳ kheo, tại sao Như Lai không truyền dạy toàn bộ cho các thầy. Này các tỳ kheo, giáo lư Như Lai truyền dạy chỉ nhắm mục đích diệt khổ. Những phần khác, nếu có biết, th́ cũng chẳng ích lợi cụ thể ǵ.

Một lần, có một tỳ kheo đến hỏi Như Lai một lúc 10 câu hỏi với điều kiện Như Lai phải thỏa măn, bằng không ông ta sẽ trả y hoàn tục. Mười câu hỏi hoàn toàn vô bổ. Chẳng hạn như thế giới này hữu cùng hay vô cùng, thường hay vô thường, chết rồi có tái sanh nữa hay không v.v... Như Lai nói với tỳ kheo ấy như vầy:

- Này thầy, dù thầy có bỏ y hoàn tục hay thầy có ư niệm ấy, Như Lai cũng không thể thỏa măn câu hỏi của thầy được.

- Này các tỳ kheo, những vấn đề cần phải đặt ra cho mọi người là sự khổ và làm thế nào cho hết khổ. Như người bị trúng tên độc không chịu cho thầy nhổ tên rịt thuốc, mà cứ đ̣i điều tra cho ra thủ phạm th́ các thầy nghĩ thế nào về thái độ ấy.

- Bạch Thế Tôn, chắc người ấy phải chết.

Một thí dụ khác:

- Một người bị lửa cháy đầu nhưng không chịu dập lửa mà cứ khăng khăng đ̣i điều tra cho ra hư thực. Hành động như vậy các ngươi cho là khôn ngoan hay dốt nát.

- Bạch Thế Tôn, ấy là hành động dốt nát.

- Này các tỳ kheo, tam giới là ḷ lửa: lửa phiền, lửa năo. Chúng sanh chạy loanh quanh trong ḷ lửa th́ bảo sao không nóng. Hoặc cũng như người cầm đuốc chạy ngược gió th́ bảo sao không bị phỏng tay, cháy mặt. Vậy, hành động khôn ngoan nhất là hăy ra khỏi nhà lửa, hăy quăng bỏ cây đuốc, th́ lập tức sẽ có sự mát mẻ, an lạc.

- Này các tỳ kheo, Như lai đă quăng bỏ cây đuốc và kêu gọi các thầy quăng bỏ.

- Này các tỳ kheo, cây đuốc ấy là ǵ?

- Cây đuốc ấy là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm tiếp xúc với sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, khơi nguồn cho lửa tham ái, lửa sân hận, lửa si mê.

Như Lai chưa thấy một năng lực ngoại giới nào làm cho người nam phải điêu đứng như sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp của người nữ và ngược lại.

- Này các tỳ kheo, Như Lai gọi ngũ dục là cạm bẫy ma vương, là loài hoa độc, là sức mạnh vạn năng. Người muốn cảm thắng ma vương phải phá bỏ cạm bẫy, phải đạp nát loài hoa độc, phải chế phục sức mạnh vạn năng của nó.

- Này các tỳ kheo, dưới cội bồ đề, trước giờ thành Phật, Như Lai đă khám phá được ngũ dục và thẳng thắng khai trừ: Này ngũ dục, Như Lai đă truy nguyên được ngươi. Chính tư duy bất chánh là nguyên động lực h́nh thành ra ngươi. Như Lai đă tận diệt nó rồi. Do đó, duyên sanh của ngươi đă bị phá vỡ toàn bộ.

- Này hiền đệ, nghe xong thời pháp một số đông tỳ kheo đắc đạo chứng quả. Quả thật, Đức Tôn Sư như tay thợ chuyên môn, kiến tạo nền móng chánh pháp kiên cố rồi mới xây dựng lâu đài thánh đạo, thật đúng với tôn hiệu Pháp vương.

Một công hạnh khác. Lần nọ, cũng tại Kô-sâm-bi này, Đức Tôn Sư ngự với một số đông tỳ kheo tại chùa Khô-sí-ta-ra-má. Một buổi sáng Đức Tôn Sư vào thành khất thực. Thiện nam tín nữ phát tâm cúng dường, gieo duyên lành trong mănh ruộng phước. Cùng lúc ấy, một số đông kéo đến mắng nhiếc, chửi rủa Đức Tôn Sư chẳng tiếc lời. Họ chửi ngay tại thành thị và kéo vô chùa chửi nữa. Nguyên nhân sự kiện chửi mắng ấy như vầy:

Trước đó không lâu, Đức Tôn Sư ngụ tại xứ Kú-rú. Nơi đây có một thiếu nữ ḍng Bà la môn tên Ma-găn-đí-da nổi tiếng hoa khôi trong vùng. Không biết bao nhiêu vương tôn công tử, bá hộ thương gia cầu thân nhưng đều bị phụ thân nàng từ khước. Nàng đẹp đến nổi mọi người chiêm ngưỡng không biết chán và cái đẹp của nàng đă tự động trở nên thành ngữ. Nghĩa là mỗi khi có một thiếu nữ đẹp th́ mọi người đều bảo rằng: Nó đẹp như Magănđída. Các vị bô lăo cũng hằng cầu nguyện và chúc tụng con cháu ḿnh được đẹp như nàng.

Nhưng, hiền đệ cũng đừng quên rằng: hồng nhan đa truân. Vả lại, cái đẹp thường đi đôi với cái hại. Cái đẹp là động lực thúc đẩy cá nhân người đẹp cũng như những người liên hệ đến khổ lụy tai ương.

Một buổi sáng đẹp trời, Đức Tôn Sư ngự ngang nhà cô, trong khi cả gia đ́nh đang chuẩn bị tế Thần lửa. Vừa nh́n thấy Đức Tôn Sư, thân phụ cô ngẩn ngơ như người mất hồn v́ sắc tướng phi thường của Ngài. Sau khi lấy lại b́nh tĩnh, ông bèn đến gần làm quen:

- Này chú em, thú thật từ trước nay, tôi chưa thấy người trai nào đẹp như chú em. Chú em biết không, con gái nhà tôi cũng ít nhiều hương sắc. Không biết bao nhiêu vương tôn, công tử, bá hộ, thương gia đến xin cầu thân nhưng tôi đều từ chối. Có lẽ duyên trời xui khiến nên tôi mới được gặp chú em. Chú em chịu khó nán đợi một chút, tôi sẽ dẫn nó đến ra mắt. Nếu chú em bằng ḷng, tôi sẽ gả nó cho chú em.

Đức Tôn Sư im lặng. Ông bá hộ lật đật về nhà. Đức Tôn Sư dùng nguyện lực ghi lại dấu chân dưới đất thật rơ và di chuyển đến đứng dưới một tàng cổ thọ.

Nói về ông Bà la môn bươn bả về nhà thuật chuyện cho vợ nghe và hối bà trang điểm cho con gái thật đẹp để đến ra mắt chú rể tương lai. Nhưng khi ông đến nơi th́ h́nh bóng chàng trai hào hoa đă biến đâu mất. Trong khi ông nh́n quanh ngó quất t́m kiếm th́ bà vợ nh́n thấy dấu chân Đức Phật. Bà rất giỏi về tướng pháp, nên nói ngay với chồng:

- Này ông, tôi xin ông đừng đeo đuổi vô ích, v́ người có dấu chân này là bậc vĩ nhân có một tâm hồn ly dục. Ông biết không, người nhiều ái nhiễm th́ bàn chân khuyết giữa, người nhiều sân nhiễm th́ nặng ngón chân, người nhiều si nhiễm th́ nặng gót chân. Cho nên, tôi dám quả quyết người này là người thoát tục phi phàm.

Ông chồng không mấy tin, cho rằng vợ ḿnh ỷ biết chút ít tướng pháp rồi lên mặt. Chớ thật ra kiến thức đàn bà hẹp ḥi như cá sấu bị nhốt trong lu. Ông không bỏ cuộc và tiếp tục t́m Phật. Khi nh́n thấy Đức Tôn Sư đứng dưới tàng cổ thọ, ông mừng không tưởng được. Tay dắt con gái bươn bả đến gần và thương trách:

- Này chú em, tôi bảo chú em chịu khó nán chờ chốc lát, tôi sẽ dẫn con gái đến ra mắt. Thế mà, chú em đành ḷng bỏ đi đến đây khiến tôi t́m mệt cả người. Tôi có cảm tưởng chú em không bằng ḷng con gái của tôi. Nhưng thôi, nay tôi và nhà tôi đă dẫn nó đến để cho nó được trao thân gởi phận với chú em, mong chú em thương t́nh che chở.

Nói xong, ông bảo con gái lạy ra mắt vị hôn phu bất đắc dĩ. Đức Tôn Sư im lặng giây phút, suy tư: vợ chồng bà la môn này có cảm t́nh thật nhiều với ḿnh. Vậy ḿnh cũng nên tiếp độ ông bà. Hơn nữa, hai người đều có duyên lành thánh đạo. Qua giây phút im lặng, Đức Tôn Sư nghiêm từ:

- Này ông bà, nếu Như Lai kể chuyện, ông bà có vui ḷng nghe không?

- Kể đi chú em, tôi nóng ḷng muốn biết chú em đă có gia đ́nh hay chưa.

Trong khi ấy, Ma-găn-đí-da đứng nh́n sắc tướng Đức Tôn Sư trân trối, nh́n không biết chán, như trẻ thơ nh́n búp bê đẹp. Cô đă cố gắng chinh phục Đức Tôn Sư bằng ánh mắt đẹp tuyệt vời, bằng vành môi đỏ mộng và bằng tất cả cử chỉ gợi t́nh của người con gái mà nàng tự tin sẽ chinh phục cảm t́nh Đức Tôn Sư.

Đức Tôn Sư thấy rơ dục nhiễm trầm trọng qua tư duy bất chánh của nàng, và nhận thấy không tiếp độ trực tiếp được nên Ngài dụng ư tiếp độ gián tiếp. Ngài nói với song thân cô về ư nghĩa thoát ly, dù biết rằng sự thật ấy đụng chạm tự ái cô ta:

- Này ông bà, khi Như Lai c̣n xuân thời, vui hưởng ngai vàng, có nhiều cung nữ diễm lệ hầu hạ, thế mà Như Lai đâm ra chán năn, ĺa bỏ ngai vàng vợ đẹp và cung tần, ra đi tầm đạo giải thoát, sống cuộc đời cô độc gió sương, nhưng vô cùng tiêu dao nhàn nhă, như tù được thả, như bệnh được lành. Như Lai tiếp tục khổ hạnh ép xác, công phu hành đạo suốt 6 năm dài, cuối cùng Như Lai là chiến sĩ thắng trận: trận giặc t́nh ái, trận giặc sân hận, và trận giặc si mê. Ma vương đă t́m cách cản trở công tŕnhh giác ngộ của Như Lai nhưng bất thành. Cuối cùng, Ma vương nghĩ cách dùng mỹ nhân kế chế ngự Như Lai. Nhưng thú thật ông bà Như Lai không mảy may động tâm, mặc dù ba cô gái của Ma vương là Tan-ha, Ra-ga, và Á -rá-tí rất đẹp, một nét đẹp tiên phong kiều diễm, người trần tục chỉ nh́n thấy là mê mẩn tâm hồn.

Ngừng một phút, Đức Tôn Sư kết luận:

- Này ông bà, ba cô tiên nữ đă dùng đủ tuyệt kỷ gợi t́nh mà Như Lai c̣n không khởi động dục niệm, huống chi là xác thân ô trược của cô đây th́ làm sao Như Lai động tâm cho được. Thú thật với ông bà chẳng những bằng tay mà dù bằng chân, Như Lai cũng không bao giờ đụng đến.

 

Bản chất Ái dục

- Này hiền đệ - Đại đức Ananđa kể tiếp: Lời kết luận Đức Tôn Sư như sét dánh ngang mày: nàng cảm thấy nóng ran cả người. Người con gái cảm thấy thù nhất là khi ḿnh sẵn sàng hiến dâng mà bị từ chối. Cặp mắt long lanh như đao trời và trong suốt như mặt nước hồ thu đă đỏ lên v́ lửa sân hận. Khuôn mặt diễm lệ như tiên nga và sáng như trăng rằm đă tối sầm lại v́ áng mây oán hận.

Đức Tôn Sư đọc được tâm trạng nàng, nhưng Ngài không quan tâm. Ngài tiếp tục giảng đạo cho ông bà nghe về hạnh bố thí, đức tŕ giới, phúc lạc cơi trời, tội ngũ trần, phước ly dục. Đến khi nhận thấy chân tâm ông bà đă hướng theo chánh đạo, Ngài bèn đề cập đến Tứ đế. Dứt thời pháp, ông bà đều đắc được pháp nhăn.

- Này hiền đệ, gái đẹp như gai nhọn hai đầu, bốc vào là nhức. Sắc đẹp kiều nữ cũng như mật ong trên lưỡi dao bén. Người háo sắc như đui bốc gai, như trẻ liếm mật. Kinh nghiệm cho thấy, chính cá nhân người đẹp, vui ít khổ nhiều. Người đẹp ít khi có được đời sống thanh nhàn. Sự gian truân, bạc mệnh và tội ác lúc nào cũng vây quanh người đẹp như h́nh với bóng. Điển h́nh là cuộc đời của Ma-găn-đí-da mà tôi sẽ kể tiếp đây:

Khí giới độc nhất mà nàng có thể trả thù Đức Tôn Sư là sắc đẹp. Ư chí phục thù mà có sắc đẹp hậu thuẩn th́ quả thật đáng sợ. Thật vậy, sau đó không lâu, nàng được tiến cung và được đức vua Ú-đê-ná phong chức thứ phi. Trong tư thế này, Ma-găn-đí-da có đủ điều kiện phục thù. Một hôm, nghe tin Đức Tôn Sư ngự đến Kô-sâm-bi, nàng mừng biết mấy. Bụng bảo dạ: "Được rồi phen này ông Sa môn vô duyên sẽ biết tay ta". Càng nghĩ, ư chí phục thù càng sôi sục. Nàng mua chuộc tay chân bộ hạ và một số người nghèo tham tiền, chửi mắng Đức Thế Tôn như đă lược kể.

Hiền đệ biết không, họ chửi mắng thô tục đến nổi tôi chịu không nổi. Tôi hoang mang xao xuyến v́ thương kính Đức Tôn Sư, và không đành ḷng nghe những lời chửi bới. Thế mà, Đức Tôn Sư vẫn b́nh thản và im lặng.

Quả thật không có hạnh phúc nào bằng giữ được tâm hồn b́nh thản trước lời khen chê và tiếng thị phi của thiên hạ. Tâm hồn Đức Tôn Sư như mặt đất không từ chối hoa thơm cũng như vật thúi. Nhưng tôi th́ chịu hết nổi. Tôi bạch:

- Bạch Đức Thế Tôn đừng ở đây nữa, họ chửi mắng quá.
- Đi đâu, Ananđa?
- Đi xứ khác: Sà-văt-th́, Ra-já-gá-há, Sa-kê-tá... xứ nào cũng được miễn không phải là Kô-sâm-bi.
- Nếu dân xứ đó cũng chửi ḿnh th́ sao?
- Tiếp tục đi nữa.
- Không được đâu Ananđa. Ngươi không nên khuyến khích Như Lai làm vậy. V́ nếu phản ứng như ngươi, th́ chúng ta không c̣n đất sống. Loài người ở đâu lại không có thương có ghét. Nhân ở đâu phải diệt ở đó. Bất cứ sự kiện nào xảy đến cho Như Lai, tự nó sẽ lắng dịu và chấm dứt trong ṿng 7 ngày.

Này Ananđa, Như Lai là voi trận, khi lâm chiến không ngại lằn tên, tức lời phỉ báng nguyền rủa của kẻ khác. V́ đa số phàm nhơn là người phá giới. Họ thích t́m lỗi kẻ khác mà không bao giờ tự xét lỗi ḿnh. Đức vua chỉ ngự trên lưng voi đă được huấn luyện thuần thục. Người tự giáo hoá là bậc vĩ nhân và quí hơn các loài tuấn mă.

Này Ananđa, nhường nhịn kẻ trên v́ sợ và người ngang hàng v́ đủ sức đối phó, không gọi là nhẫn nại. Trái lại, sự nhường nhịn kẻ dưới mới gọi là nhẫn nại.

Người nhẫn nại là người có ḷng từ bi; đời sống hạnh phúc, trời người hằng cảm mến, mở được cánh cửa an lạc; đào bứng được gốc rể sự tranh chấp; các thiện pháp nhất là giới và định sẽ được tăng tiến vượt bực.

Cuối cùng, nhóm người mắng chửi Đức Tôn Sư tự động giải tán, v́ tự thẹn cũng có, v́ cảm tưởng như nguyền rủa tượng đá cũng có. Thế là bao nhiêu tâm huyết công lao của Ma-găn-đí-da trở thành công dă tràng.

Thất bại không trả thù trực tiếp được, thứ phi đổ trút tất cả hận thù lên đầu chánh cung Sa-ma-vá-ti chỉ v́ Lệnh bà là một phật tử ngoan đạo. Thứ phi t́m đủ mưu sâu kế độc để hăm hại chánh cung về hai phương diện: danh dự và mạng sống. Nhưng rồi thứ phi lại chuốc thêm một lần nữa sự thất bại chua cay, mặc dù sát hại được chánh cung. V́ sau đó, đức vua Ú-đê-ná biết rơ sự thật và ḷng trung hậu tuyệt đối của chánh cung nên hạ lịnh hành quyết thứ phi, thuộc hạ, và thân tộc bằng cách chôn sống tới cổ, dùng cày sắt cày nhiều lượt cho dến khi thịt xương nát thành mănh vụn, rồi chất củi, bỏ rơm lên đốt. Ma-găn-đí-da chết, nhưng không phải chết v́ thù nhân hăm hại mà chết v́ vọng niệm bất chánh và hành động tội ác của chính nàng.

Này hiền đệ, hành động hăm hại người hiền cũng như phun nước miếng lên trời, như quăng bụi ngược gió.

Đại đức Ananđa kể tiếp:

- Này hiền đệ, Đức Tôn Sư ngụ tại Kô-sâm-bi một thời gian, Ngài bèn chu du khắp nẽo đường để hoàn thành sứ mạng độ sanh. Lần hồi, Ngài trở về Sà-văt-th́ kinh đô xứ Kô-sá-là gần chân núi Hy mă lạp. Kinh đô Sà-vắt-th́ là nơi có dấu chân Đức Tôn Sư nhiều nhất. Suốt 45 năm truyền đạo, Ngài ngụ tại Sà-vắt-thi 25 năm mặc dù không liên tục. Ngụ tại chùa Púb-ba-ra-mà của đại tín nữ V́-sà-khà 6 năm, và ngụ tại Kỳ viên tịnh xá của ông Cấp cô độc 19 năm.

Kinh đô Sa-văt-thi xứ Kô-sá-lá nằm về hướng tây bắc xứ Kasi châu vi rộng đến núi Himàlaya. Hướng bắc của núi này là xứ Sak-yà, hướng đông là xứ Kô-li-yá.

Xứ Kô-sá-lá có tất cả 3 thị trấn lớn là Sa-văt-thi, A-yô-dya và Sa-kê-tá. Thị trấn A-yô-dya nằm cạnh con sông Sárayú là một thị trấn sầm uất, quan trọng trước Phật thời, về sau bị sáp nhập vào thị trấn Kô-sá-lá. Thị trấn Sa-kê-tá nằm về hướng nam sát nách A-yô-dya nổi tiếng phồn hoa đô hội ngay sau khi thị trấn A-yô-dya bị sáp nhập vào Kô-sá-lá. Sa-kê-tá cũng là sinh quán của tín nữ Ví-sa-kha, một đại thí chủ hộ pháp đắc lực mà tôi sẽ nói đến sau này. Phương tiện di chuyển giữa Sa-văt-thi và Sa-kê-tá là xe song mă. Có tất cả 7 trạm cho hành khách tạm nghỉ và thay ngựa. Chính Đại đức Pun-ná-măn-ta-ni, ân sư của tôi, trong khi luận đạo với Đại đức Xá lợi phất về thất giác chi đă đem ví với cổ xe song mă thay ngựa 7 lần qua 7 trạm nghỉ.

Lần đầu tiên mà Đức Tôn Sư đặt chân phúc đức đến Sa-văt-thi là do lời thỉnh cầu của ông bá hộ Cấp cô độc, khi ông chưa có cái tên (1) vô cùng danh dự này. Câu chuyện như vầy:

Sau khi chứng quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Tôn Sư tạm ngụ tại rừng Sita xứ Ra-já-gá-há với số đông chư vị tỳ kheo. Lúc bấy giờ, ông bá hộ Cấp cô độc vẫn chưa được bái kiến Đức Tôn Sư. Có một lần, ông hữu sự đi buôn, luôn tiện thăm bạn tại Ra-já-gá-há. Gặp cố tri, ông bá hộ xứ Ra-já-gá-há vô cùng mừng rỡ và đón tiếp thật niềm nỡ. Nhưng sau đó, ông xin lỗi v́ bận việc quan trọng. Ông Cấp cô độc lấy làm ngạc nhiên v́ thái độ vội vàng gần như miễn cưỡng của bạn, ông lựa dịp hỏi:

- Này bạn, mấy lần trước tôi sang thăm th́ bạn sốt sắng, nồng nhiệt, bỏ hết việc nhà để chúng ta tâm sự. Lần này tôi lấy làm ngạc nhiên v́ thái độ hấp tấp, vội vàng và sự rộn rịp chuẩn bị của bạn. Vậy bạn vui ḷng cho tôi biết có phải đức vua Bim-bi-sa-ra sẽ ngự đến đây hay không?

- Này bạn, xin bạn bỏ lỗi cho tôi. Sự thật tôi quí thương bạn thế nào chắc bạn đă biết. Tuy nhiên, ngày mai này là ngày vô cùng quan trọng v́ tôi có cung thỉnh Đức Phật và số đông tỳ kheo đến đây ngọ trai. Do đó, tôi mới hấp tấp vội vàng như vậy.

Chú thích: (1) Tên thật của ông là Sú-đát-tá (Sudatta)

- Này bạn, bạn vừa nói Đức Phật phải không? À! Đức Phật đă ra đời thật sự rồi sao?

- Phải. Đức Phật đă ra đời. Ngài là ḍng Thích Ca quí phái đă từ bỏ ngai vàng, đế nghiệp, để xuất gia t́m đạo và đă thành Phật, bậc Alahán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc tṛn đầy Minh và Hạnh, bậc Thiện Thệ, bậc Thế gian giải, bậc Vô thượng sĩ, bậc Điều ngự trượng phu, bậc Thiên nhơn sư, bậc Giác ngộ, bậc Như Lai. Ngài ngự đến đâu là phúc lạc đến đó. Ngài có rất nhiều ḷng từ đối với tất cả chúng sanh, đă đào bứng được gốc rể tham, sân, si và tất cả pháp bất thiện. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện và hậu thiện.

- Này bạn, bạn không biết sự ra đời của Đức Phật thật sao?

- Này hiền đệ - Đại đức Ananđa nói tiếp - danh từ Phật đă thay đổi toàn diện nội tâm ông Cấp cô độc, như bệnh nhân bị chứng nan trị gặp được danh y. Ông Cấp cô độc đề nghị:

- Này bạn, cuộc lễ trai tăng ngày mai tốn kém bao nhiêu tôi xin đài thọ.

- Không dược đâu bạn. Thú thật nếu bạn có đem cả sự nghiệp tặng tôi để đổi lấy tư cách chủ thí ngày mai cũng không được. Bạn ơi, xin bạn đừng phiền. Tôi đă chờ dợi lâu lắm rồi để có ngày hôm nay. Ngai vàng tôi cũng thích, nhưng ít hơn là được cúng dường Đức Tôn Sư suốt 7 ngày này.

Ông Cấp cô độc năn nỉ xin đài thọ phân nữa, ông bá hộ bạn vẫn một mực khước từ.

- Này hiền đệ, Đức Tôn Sư là bậc đại phúc đức, công hạnh của Ngài tích lũy trong nhiều kiếp ứ động và khơi nguồn chảy tràn trề không ngăn được. Cho nên Ngài ngự đến đâu là vua quan, bá hộ, thương gia tranh nhau cúng dường nhiều vô số.

Ông Cấp cô độc là người có nhiều thiện duyên, nên khi nghe đến danh từ "Phật tổ" th́ phỉ lạc phát sanh, chạy rần khắp cả châu thân, chỉ muốn bái kiến Đức Tôn Sư ngay. Nhưng giờ đó đă quá chiều, các cửa thành đều đóng. Đêm ấy, ông ngủ không yên, giựt ḿnh thức giấc ba bốn lần v́ lầm tưởng là sáng.

Cuối cùng tiếng gà gáy sáng đă rộ lên theo gió. Ông Cấp cô độc thức thật sớm đến đứng chờ tại cửa thành nhưng vẫn chưa mở. Ông năn nỉ hết lời, người giữ cửa thương t́nh mới chịu cho đi. Thuở ấy, con đường từ thành nội dẫn đến nơi Đức Tôn Sư đang ngự là đường rừng, người lạ không làm sao đi được. Tội nghiệp ông Cấp cô độc! V́ quá nóng ḷng muốn bái kiến Đức Tôn Sư lại thêm không biết đường ṃn, nên ông cứ loanh quanh suốt buổi mà vẫn không đi đến đâu. Quá mệt và chán nản, ông ngồi nghỉ và định t́m lối trở về. Nhưng mỗi lần ông có ư định trở về, th́ lại nghe như có tiếng ai từ không trung vọng xuống mồn một: Này ông bá hộ, nếu ông trở về mà có được ngai vàng cũng không quí bằng sự đi tới, dù chỉ một lần thôi. Hăy tiến lên đừng lùi bước. Sự tiến lên của ông sẽ là một đạo nghiệp lớn lao, cho tự thân và tha nhân. Ông Cấp cô độc đứng lên, hăng hái như có một sức mạnh phi thường thúc đẩy, ông đi tới và tiếp tục đi tới.

Lúc ấy, Đức Tôn Sư đă thấy được duyên lành thánh đạo của ông, nên Ngài đi kinh hành lui tới xung quanh tịnh thất. Vừa trông thấy ông bá hộ, Đức Tôn Sư lên tiếng:

- Này Sú-đát-tá, hăy vào. Như Lai đang ở đây.

Lời gọi đích danh của Đức Tôn Sư khiến ông vô cùng ngạc nhiên và sung sướng. V́ giữa Phật và ông chưa hề quen biết thế mà Đức Tôn Sư đă gọi đúng tên ông một cách thân thiện, th́ bảo sao ông không hoan hỉ cho được. Ông bá hộ qú đảnh lễ bên chân Ngài:

- Bạch Đức Thế Tôn, thật là đại phúc, đại duyên cho đệ tử được bái kiến Đức Thế Tôn. Đệ tử đến nhà bạn chiều qua, được biết Đức Thế Tôn và chư tăng sẽ ngọ trai hôm nay tại đó. Nhưng đệ tử không đủ can đảm chờ đợi. Đệ tử đă cố gắng đến đây ngay nhưng cửa thành đă đóng. Đệ tử thao thức ngủ không yên giấc. Đêm rồi, đệ tử cảm tưởng lâu như một tháng.

- Này Sú-đát-tá, kẻ mất ngủ mới thấy đêm dài, người lữ hành kiệt sức mới thấy đường xa, nhưng người không chứng ngộ chánh pháp th́ con đường luân hồi mới thật là vô tận.

- Này Sú-đát-tá, con đường luân hồi vô thủy vô chung đă khơi nguồn cho hiện hữu. Hiện hữu khơi nguồn cho duyên sanh mà hậu quả là các sự khổ: già, đau ,chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc.v.v... Tất cả sự khổ vừa kể đều manh nha từ duyên sanh.

Này Sú-đát-tá, gốc rể c̣n là thân, cành lá, trái c̣n. Ái nhiễm c̣n là sanh, già, bệnh, chết c̣n.

Sú-đát-tá ơi, nước mắt của chúng sanh chảy ra trong suốt tiến tŕnh luân hồi nhiều hơn nước bốn biển. Không có một khoảng trống nào trên trái đất mà không có xương của mỗi một chúng sanh, cũng như không có giọt nước nào là không có nước mắt của mỗi một con người. Do đó, chúng ta là những người đang bước đi và đạp lên xương tàn của kẻ khác, cũng như đang uống nước mắt của đồng loại chúng sanh.

Tất cả chúng sinh đang bị lửa khổ thiêu đốt thường trực và đang chạy quanh trong ḷ lửa khổ, như con rùa ḅ quanh chảo nóng.

 

Phần 04


 

Ngôi chùa Kỳ-viên

Đức Tôn Sư thuyết tứ đế một cách khái lược vừa đủ độ ông bá hộ đắc pháp nhăn, có chánh tín Tam Bảo bất chuyển Đức Tôn sư nhấn mạnh phần kết luận:

- Này Sú-đát-tá, được thân người là điều khó, được cuộc sống tiện nghi là điều khó, được nghe chánh pháp là điều khó và được gặp Phật ra đời là điều khó. Do đó, sự được nghe chánh pháp và được gặp Phật ra đời là đại phúc.

Đại đức Ananđa kể tiếp:

- Này hiền đệ, thời pháp hôm ấy kết quả vô cùng lợi lạc. Để nói lên sự sung sướng và thấm nhuần ấy, ông Sú-đát-tá cẩn bạch:

- Bạch Đức Thế Tôn, thật là vi diệu, thật là hi hữu, thật là sáng tỏ như lật ngữa chậu úp, như mở cánh cửa kín, như chỉ lối kẻ lạc đường, như soi sáng đêm tối để cho người có mắt được trông thấy.

Sau khi chứng quả tu đà hườn, ông bá hộ Sú-đát-tá cung thỉnh Đức Tôn sư quang lâm Sa-văt-thi. Đức Tôn sư nhận lời. Ông lập tức trở về nhà bất kể ngày đêm. Về đến Sa-văt-thi, việc đầu tiên là ông bỏ công đi t́m địa điểm khang trang, thanh tịnh để thiết lập một ngôi chùa xứng đáng cúng dường Đức Phật. Nhận thấy miếng vườn của thái tử Kỳ đà hội được những yếu tố thích nghi, nghĩa là không quá xa, quá gần hàng xóm, có đường giao thông dễ dàng, ban ngày không ồn ào, ban đêm yên tĩnh.

Ông xin yết kiến thái tử và ngỏ ư xin thái tử nhường lại miếng vườn để cất chùa. Thoạt tiên thái tử từ chối. Ông bá hộ hết lời năn nỉ. Cuối cùng Thái tử đưa điều kiện gần như thách thức là phải trải vàng lên đất vườn. Thái tử hy vọng điều kiện quá đáng này sẽ khiến ông bá hộ lùi bước. Nhưng Thái tử lầm. V́ ông bá hộ chấp nhận ngay điều kiện này. Ông trải vàng đến đâu là bắt đầu đo đạc và xây cất đến đó. Nhưng miếng vườn c̣n thừa một chổ v́ thiếu vàng. Chính chổ thiếu này theo dự án là cổng chùa. Túng thế, ông bá hộ đành phải chạy mượn nơi những người bạn thân. Nghe chuyện này, thái tử Kỳ đà cảm động, bèn xin hiến cúng phần c̣n lại.

Trong khi cho xây cổng Tam quan ông bá hộ nghĩ: thái tử Kỳ đà là người uy tín, chính phần đất này cũng do thái tử hiến cúng. Vậy ḿnh nên lấy tên thái tử đặt tên chùa. Do đó, ngôi chùa mang tên Kỳ viên tự. Tuy nhiên, danh từ phổ thông th́ quen gọi là "chùa ông Cấp cô độc".

Tại thị trấn Sa-văt-thi, chùa Kỳ viên là môt thắng cảnh, một công tŕnh vĩ đại và nguy nga nhất. Nh́n từ xa tưởng như một ngôi chùa nổi nhờ vị trí ngôi chùa cao hơn các nơi khác. Những ngôi chánh điện, giảng đường, tăng xá, nhà trù, trai đường, hương thất v.v... như ẩn, như hiện trong những tàng cổ thọ. Phía trước là một ao sen to đủ loại: bạch liên, hồng liên, huỳnh liên, tô điểm cho ngôi Kỳ viên một cảnh trí vô cùng thiền vị.

Tóm lại, Kỳ viên tự hội được bốn yếu tố của an lạc pháp:

1- Senàsanasappàya: Tịnh thất an lạc.
2- Puggalasappàya: Pháp lữ an lạc.
3- Ahàrasappàya: Thực phẩm an lạc.
4- Dhammasappàya: Đạo hạnh an lạc.

Yếu tố thứ tư có nghĩa là ngoại duyên, nội cảnh phù hợp với công tŕnh tích cực thành đạt đạo quả theo phương pháp Tứ chánh cần (1).

Ông bá hộ nổi tiếng mộ đạo và hết dạ quí kính Đức Tôn sư. Mỗi ngày, ông đến chùa hai lần: sáng và chiều. Và tất nhiên là không bao giờ ông đi tay không. Riêng đối với Đức Tôn sư th́ ông chưa bao giờ dám hỏi dù một câu đạo v́ nghĩ rằng: Đức Tôn sư vốn là bậc đế vương nhàn lạc, nay là bậc pháp vương tịnh lạc. Nếu ta vấn đạo, th́ Đức Tôn sư sẽ v́ ḷng từ bi giảng đạo cho ta và do đó Ngài sẽ lao nhọc.

Chú thích: (1) Ngăn ngừa và diệt trừ ác pháp, tích lũy và tăng trưởng thiện pháp.

- Này hiền dệ, Đức Tôn sư biết được ư nghĩ thầm kín ấy, Ngài tự nghĩ: ông bá hộ này quả thật lo ngại những điều quá đáng. Như Lai đă từng hành tŕ Ba la mật trong vô số lượng kiếp. Từng thí mắt, thí đầu, thí tay chân, thí mạng sống nhằm mục đích cứu vớt chúng sanh ra khỏi biển trầm luân, đưa đến bờ tịnh lạc th́ công việc giảng đạo cũng chỉ là hạt cát trong sa mạc công hạnh mà thôi. Do đó, để bồi đắp đức tin, Đức Tôn sư đều giảng đạo mỗi khi ông vào bái kiến.

Này hiền đệ, ngoài ông Cấp cô độc c̣n có những nhân vật quan trọng khác đă đóng góp rất nhiều cho công cuộc hoằng dương chánh pháp. Như Đức vua Pá-sê-ná-đí, các nữ đạo hữu Ví-sa-kha, Súp-pá-va-sa, Súp-đí-da, chánh hậu Mallika v.v... Các nhân vật này ngoài tư cách Phật tử c̣n là những cán bộ trung kiên cơ hữu.

Thầy Kâm-bô-chá khẩn khoản:

- Bạch Đại đức, đệ tử cũng từng được nghe khái quát về những nhân vật này, nhưng chưa biết rơ công đức đặc thù của các vị. Nếu Đại đức hoan hỉ kể cho nghe, th́ đệ sung sướng biết mấy.

 

Năm mỹ tướng

- Này hiền đệ, có nhiều giai thoại liên hệ đến đời sống, gia thế, sự nghiệp của nàng Visakha. Nàng là một nữ hộ pháp đắc lực và cũng là một thiếu nữ đại phước. Nàng đẹp từ thời xuân sắc cho đến tuổi lăo thành. Nàng có nhiều mỹ tướng nhưng có 5 quí tướng chính là:

1- Tóc đẹp: Suối tóc đen huyền chảy xuống đôi bờ vai mănh dẽ, chạy dài đến nửa thân ḿnh và tự động cong lên vô cùng khéo léo như có bàn tay của chuyên viên thẩm mỹ uốn sấy.
2- Răng đẹp: Hàm răng đều đặn, trắng và trong như ngà như ngọc.
3- Miệng đẹp: Làn môi đỏ hồng như son và rất dịu dàng khả ái.
4- Da đẹp: Màu da hồng thắm đẹp như hoa sen và mịn màng như tơ lụa, sức mịn của da cơ hồ bụi không bám được.
5- Tác người đẹp: Bất cứ trong lứa tuổi nào nàng cũng đẹp. Trẻ th́ đẹp theo trẻ, già th́ đẹp theo già. Nghĩa là ngắm nh́n nàng bất cứ lúc nào cũng đẹp. Đi đứng, nói cười, ẩm thực, ngủ, nghỉ đều đẹp, một nét đẹp hồn nhiên và đài các.

Sinh quán nàng tại thị trấn Sa-kê-tá. C̣n Sa-văt-thi chỉ là trú quán. Riêng tổ phụ th́ nguyên quán ở Ra-já-gá-há. Thuở đức vua Pa-sê-ná-đi trị v́ xứ Kô-sá-lá, nhận thấy trong nước không có một nhân vật nào nổi tiếng Tài hoặc Đức.

Được biết xứ Ra-já-gá-há có nhiềunhân vật tài đức, nhà vua hạ ḿnh yêu cầu vời một người qua xứ Ngài. Vua quan xứ Ra-já-gá-há đồng ư cho vời ông bá hộ Thá-năn-cha-da phụ thân nàng Visakha nổi tiếng thông thiên văn, rành địa lư và đại phú quí.

Trên đường về gần tới Sà-văt-thi, ông bá hộ quan sát địa thế, thấy một chu vi đất vừa rộng vừa đẹp lại thêm màu mở, sông nước hữu t́nh, ông bèn tâu đức vua ban chỉ cho ông được lập làng dựng nghiệp tại đây. Đức vua hạ chỉ chấp thuận. Về sau, nơi này trở thành thị trấn Sa-kê-tá. Nàng Visàkhà sanh trưởng tại đây. Càng lớn, nàng càng đẹp. Có thể nói khó t́m được một thiếu nữ nào thùy mị, đoan trang như nàng. Theo thông lệ, cô gái đẹp nào cũng hách dịch, kiêu ngạo, nhưng trường hợp nàng Visàkhà th́ ngoại lệ. Nàng nói năng lễ dộ, cử chỉ khiêm cung, đời sống b́nh dị, đi đứng đài các, phong cách quí phái nhất là rất thương người và có nhiều đạo tâm. Nàng chứng quả tu đà hườn lúc vừa lên 7 tuổi. Đến tuổi trưởng thành, ông bá hộ Mi-ga-rá xin hỏi cưới nàng cho con trai ông là công tử Pun-ná-văt-tha-ná ( Punnavaddhana).

Hôn lễ được cử hành vô cùng trọng thể. Thân phụ nàng đặt thợ kim hoàn may áo cưới. Chiếc áo này được kết bằng vàng và nạm ngọc. Số lượng phải dùng là 4 cân xoàn, 11 cân mă nảo, 20 cân ngọc pha lê, 33 cân ngọc lưu ly. Những phần c̣n lại của thân áo là vàng. Chiếc áo dài trùm từ đầu xuống đến gót. Trên đầu là h́nh con công đang múa. Cái mỏ bằng mă nảo. Mỗi cánh có 500 cái lông bằng vàng. Cặp mắt là hai viên ngọc Ma ni. Cọng lông bằng bạc. Thoạt trông, ai cũng tưởng con công sống đang đứng múa trên đầu nàng. Chiếc áo trị giá 90 triệu nén vàng. Thời gian hoàn tất là 4 tháng, với hàng trăm thợ kim hoàn chuyên nghiệp.

Đêm cuối cùng hôn lễ, và để trang bị hành trang tinh thần cho cuộc sống lứa đôi và bổn phận của người dâu hiền, thân phụ nàng dặn ḍ:

- Này con, hôm nay con phải xuất giá theo chồng. Cha muốn dặn ḍ con những điều cần thiết. Con hăy khắc cốt ghi ḷng, xem như có cha hiện diện bên con. Cha cũng tự tin những điều cha sắp nói, sẽ là áo giáp pḥng thân, giúp con tránh được những điều tai biến:

1- Không đem lửa trong ra ngoài.
2- Không đem lửa ngoài vào trong.
3- Giúp người đáng giúp.
4- Người không xứng, không giúp.
5- Dù xứng hay bất xứng, cũng phải giúp.
6- Ngồi phải chỗ.
7- Ngủ đúng lúc.
8- Ăn hợp thời.
9- Phụng cúng chư thiên.
10- Tôn thờ thần lửa.

Ngày vu qui của nàng Visàkhà là ngày tưng bừng và hănh diện nhất trong cuộc đời người con gái. Nhà trai đă tổ chức rước dâu vô cùng long trọng. Định luật bất toàn vẫn là cổ lệ. Cho nên xui khiến nhà chồng bất đồng tín ngưỡng. Nàng đạo Phật, nhà chồng đạo lơa thể. Giáo chủ đạo này là thầy Ní-găn-thá Na-đá-pút-tá. Cũng gọi là Jain. Nàng khổ sở và xấu hổ mỗi khi các vị lơa thể đến nhà hành lễ, thọ trai. Do đó, giữa nàng và nhà chồng đă có một áng mây đen thành kiến.

Một buổi sáng, có vị tỳ kheo khất thực ngang nhà, trong khi nàng đang đứng hầu cha chồng ăn sáng. Ông bá hộ nh́n thấy Đại đức nhưng giả bộ tảng lờ quay lưng ngồi ăn vô tích sự.

Thấy vậy, nàng bèn thưa với vị tỳ kheo:

- Bạch Đại đức, xin Đại đức quá bước đến phía trước. Ở đây, thân phụ của đệ tử đang dùng thực phẩm củ.

Câu nói có ngụ ư này đă khiến ông bá hộ đùng đùng nổi giận. Ông nói:

- Này Visàkhà, cô ỷ lại cái ǵ mà dám nhục mạ tôi là người ăn bẩn. Cha con cô đă có nhiều hành động bất xứng. Bắt đầu từ giờ này, tôi không nh́n nhận cô là dâu con nữa. Cô hăy ra khỏi nhà tôi ngay.

Để dành phần phải, ông bá hộ cho người mời 8 vị bô lăo đỡ đầu của nàng và áp lực họ nhận đem nàng trở về quê ngoại.

Tám vị bô lăo đến gặp nàng và hỏi:

- Thưa cô, có chuyện chi quan trọng mà ông bá hộ mời chúng tôi đến và bảo đưa cô về quê ngoại?

- Thưa quí bác - nàng nói thật ôn tồn và tự nhiên- khi cháu đến đây danh dự ra sau, th́ lúc ra đi cũng phải như vậy. Tuy nhiên, cháu yêu cầu được xét xử công minh rằng cháu có tội hay vô tội và sau đó, dù có hay không có, cháu cũng xin được ra đi, nhưng đi trong danh dự.

Tám vị bô lăo dẫn nàng Visàkhà vào gặp ông bá hộ để xác nhận tội trạng hoặc tư cách vô tội của nàng.

Ông bá hộ sừng sộ:

- Quí vị c̣n chuyện ǵ nữa?
- Thưa ông bá hộ, cháu Visàkhà vẫn chưa biết ḿnh đă làm chi nên tội mà bị đưa về nguyên quán.
- Tội của cô ấy th́ quả khó dung t́nh. Tôi đang ăn cơm mà cô ta dám bảo là tôi đang ăn bẩn.

Vẫn với giọng ôn tồn và tự nhiên, nàng giải thích:

- Thưa cha, con nào dám loạn ngôn vô lễ như vậy. Câu nói của con có ngụ ư rằng, cha đang ăn phước cũ. V́ con nghĩ, sở dĩ cha giàu có sang trọng như thế này là nhờ kiếp trước cha khéo bồi đức lập công. Nếu kiếp này cha không vun trồng thêm phước mới, th́ một ngày gần đây phước cũ sẽ hết. Con ngụ ư như vậy mới nói cha dùng thực phẩm cũ.

- Thưa ông bá hộ- các vị bô lăo đồng loạt nói- như vậy th́ cháu nó đâu có lỗi. Xin ông xét lại cho cháu nhờ.

- Thôi th́ chuyện này bỏ qua nhưng c̣n hành động đêm qua của cô ấy th́ không thể tha thứ được. Đó là đêm khuya, cô ta tự động rời tư pḥng đi xuống chuồng lừa, điều mà một cô gái đức hạnh không bao giờ làm.

- Thưa cha, đêm qua, một con lừa sanh khó sắp chết. Con hay tin liền lập tức đốt đèn và rủ một số đông gia nhân đến chuồng lừa để giúp nó sinh nở và nhờ đó nó đă thoát chết.

-Thưa ông bá hộ. trong câu chuyện này, chúng tôi tưởng cháu nó vô tội.

- Thôi th́ tạm bỏ qua, nhưng c̣n nhiều vấn đề khác không kém quan trọng. Đó là, đêm trước khi cô ta về đây, cha con cô ấy đă nhỏ to với nhau nhiều điều thật vô lư. Chẳng hạn, cha cô ấy dặn ḍ: đừng đem lửa trong ra ngoài, đừng đem lửa ngoài vào trong v.v... Các ông nghĩ xem, một cô dâu trong nhà mà khi xóm giềng tối lửa tắt đèn đến nhờ ḿnh hoặc khi ḿnh hữu sự nhờ họ mà nó không cho lửa ra hoặc đem lửa vào th́ liệu có sống nổi hay không?

- Thưa cha- nàng giải thích với nét mặt thật tươi- điều này phụ thân con ngụ ư dạy con rằng: không nên đem chuyện nhà nói ra ngoài và cũng không nên đem chuyện ngoài vào nhà, gây sự phiền ḷng trong gia đạo.

- Nhưng c̣n nhiều chuyện khác nữa - ông bá hộ nói mà không cần ngẩng đầu lên.

Nàng Visàkhà xin phép được tuần tự giải thích.

- Câu nói: "Giúp người đáng giúp" nghĩa là đối với người biết điều, một khi vay mượn biết đem hoàn trả lại, th́ ḿnh nên tiếp tục giúp đỡ.

- Câu nói: "Người không xứng đáng không giúp" nghĩa là đối với những người không biết điều, mượn không trả, th́ không nên giúp.

- Câu nói: "Dù xứng hay bất xứng cũng phải giúp" nghĩa là đối với thân quyến nhà chồng, dù họ xứng hay bất xứng, bổn phận của ḿnh là phải giúp đỡ.

- Câu nói: "Ngồi phải chỗ" nghĩa là khi cha mẹ chồng hoặc các bậc trưởng thượng ngồi thấp ḿnh không có quyền ngồi cao. V́ cử chỉ ấy vừa thiếu lễ độ vừa thiếu tư cácch.

- Câu nói: "Ngủ đúng lúc" ngụ ư rằng khi cha mẹ chồng c̣n thức th́ không nên đi ngủ trước. Phải tuyệt đối ngủ sau. Trong lúc ngủ phải nằm ngay ngắn, trang nghiêm, không nên bạ đâu nằm đó. Phải thức trước, chẩn bị nước, khăn rửa mặt và lo làm thức ăn sáng.

- Câu nói: "Ăn hợp thời" ngụ ư phải hầu cha mẹ chồng và chồng ăn trước rồi sẽ ăn sau hoặc có thể ăn chung nếu được cha mẹ cho phép. Trong lúc ngồi ăn cũng phải giữ ǵn hạnh kiểm, không được vừa ăn vừa chắp hoặc làm đổ tháo thức ăn như vịt, như heo.

- Câu nói: "Phụng cúng chư thiên" ngụ ư phải thờ chồng trọn đạo, một dạ thủy chung, nhất là tuyệt đối kính yêu, hiền thục.

- Câu nói: "Tôn thờ thần lửa" ngụ ư phải kính thờ cha mẹ chồng cho trọn đạo dâu hiền.

 

Đại tín nữ Vísàkhà

- Này hiền đệ - Đại đức Ananđa nói tiếp - khi nàng Visàkhà tŕnh bày tất cả sự thật liên quan đến sự hiểu lầm, th́ cha chồng không biết phải phản ứng ra sao, chỉ ngồi cúi đầu im lặng. Các vị bô lăo lựa lời giải ḥa:

- Thưa ông bá hộ, sự thật đă quá rơ ràng và cũng chứng tỏ cháu Visàkhà chẳng những vô tội, mà c̣n là một dâu hiền, đáng quí.

Ông bá hộ xin lỗi con dâu về sự hiểu lầm của ḿnh. Nàng nói:

- Thưa cha, giờ th́ con được chứng minh là vô tội. Do đó, con xin phép được trở về quê cha mẹ của con.

Ông bá hộ năn nỉ:

- Thôi, con đừng buồn phiền nữa. Chẳng qua là sự hiểu lầm. Con chớ để tâm hờn trách.

- Thưa cha - nàng Visàkhà nói - lúc con c̣n ở nhà, th́ có cơ hội làm phước, nghe pháp. Từ ngày con về đây th́ mọi thiện sự và truyền thống tín ngưỡng đều bị đ́nh chỉ. Con cảm thấy buồn thấm thía. Nếu cha cho phép con đươc tiếp tục những thiện sự để thể hiện đạo tâm và truyền thống tín ngưỡng th́ con xin được ở lại hầu cha mẹ và chồng yêu quí của con, bằng không th́ con xin trở về nguyên quán.

- Con của cha, con cứ tiếp tục làm phước, thể hiện đạo tâm và tín ngưỡng của con một cáchh tự do. Cha hứa sẽ không trở ngại, mà chồng của con chắc chắn cũng tán đồng.

Khi được cha chồng cho phép, nàng Visàkhà vô cùng sung sướng, như cỏ héo gặp mưa. Thật vậy, không có ǵ khiến người thiện hoan hỉ bằng khi được tự do hành thiện. Có lẽ, họ mừng hơn đào được vàng.

Sáng hôm sau, nàng Visàkhà cung thỉnh Đức Tôn Sư và chư tăng về nhà thọ trai. Sau phần ngọ trai là phần phúc chúc và nói kinh hoan hỉ. Nàng Visàkhà kính mời cha chồng đến diện kiến Đức Tôn sư để nghe phúc chúc. Nể lời con dâu, ông có mặt. Nhưng trong thâm tâm th́ chưa có thiện cảm.

Đức Tôn sư thấy rơ căn duyên ông bá hộ, nên Ngài đề cập đến vấn đề nhân quả liên quan đến hai phương diện Lư và Sự. Ngài dạy:

- Những gia tài, sự nghiệp, người thương đều giả tạm. Người đời phải bị chia ĺa, bỏ lại tất cả và ra đi với hai bàn tay trắng. Chung cuộc là sự tiêu tán, khổ đau. Nhưng những việc làm của thân, khẩu, ư th́ theo ta như bóng với h́nh. Do đó, các bậc trí thức rất quí trọng thiện nghiệp và gia tâm tu đạo để dành hầu làm nơi nương nhờ và thọ dụng trong các kiếp sau. Người keo kiết là người không thức thời, như nông phu làm hư hạt giống. Do đó, giống cũ mất, giống mới th́ không có. Gieo một hạt giống, sẽ hái một chùm bông. Cũng vậy, gieo một nhân thiện sẽ gặt một chùm phúc. Tài vật không biết xử dụng cho việc công ích sẽ vô bổ, vô dụng như khỉ được dừa, như ao sen giữa rừng hoang vắng.

Người trí thức, th́ trái lại, sử dụng tài vật như một phương tiện, sẵn sàng phục vụ công ích hoặc tối thiểu phụng dưỡng mẹ cha, vợ con, thân quyến, người giúp việc, hoặc cúng dường các bậc chân tu th́ sẽ vô cùng lợi lạc như khỉ được xoài chín, như ao sen giữa chốn thị thành. Người lập vườn ăn trái chỉ tưới nước vun phân dưới gốc nhưng cành, ngọn được hưởng, trổ hoa kết trái. Sông nào nước lưu thông th́ trong sạch, ích lợi lớn, công dụng nhiều, năng lực rộng. Sông nào nước ứ đọng, th́ đục dơ, lợi ích nhỏ, công dụng ít, năng lực kém. Người ngu không dùng tài vật phục vụ công ích sẽ không có hiệu năng như nước đọng ao tù. Người trí dùng tài vật phục vụ công ích sẽ có nhiều hiệu năng như gịng sông nước chảy. Cung cách bố thí có lợi ích lớn, phúc quả rộng phải hội đủ 6 yếu tố:

1- Chuẩn bị chu đáo.
2- Hành động tích cực.
3- Hoàn tất hoan hỉ.
4- Người nhận đă hoặc đang tiêu trừ tham ái.
5- Người nhận đă hoặc đang chế phục sân hận.
6- Người nhận đă hoặc đang tận diệt si mê.

Cung cách bố thí như trên sẽ có phúc quả vô lượng như nước biển.

Này các Phật tử, một hôm đức vua Pa-sê-ná-đí hỏi Như Lai:

- Bạch Thế Tôn, đệ tử nên bố thí cho ai?

Như Lai dạy:

- Nên bố thí đến cá nhân hoặc đoàn thể trong sạch.

- Bố thí đến người có giới đức. Người thọ thí ví như ruộng, người bố thí và vật thí ví như hạt giống. Hạt giống tốt nhưng ruộng không tốt th́ vẫn thất mùa.

Đức Tôn sư kết luận:

- Cho nên, người trí không bao giờ dám khinh thường cho rằng tội, phước chút ít không đáng là bao. Hăy xem những giọt nước rời rạc nhưng cuối cùng đầy tràn miệng chậu. Người tích lũy thiện hoặc ác chung qui rồi cũng phải có quả.

Lời chúc tụng hôm ấy như ánh sáng nhiệm mầu chiếu vào tâm thức ông bá hộ. Ông quỳ lạy dưới chân Đức Tôn sư, bày tỏ sự hoan hỉ và tán thán:

- Bạch Đức Thế Tôn, thật là vi diệu, thật là sáng tỏ, như lật ngửa chậu úp, như mở cánh cửa đóng, như chỉ lối kẻ lạc đường, như soi sáng chỗ tối để người có mắt trông thấy. Đệ tử phát nguyện trọn đời qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng và t́nh nguyện sống cuộc đời lư tưởng đạo đức.

Đại đức Ananđa kể tiếp:

- Này hiền đệ, bắt đầu từ hôm ấy, ông bá hộ thương quí nàng Visàkhà trên hai phương diện, vừa là dâu hiền, vừa là mẹ đạo. Ông công khai gọi Visàkhà là "Mẹ Mí-gà-rá" trong hầu hết các cuộc nói chuyện. Do đó, danh từ Migàramàtà (Mẹ Mí-gà-rá) trở nên phổ thông trong quần chúng.

Để làm loăng danh từ Mẹ Mí-gà-rá, nàng lấy tên ông nội đặt tên đứa con trai đầu ḷng. Nhờ gia đ́nh đồng tín ngưỡng nên nàng Visàkhà rất lấy làm măn nguyện. Nàng cung thỉnh Đức Phật và chư tăng hàng trăm vị mỗi ngày đến nhà ngọ trai. Biển không chê nước, bậc hiền trí không chán nghe lời lành, người chánh tín không no công đức.

Suốt thời gian Đức Tôn sư ngụ tại Sà-văt-thi, nàng đi chùa mỗi sáng và chiều. Nàng rất thông cảm tâm lư các vị thanh niên tăng, nhất là các vị sadi nhỏ tuổi, nên mỗi khi đến chùa đều có mang theo thức ăn sáng hoặc nước uống chiều để cúng dường. Công đức của nàng phổ cập rộng sâu. Hai giới xuất gia và tại gia đều gọi nàng là Đại tín nữ. Danh từ này thật xứng với đạo tâm và công tŕnh hộ pháp của nàng.

Một lần, sau khi dự lễ trở về, nàng Visàkhà ghé chùa lễ Phật. Nhưng sực nhớ ḿnh đang trang điểm quá lộng lẫy, sang trọng, nàng cởi áo choàng trao cho cô gái giúp việc. Nhưng xui khiến, cô giúp việc bỏ quên áo trong chùa. Đức Tôn sư dạy tôi đem cất áo ấy, chờ sáng hôm sau sẽ trao trả cho nàng. Nhưng một chập sau, cô giúp việc trở lại, thái độ vô cùng hốt hoảng. Tôi bảo cô ta hăy mang về cho chủ. Nhưng cô ta cứ quỳ trước mặt tôi giọng nói run run như muốn khóc:

- Bạch Đại đức, cô chủ con có dặn, nếu Đại đức đă đem cất th́ đệ tử không được mang về, v́ cô chủ con rất kính trọng Đại đức. Do đó, cô chủ con không dám mặc món đồ mà Đại đức đă đụng đến.

Tôi nói, đây là món đồ nữ trang quí giá, tôi cất giữ sao tiện. Cô cứ nhận đem về và nói bần đạo bảo làm như vậy. Chắc cô chủ không nỡ la rầy cô đâu.

- Bạch Đại đức, cô chủ con dặn cúng dường Đại đức tùy nghi sử dụng.
- Bần đạo nhận để làm ǵ?

Cô giúp việc buộc ḷng phải nhận lại món đồ vừa đi vừa khóc v́ sợ cô chủ bắt tội. Nàng Visàkhà thấy t́nh cảnh ấy th́ đoán được nội vụ:

- Này em, Đại đức Ananđa cất đồ nữ trang của chị phải không?
- Thưa cô, dạ phải.
- Nhưng tại sao em khóc?
- Con tự thấy không xứng đáng với ḷng tin yêu của cô. Con biết món đồ ấy đắt giá hơn sinh mạng của con, cả gia đ́nh và gịng họ nhà con. Cô ta vừa nói vừa khóc nức nở.

- Này Sú-sí-ma, em đừng khóc nữa. Chuyện em quên, chị đâu có bắt lỗi. Thỉnh thoảng chị cũng quên như em vậy. C̣n món đồ nữ trang tuy quí giá nhưng nó đâu quí bằng sinh mạng của em. Nó mất, ta có thể làm mới hoặc đôi khi c̣n t́m lại được. Nhưng sinh mạng của em, một khi đă mất, th́ không thể làm mới hoặc t́m lại được. Em tin yêu của chị, điều em dám đem sinh mạng đánh đổi món đồ đă mất làm chị xúc động. Em hăy an ḷng. Vă lại, ánh sáng chánh pháp đă cho chị thấy rằng mạng sống con người là vật có giá trị tuyệt đối, không thể lấy ngoại vật so sánh. Hơn nữa, em là người tin yêu của chị, giỏi dắn, đảm đang, thành thật với chị trước mặt cũng như vắng mặt. Tóm lại, em có nhiều đức tánh cao đẹp đáng quí. Sự lầm lỗi nhỏ mọn này, nếu đem so với những đức tánh cao đẹp của em th́ quả thật không đáng để em bận ḷng.

- Này hiền đệ, nàng Visàkhà vừa dứt lời, cô giúp việc khóc thét lên v́ quá cảm động. Hai tay ôm chân nàng Visàkhà vừa úp mặt vừa khóc, để nói lên sự vô vàn biết ơn và sự tuyệt đối thương kính chủ. Nàng Visàkhà đỡ cô ta đứng lên, cô ta ngước nh́n chủ cười trong nước mắt.

Đêm ấy, nàng Visàkhà suy nghĩ thật nhiều. Cuối cùng nàng quyết định đem bán lấy tiền làm phước. Nhưng không ai đủ tiền mua. Nàng phải xuất tiền mua lại với giá 9 triệu nén vàng. Với số tiền này, chỉ đủ cất chùa. Nàng phải thêm 9 triệu nữa để tổ chức khánh thành.

Vị trí ngôi chùa nằm về hướng đông của Kỳ viên tịnh xá nên được mang tên là Pubbàràma (Đông phương tự). Đức Tôn sư đă từng an cư kiết hạ tại đây 6 lần.

Nàng rất kính và thương chư tăng. Tám điều thỉnh nguyện sau đây đủ chứng minh tánh t́nh quảng đại và đạo tâm kiên cố ấy:

1- Xin dâng y tắm mưa đến chư tăng.
2- Để bát những vị mới đến.
3- Để bát những vị sắp đi xa.
4- Cúng dường thực phẩm đến những vị sư bệnh.
5- Cúng dường thực phẩm đến những vị nuôi bệnh.
6- Cúng dường thuốc men.
7- Cúng dường lúa mạch.
8- Dâng y tắm mưa đến tỳ khưu ni.

Tám thỉnh nguyện này đều được Đức Tôn sư chấp thuận.

Do đức độ bao dung, phẩm hạnh trang nghiêm, đạo tâm dơng mănh, nàng được xem như một công tŕnh đóng góp quan trọng trong các lănh vực Phật sự, và cũng là một Đại thí chủ hộ pháp đắc lực của phái nữ thời Đức Phật. Đôi khi Đức Phật dạy nàng đi giảng ḥa những mối bất đồng trong ni chúng.

 

Phật lực

Cũng tại ngôi Đông phương tự này, một buổi chiều, đức vua Pa-sê-na-đí vào bái kiến Đức Tôn sư. Lúc bấy giờ có một số du sĩ các hệ phái khoảng 30 vị đi ngang qua, lông lá đầy ḿnh, tóc tai dài thượt.

Thấy các vị ấy, nhà vua bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, các vị ấy có phải là những bậc Alahán?

- Tâu Đại vương, người phàm c̣n ham thích khoái lạc vật chất th́ khó mà nhận diện được ai đă đắc quả Alahán, ai chưa. V́ rằng, qua đàm thoại ta biết được trí tuệ, qua hành động ta biết được liêm chính, qua nguy biến ta biết được can trường. Để bảo đảm cho sự hiểu biết này phải dùng đến yếu tố thời gian và trí tuệ nhận xét.

- Này hiền đệ, Đức Tôn sư quả thật khiêm tốn khi giải thích như vậy. Câu giải thích này như sen không thấm nước. V́ nếu Đức Tôn sư nói trắng, các vị ấy không phải Alahán, th́ tỏ ra tự tôn, bằng cho là phải th́ vừa tự ti vừa không thành thật.

Đức Tôn sư vừa dứt lời, vua Pa-sê-ná-đí vô cùng hoan hỉ. Đức vua tán thán:

- Bạch Thế Tôn, thật là phi thường, thật là vi diệu, quả thật Đức Tôn sư là bậc Toàn tri Diệu giác. V́ những vị ấy là mật thám viên của đệ tử.

Đức Tôn sư ứng khẩu:

- Người hành đạo không nên có xảo thuật, không nên sống ỷ lại vào kẻ khác, không nên cố gắng bốc đồng, vô ư thức. Hăy sống cuộc sống thật sự nội tâm. Không nên đoán người qua h́nh thức, không nên quá tin ḷng người sơ kiến. V́ gỗ, đất, thau, khi được mạ vàng th́ h́nh thức sẽ bị đồng hóa, khó phân biệt.

Đức Tôn sư cũng thường hay dạy các tỳ kheo:

- Này các tỳ kheo, mục đích Như Lai hành đạo không phải dối đời, không phải để được tôn sùng, không phải để có lợi lộc, danh vọng, không phải để trở thành giáo chủ. Mà mục đích hành đạo là để thúc liễm (Samvara), để dứt bỏ (Pàhàna), để chán nản (Viràga), để tịch tịnh (Nirodha).

- Này hiền đệ - Đại đức Ananđa kể tiếp - tôi xin trở lại câu chuyện nàng Visàkhà. Một hôm, mặt mày bơ phờ, tóc tai ướt át, vừa đi vừa khóc. Nàng đến chùa bái kiến Đức Tôn sư, báo tin buồn về cái chết đột ngột của đứa cháu gái mà nàng vô cùng thương mến v́ tư chất thông mimh, ngoan hiền và là một cộng sự viên đắc lực trong các công tác phước thiện. Nàng nghẹn ngào kể lể:

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử vô cùng đau đớn. Nó chết, kể như đệ tử mất đi một cánh tay. Đệ tử không làm sao t́m được một đứa cháu hiền, một cộng sự viên giỏi, một người bạn tốt như vậy.

- Này Visàkhà, trong thị trấn này có bao nhiêu dân số?
- Bạch Thế Tôn, có nhiều ức người.
- Nếu họ đều hiền, giỏi và tốt như Sú-đăt-ti cháu gái của ngươi th́ ngươi có thương mến họ không?
- Bạch Đức Thế Tôn, có.
- Có bao nhiêu người chết trong một ngày?
- Bạch Thế Tôn có nhiều người.

- Này Visàkhà, như vậy th́ mỗi ngày ngươi phải nhiều lần bơ phờ, ủ dột, khóc lóc tiếc thương, hai hàng lệ chảy v́ cái chết của những người ấy. Visàkhà này, thương yêu là nguyên nhân khổ năo. Do đó, thương yêu nhiều, khổ năo nhiều. Như lửa càng tăng th́ nóng càng gắt.

Lănh hội được Phật ngôn, nàng Visàkhà vơi bớt sầu khổ, tâm trạng trở lại b́nh thường. Nàng là bậc thánh nhập lưu nên chỉ có giới kiên cố, phần định và huệ th́ chưa. Do đó, thỉnh thoảng cũng quên ḿnh.

- Này hiền đệ, nơi nào có thương yêu nơi đó không có an tịnh. Cũng như nơi nào có giông gió nơi đó mặt nước phải chao động. Người đời chỉ thật sự an tịnh khi b́nh tĩnh đón nhận nghịch cảnh và tự chế trước thuận cảnh hoặc ít ra không phủ nhận nghịch cảnh.

Nàng Visàkhà có hai nữ bằng hữu là Súp-pá-va-sa và Súp-pí-da. Sau mỗi lần nghe pháp, ba người rủ nhau đi quanh chùa vấn an và t́m hiểu nhu cầu tứ sự của chư tăng để chung lo hộ độ.

Một hôm, vấn an một vị tỳ kheo bệnh, biết được nhu cầu cần có một tô nước súp để làm phương trị liệu, nàng Súp-pí-da lật đật về nhà, nhờ người giúp việc mua thịt. Nhưng rủi hôm ấy là ngày 30, chợ không bán thịt. Phần nhớ đến h́nh dáng vô cùng tiều tụy của vị tỳ kheo, phần nhớ Phật ngôn, rằng phụng sự người bệnh là phụng sự Đức Phật, nàng quyết định lấy dao bén, tự tay xẻo thịt của ḿnh nấu súp rồi sai người giúp việc đem dâng vị tỳ kheo bịnh. C̣n nàng tự tay băng bó vết thương và nằm vùi trong pḥng. Chồng nàng về không thấy vợ ra đón như mọi khi bèn vào pḥng ân cần thăm hỏi. Khi biết rỏ sự t́nh, thay v́ giận vợ và vị tỳ kheo bịnh, chàng lại vô cùng hoan hỉ, v́ thấy vợ có đức tin dơng mảnh, dám lóc thịt nấu súp cúng dường. Chàng lập tức đến Kỳ viên tịnh xá cung thỉnh Đức Tôn sư và chư tăng thọ trai ngày hôm sau tại tư gia.

Đến nhà, không thấy nàng Súp-pí-da, Đức Tôn sư phán hỏi. Được chồng nàng cẩn bạch là nàng đang bịnh. Đức Tôn sư dạy đỡ nàng đến diện kiến. Khi nàng cúi đầu đănh lễ, Đức Tôn sư phúc chúc: xin cho nữ đạo hữu được an lành. Ngài phán vừa dứt, th́ lạ thay, vết thương lành ngay tức khắc và toàn thân nàng, da thịt lại càng tươi thắm hồng nhuận hơn trước. Quả thật Phật lực phi thường. Nhân câu chuyện này, Đức Tôn sư chế định giới luật:

- Tỳ kheo dùng thịt không quán tưởng, phạm tác ác. Nếu là thịt người, phạm ưng phát lộ.

 

Phước và Tội

- Này hiền đệ, một sự kiện khác, biểu tượng Phật lực vô cùng mầu nhiệm, đó là tín nữ Súp-pá-va-sa. Nàng mang thai 7 năm, 7 tháng, và chuyển bụng 7 ngày, đau đến tắt thở, từng hồi. Nhưng nhờ có đức tin vững chắc và ḷng trong sạch tuyệt đối nơi Đức Tôn sư, nên trong giờ phút thập tử nhất sanh, mạng sống mỏng manh như sợi chỉ mành treo chuông ấy, nàng ngỏ ư nhờ chồng đănh lễ đôi chân hạnh phúc Đức Tôn sư và thay lời bạch hộ rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn, nữ đạo hữu Súp-pá-va-sa mang thai 7 năm, 7 tháng và chuyển bụng 7 ngày. Nàng chịu vô vàn thống khổ đến phải ngất lịm từng hồi, mạng sống không c̣n bảo đảm, nàng ngưỡng vọng Đức Thế Tôn và xin cúi đầu đănh lễ dưới chân Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn phúc chúc:

- Xin cho tín nữ Súp-pá-va-sa được an lành, hết đau đớn.

Liền khi ấy, nàng hết đau đớn và sanh con rất dễ dàng. Cả mẹ con đều được vuông tṛn. Chồng về tới thấy vậy vô cùng mừng rỡ. Không hẹn mà vợ chồng cùng ứng khẩu: ân Đức Phật vô lượng.

Ít lâu sau, nàng nhờ chồng cung thỉnh Đức Tôn sư và chư tăng quang lâm tư gia thọ trai 7 ngày. Nhưng Đức Tôn sư đă nhận lời mời của một gia đ́nh có nhiều thiện cảm với Đại đức Mục kiền liên (Moggallana). V́ có sự trùng hợp, Đức Tôn sư bèn dạy Đại đức Mục kiền liên đến tận nhà thí chủ hỏi xem có thể dời đến tuần sau hay không? Nếu có sự trở ngại và không thể dời ngày được th́ Đức Tôn sư không thể nhận lời mời của nàng Súp-pá-va-sa.

Vâng lời Phật dạy, Đại đức Mục kiền liên đến nhà thí chủ thuật lại tự sự. Thí chủ bạch:

- Bạch Đại đức, nếu Đại đức bảo đảm được 3 điều kiện, th́ tôi sẽ vui ḷng nhường. Ba điều kiện ấy là:

1- Gia tài, sự nghiệp của tôi sẽ không bị tiêu tán.
2- Tôi c̣n sống đến tuần tới.
3- Đức tin không bị sứt mẻ.

Đại đức đệ nhất thần thông im lặng giây phút:

- Này đạo hữu, hai điều kiện trước bần đạo bảo đảm được. Duy điều kiện thứ ba th́ xin đạo hữu tự bảo đảm lấy.

Thí chủ bằng ḷng dời đến tuần sau.

Đức Tôn sư và các bậc thánh nhơn vô lậu thọ trai tại nhà nàng Súp-pá-va-sa suốt 7 ngày. Đến ngày thứ bảy Đức Tôn sư phán hỏi:

- Này Súp-pá-va-sa, 7 năm, 7 tháng mang thai nặng nhọc và suốt 7 ngày chuyển bụng khai hoa, đau đớn cùng cực, ngất lịm từng hồi vậy nàng c̣n muốn có con nữa không?

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử muốn được 7 đứa con như vậy nữa.

Đức Tôn sư dạy:

- Này Súp-pá-va-sa, định luật là vậy. Vật không vừa ḷng th́ liên hệ với người ḿnh vừa ḷng. Vật không thương th́ liên hệ với người ḿnh thương. Sự khổ ẩn trong h́nh thức vui. Do đó, người đời rất dễ quên ḿnh, thất niệm.

- Này hiền đệ- Đại đức Ananđa kể tiếp- cũng tại Sa-văt-thi này, có rất nhiều sự kiện liên quan đến Phật hạnh, nhưng tôi chỉ xin kể thêm một chuyện nữa thôi gọi là bồi đắp đức tin và sự ngưỡng vọng của đệ. Câu chuyện như vầy:

- Cuối sơ thời (1) và đầu trung thời, tính theo lịch tŕnh khai đạo của ĐứcThế Tôn. Thuở ấy là thời kỳ vàng son cực thịnh của chánh pháp, như ánh thái dương soi sáng khắp nơi, khiến quần chúng qui ngưỡng chánh pháp như trăm sông đổ về biển cả. Ngay đến đệ tử của các Hệ phái cũng bỏ đạo, qui y Tam bảo, tạo nên một phong trào đổi đạo chưa từng có trong lịch sử Ấn Độ. Do đó, giáo chủ các Hệ phái liên kết nhau mưu t́m biện pháp đối phó.

Chú thích: (1) Sơ thời là 15 năm đầu. Trung thời là 15 năm giữa. Hậu thời là 15 năm cuối của 45 năm Đức Thế Tôn khai đạo.

Giai đoạn đầu, họ phát động chiến dịch tuyên truyền bằng cách chia ra nhiều đoàn tuyên vận, đứng tại ngă ba, ngă tư đường, các trục giao thông quan trọng hoặc tại những địa điểm đông dân cư, đồng loạt kêu gọi với một luận điệu thống nhất:

- Thưa đồng bào, nếu Đức Sa môn Cồ Đàm là Phật tổ th́ chúng tôi cũng là Phật tổ; nếu Ngài là giáo chủ th́ chúng tôi cũng là giáo chủ; sự cúng dường Sa môn Cồ Đàm được phúc quả nhiều thế nào th́ sự cúng dường chúng tôi cũng được phúc quả nhiều thế đó.

Chiến dịch tuyên truyền này hoàn toàn thất bại. Tiếng hô hào của họ bị lạc lơng như tiếng nói giữa sa mạc. Kết quả hoàn toàn trái ngược. Đệ tử thuộc thành phần trí thức của họ cảm thấy xấu hổ, trơ trẻn nên bỏ đạo. Thành phần chưa có cảm t́nh với họ th́ trở nên chán ghét.

Thất bại trên phương diện tuyên truyền, họ họp mặt để thảo bàn kế hoạch. Một người trong nhóm tương đối sắc bén, giảo hoạt phát biểu:

- Thưa các Ngài, trên đời có trăm mưu ngàn kế. Kế hoạch này thất bại ta áp dụng kế hoạch khác: công khai không được th́ âm thầm, cường dũng không được th́ nhu ḥa. Tôi đề nghị chúng ta nên dùng mỹ nhân kế, vừa nhẹ nhàng vừa hiệu lực, nếu không kết quả trên mặt thực chất th́ chúng ta sẽ thành công trên mặt dư luận. Tôi c̣n nhớ, trong hàng đệ tử chúng ta, có nàng Chin-cha (Cincà) đẹp như tiên nga ngọc nữ. Nếu nàng khứng giúp th́ kế hoạch chắc chắn sẽ thành công.

Đề nghị này được toàn thể tán đồng. Ngay lúc ấy, nàng Chin-cha cũng vừa đi tới. V́ có dụng ư trước, nên các vị Giáo chủ im lặng không nói một lời và cũng không buồn nh́n mặt nàng. Trước thái độ ấy, nàng hết sức kinh ngạc, khó chịu và tủi hổ. Nàng thưa:

- Thưa các Ngài, đệ tử không biết ḿnh có hành động bất xứng thế nào khiến các Ngài xem đệ tử như người xa lạ? Xin các Ngài thương t́nh chỉ dạy để đệ tử ngăn ngừa về sau.

Chụp được thời cơ, một vị trong nhóm lên tiếng, giọng nói áo năo:

- Này tín hữu, tín hữu thật là vô t́nh! Tín hữu không cần biết đến sự đau khổ của chúng tôi. Chúng tôi đang bị ông Sa môn Cồ Đàm làm cho thân bại danh liệt, và gây thảm hại toàn bộ cơ sở: vật chất lẫn tinh thần. Thế mà tín hữu có ngó ngàng ǵ tới.

- Thưa các Ngài, nhà nghèo th́ mới hay con thảo, nước loạn th́ mới biết tôi trung. Con là đệ tử th́ sự đau khổ của các Ngài cũng là sự đau khổ của con. Nhưng con là phận nữ nhi th́ biết liệu phương ǵ để giúp các Ngài đắc lực. Xin các Ngài chỉ dạy. Nếu có thể được, th́ con xin t́nh nguyện làm bất cứ những ǵ mà khả năng con cho phép.

Thấy kế hoạch có hiệu quả, các vị ấy nhờ nàng tiến hành mỹ nhân kế. Nàng bằng ḷng vô điều kiện. Thoạt tiên, nàng tạo sự hoang mang, nghi ngờ trong hàng Phật tử bằng cách mỗi chiều, chờ Phật tử nghe pháp ra về th́ nàng đi vào chùa. Có ai hỏi đi đâu th́ nàng trả lời lấp lững rằng: các vị t́m hiểu chuyện người khác làm ǵ. Hoặc sáng sớm, nàng vô chùa trước, chờ đến giờ Phật tử vào chùa, th́ nàng ngược chiều đi ra. Và nếu có ai hỏi th́ nàng cũng úp mở trả lời rằng: chuyện nàng ăn đâu, ngủ đâu, nào có liên hệ ǵ đến họ mà lư sự. Hành động này được tiếp diễn đều đặn suốt hai tháng đầu như một Phật tử ngoan đạo, chân chánh.

Giai đoạn thứ hai, nàng dùng đ̣n phép tinh vi hơn, táo bạo hơn, đó là lời xác nhận bán chính thức của nàng, mỗi khi được hỏi đến. Nàng nói:

- Quí vị cũng như Đức vua Pa-sê-ná-đí đi chùa sớm hôm, cúng dường, lễ bái đức Sa môn Cồ Đàm lâu nay, chắc các vị biết người yêu của ông ta chớ.

Một số người non ḷng nhẹ dạ, ṭ ṃ t́m biết, th́ nàng giải thích bằng luận điệu vô cùng nguy hiểm rằng: "Đức Phật là người đă từng hưởng thủ mọi thứ khoái lạc vật chất, nhất là dục lạc, th́ tránh sao khỏi những giây phút yếu ḷng. Chính lúc ấy, tôi là người diễm phúc được Ngài để dạ yêu thương. Sự đi đứng bất thường của tôi, cũng chỉ nhằm bảo vệ t́nh trạng lén lút ấy".

Câu kết luận này là chất bổi đổ vào đống lửa dư luận đang âm ỉ cháy. Nhóm ngoại đạo muốn đốt giai đoạn bằng cách tạo thêm sức gió rỉ tai thổi mạnh ngọn lửa dư luận, nhằm thiêu rụi toàn bộ uy tín và đạo nghiệp của Đức Phật.

- Này hiền đệ, chính cá nhân tôi cũng nóng ḷng và chua xót. Thấy tôi phiền năo, Đức Tôn sư dạy:

- Này Ananđa, người bóc phẩn bôi bẩn mặt trăng sẽ gánh chịu hai hậu quả: một là tay họ dính phẩn, hai là sự thất bại ê chề khi họ bị phẩn đó rớt xuống đầu, cổ thế nào, người ác ư muốn hăm hại Như Lai cũng sẽ mang lấy hậu quả trầm trọng như thế đó.

Bắt đầu tháng thứ tư, nàng lấy vải cũ buộc bụng và cứ độn thêm mỗi tháng, do đó, bụng nàng cứ to dần. Đến tháng thứ tám, thứ chín, nàng tự dần bàn tay bàn chân cho sưng lên và độn bụng bằng khúc cây tṛn như sắp đến ngày khai hoa nở nhụy.

 

Người thiện, người ác

Thế rồi ngày quyết định đă đến. Đây cũng là quyết định tồn vong của Phật giáo. Nếu nàng Chin-cha thắng th́ Phật giáo sẽ bị tận diệt, bằng ngược lại Phật giáo sẽ cực thịnh, huy hoàng.

Hôm ấy, Đức Tôn sư đang ngự trên pháp ṭa giảng đạo. Phong thái uy nghiêm như sư tử hống, hiền mát như ánh trăng rằm. Ngay lúc ấy, nàng Chin-cha xuất hiện, một tay chống nạnh, một tay chỉ Đức Tôn sư đay nghiến:

- Phải mà, ông thuyết hay quá mà! Giọng nói ông thu hút quần chúng như có thôi miên. Răng ông liền lạc, đều đặn và trong sáng. Mở miệng ra là ông kêu gọi mọi người ly dục, nhưng riêng ông th́ đă ly dục chưa? Những câu kinh của ông ngọt ngào, hấp dẫn như khúc hát ân t́nh, như tiếng nói yêu đương trên giường ngủ.

Đức Tôn sư im lặng. Phật tử hoang mang. Bầu không khí ngột ngạt. Vũ trụ như ngừng quay. Nàng tiếp tục tấn công:

- Này ông, ông hăy nh́n tôi cho thật kỹ. Cái thai của tôi đă dư chín tháng rồi. Suốt thời gian ấy ông quá vô t́nh, lang bạc. Thuở mới yêu nhau th́ ông hứa hẹn đủ điều, giờ th́ ông ngoảnh mặt quay lưng như tuồng vô tích sự. Tuy nhiên, v́ thông cảm, tôi đề nghị ông nên nhờ các đệ tử trung kiên, như nàng Visàkhà, ông Cấp cô độc, hoặc đức vua Pa-sê-ná-đí thay ông lo liệu cũng được. Ông nên nhớ, đây không phải là nhiệm vụ của ông đối với tôi mà là nghĩa vụ thiêng liêng của t́nh phụ tử.

Nói xong, nàng nh́n khắp giảng đựng như phân trần, như khiêu khích.

Với giọng hiền ḥa, trầm lặng, Đức Tôn sư nói:

- Này Chin-cha, sự kiện này chỉ có ngươi và Như Lai mới rỏ thực, giả mà thôi.

Nói xong Đức Tôn sư tiếp tục lặng thinh. Không hiểu câu nói thật ngắn này mầu nhiệm thế nào, mà khiến nàng Chin-cha kinh hoàng toát mồ hôi lạnh. Tay, chân và bờ môi run lên như bị tên độc. Cố b́nh tĩnh, nàng trả đủa:

- Phải rồi, đúng rồi. Trong hương thất, giữa đêm trường th́ nào ai biết được, nếu không phải là hai chúng ta. Tôi thật không ngờ ông đủ can đảm nói câu đó tại đây, mà không biết ngượng.

Đức Tôn sư phán:

- Này Chin-cha, Như Lai xác nhận câu nói của Như Lai không thay đổi.

Không biết đây là sự ngẫu nhiên hay Phật lực, trong khi nàng Chin-cha xỉ xỏ và gân cổ thóa mạ, hạ nhục Đức Tôn sư th́ vải buộc khúc cây bị đứt, hài nhi chào đời không phải bằng xương bằng thịt mà là một khúc gỗ tṛn.

Nàng quính quáng như gà mắc đẻ, mặt mày xanh như bị dính chàm và đứng bất động như bị trời trồng. Phật tử thấy chuyện trơ trẽn, chướng tai gai mắt, không ai bảo ai, họ nhất tề đứng lên xô đuổi nàng ra khỏi giảng đường và đẩy luôn ra khỏi cổng Kỳ viên tịnh xá. Khi h́nh bóng nàng vừa khuất tầm mắt Đức Tôn sư th́ nàng bị đất rút. Nàng chết vô cùng đau khổ chết trong kinh hoàng và nhục nhă.

Ngày hôm sau, chư vị tỳ kheo bàn tán xôn xao câu chuyện này. Đức Tôn sư dạy:

- Này các tỳ kheo, các thầy không nên kết án ai nếu chưa xét xử phân minh, chưa nắm được tội trạng chắc chắn. Người thích làm ác là người hay nói láo, thiếu thành thật và bất chấp hậu quả.

Biến cố lớn này là bài học cho những ai mưu mô hăm hại Đức Phật và tiêu diệt Phật giáo.

Mọi sự chống đối, mọi âm mưu phá hoại tự động lắng dịu và bẳng đi một thời gian. Nhưng về mặt ch́m, nhóm Lục sư ngoại đạo vẫn ŕnh rập t́m cơ hội quật khởi. Sở dĩ họ mang mặc cảm đố kỵ thù ghét v́ từ ngày Đức Phật ra đời và đạo Phật được phổ cập th́ quần chúng đều hướng về chánh pháp. Đệ tử của các vị cũng lần lượt bỏ đạo. Do đó, uy tín họ bị sứt mẻ, đệ tử giảm lần, lợi lộc không có, danh vọng tiêu tan.

Kế hoạch dùng sắc đẹp mỹ nhân bất thành, họ xoay qua dùng xác chết mỹ nhân để triệt hạ uy tín Đức Bổn sư. Họ mướn người giết một thiếu nữ trẻ đẹp tên Sun-đà-ri đem chôn dấu dưới đống hoa cũ phía sau hương thất. Thi hành xong thủ đoạn, họ hô hoán là Sun-đà-ri mất tích rồi rầm rộ t́m kiếm. Cuối cùng, đến nơi chôn dấu, họ bới xác nàng lên rồi kết án Đức Tôn sư lén lút ân ái với Sun-đà-ri và giết nàng để diệt khẩu. Câu chuyện này cũng gây hoang mang trong quần chúng không ít. Những kẻ nhẹ dạ yếu ḷng nghe lời đồn đăi, đă chỉ trích Đức Phật thậm tệ. Nhưng chỉ ít hôm sau, kẻ giết mướn bị bắt và cung khai tất cả.

 

Một nghĩa cử vô cùng cảm động

Một buổi sáng. Gió thoảng hơi sương. Khí trời mát dịu. Chu vi Kỳ viên tự vẫn thiền vị u nhàn. Cái u nhàn của ngoại cảnh cũng ảnh hưởng phần nào đến sự an tịnh nội tâm của các bậc Sa môn hành đạo.

Tiếng đọc kinh của các vị tân thọ tỳ kheo vang nhẹ từng hồi. Một số đang đi kinhh hành, một số đang giặt giũ y phục, trong khi một số khác đang quét dọn tịnh thất. Ngoài tiếng học kinh tất cả đều yên lặng.

Đức Tôn sư ngự qua, tất cả đều cúi đầu kính cẩn. Vị đang đi th́ đứng lại, đang ngồi th́ đứng lên, đang làm việc th́ tạm ngưng để tỏ ḷng tôn kính.

Đức Tôn sư để lời thăm hỏi một vài vị hoặc nhắc nhở một vài câu kinh rồi Ngài tiếp tục ngự qua. Đến một tịnh thất, Ngài dừng bước và hỏi Đại đức Ananđa:

- Vị nào ở trong tịnh thất này?
- Bạch Đức Thế Tôn, thầy Tí-sá.
- Ông ấy có mặt hay đi vắng.
- Có lẽ thầy đang ở bên trong.

Đức Thế Tôn ngự vào. Bên trong một cảnh tượng vô cùng thương tâm hiện ra trước mắt Đức Từ phụ. Đó là h́nh ảnh một vị Tỳ kheo trung kiên, nằm trên chiếc đơn nhỏ, ḿnh mẫy lỡ lói, mủ máu và nước vàng chảy ra vô cùng hôi hám. Có nơi máu mủ đă khô cứng; có nơi vẫn c̣n chảy ướt; có nơi đă có gịi. Thầy nằm bất động như xác chết.

Nghe tiếng động, thầy nhướng mắt lên nh́n Đức Phật. Thầy mừng quá, định chấp tay đănh lễ nhưng bất lực.

Đức Tôn sư yên lặng. Đại đức Ananđa yên lặng. Thầy Tí-sá cũng yên lặng. Tuy nhiên, qua ánh mắt từ bi của Đức Tôn sư, thầy Tí-sá vô vàn cảm động. Những giọt nước mắt sung sướng, ngập ngừng, chậm chạp chảy xuống đọng lại ở hai bên má hóp.

- Này Tí-sá, thầy đau lắm không?
- Bạch Đức Thế Tôn, đau lắm. Đệ tử cảm tưởng đang nằm trên gai.
- Ngươi không có pháp lữ, đồng đạo hoặc đệ tử chăm sóc sao?
- Bạch Đức Thế Tôn, lúc trước có, nhưng giờ họ đă bỏ đệ tử đi hết rồi.
- Tại sao vậy?
- Bạch Đức Thế Tôn, v́ họ chán đệ tử đau đă lâu ngày. Hơn nữa, bịnh đệ tử th́ nhơ nhớp hôi hám. Do đó, họ bỏ đệ tử một ḿnh.

Nói đến đây th́ thầy kiệt sức, không nói được nữa.

Đức Tôn sư ngự thẳng xuống nhà trù lấy nồi múc nước. Đại đức Ananđa nhúm lửa. Khi nước sôi, Đức Tôn sư và Đại đức Ananđa khiêng thầy Tí-sá luôn chiếc giường ra ngoài và bắt đầu rửa ráy. Một số Tỳ kheo đi ngang qua trông thấy, bèn tiếp tay thay y. Đức Tôn sư nhẹ tay rửa ghẻ khắp châu thân thầy Tí-sá. Nhận thấy thân h́nh tương đối sạch sẽ và mạng căn thầy không thể tồn tại được. Đức Tôn sư phán dạy:

- Tí-sá ơi, thân này chẳng c̣n bao lâu đâu, khi tâm thức đă ĺa bỏ rồi th́ nằm bất dộng trên mặt đất như đống tro tàn vô bổ. Tí-sá hăy nh́n xác thân hôi thúi này, nó nhơ nhớp vô cùng, các vật uế trược chảy ra thường trực. Thế mà người không giác ngộ chân lư ấy vẫn ưa thích và mê say.

Lănh hội được lư đạo, thầy Tí-sá chứng quả Alahán. Nhưng v́ bịnh t́nh quá trầm trọng nên thầy viên tịch. Đức Tôn sư dạy làm lễ hỏa táng và tạo tháp để tôn thờ xá lợi. Có nhiều trường hợp tương tự, Đức Tôn sư cũng tự tay rửa ráy, ẳm bồng, hoặc xê dịch bịnh nhân, hoặc tự tay cho uống thuốc. Để có điều kiện phục dịch và giúp đỡ bịnh nhân, Đức Tôn sư họp tăng và chế định giới luật:

- Này các tỳ kheo, các thầy không cha mẹ, anh em. Do đó, các thầy phải giúp đỡ nhau như t́nh ruột thịt. Sự chăm sóc tỳ kheo bịnh cũng đồng nghĩa với phục dịch Như Lai. Nếu thầy đau, tṛ chăm sóc. Tṛ đau, thầy chăm sóc. Vị nào không phụng hành, vị ấy phạm tác ác. Trường hợp không có tṛ riêng th́ tṛ đồng sư phải được thay vào, bằng không, th́ phạm tác ác. Nếu không có tṛ đồng sư th́ tăng phải đứng ra đảm trách.

Đại đức Ananđa có nhiều đức tánh cao quí, nhất là đối với tăng đồ cũng như tín đồ lúc bịnh hoạn. Điển h́nh như lúc hay tin Đại đức Phắc-gú-ná, Đại đức Ghí-ri-ma-nan-đá, ông bá hộ Á-ná-thá-bin-đí-cá, ông bá hộ Ma-ná-đin-ná v.v... bị bịnh, th́ Đại đức lập tức vào bạch Phật để Đức Tôn sư thăm hỏi, an ủi hoặc nhắc nhở.

Sự giúp đỡ chăm sóc người trong lúc bịnh hoạn là một nghĩa cử, một ân t́nh khó quên giữa người bịnh và người nuôi bịnh. Bịnh là người thù của mạng sống. Sự chăm sóc bịnh nhân được mau b́nh phục đồng nghĩa với sự cứu mạng. Đức Tôn sư và Đại đức Ananđa là bạn lành, là nơi nương tựa của mọi người.

 

Một tấm ḷng

Một buổi b́nh minh rực nắng. Đại đức Ananđa vào thành Sà-văt-thi khất thực. Trên đường đi, Đại đức bắt gặp ông bà-la-môn Săn-ga-rá-vá mỗi ngày tắm ba lần: sáng, trưa, và chiều dưới sông Găn-ga v́ tin rằng, nước sông này bắt nguồn từ thiên đường, chảy qua đỉnh đầu thần Siva, nên có thể rửa sạch tất cả tội lỗi.

Đại đức rất muốn tiếp độ ông ta, nhưng tự thấy khả năng và công hạnh của ḿnh chưa được thù thắng, nên bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, ông bà-la-môn Săn-ga-ra-vá là người lăo thành, nhân cách tốt, có thể đối thoại được. Nhưng v́ tin chấp cổ truyền nên chưa có chánh tín. Xin Đức Thế Tôn từ bi tiếp độ.

Sáng hôm sau, Đức Phật quang lâm tư gia ông bà-la-môn. Sau những câu chào hỏi xă giao, Đức Phật gợi chuyện:

- Lúc này, ông c̣n tắm mỗi ngày ba lần như thường lệ chứ?
- Thưa c̣n.
- Xin ông vui ḷng cho biết lợi ích của sụ tắm và trầm ḿnh trong sông Găn-ga. Những con sông khác có kết quả lợi lạc như sông Găn-ga không?
- Thưa Ngài Cồ Đàm, tương truyền rằng nước sông Găn-ga rất linh thiêng, có thể rửa sạch những điều tội lỗi, v́ nó bắt nguồn từ thiên đàng và chảy qua đỉnh đầu thần Siva. Do đó, tôi tin tưởng và tiếp tục hành tŕ cho đến ngày nay.
- Như Lai muốn biết rỏ hơn và mong ông thông cảm: cuộc đối thoại này chỉ nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề và trang điểm cho kiến thức. Vậy, theo ông, th́ tội ở trong tâm hay ở ngoài thân?
- Thưa, ở trong tâm.
- Nếu tội ở trong tâm th́ khi tắm, nước có chảy qua tâm được không?
- Nước không chảy qua tâm được nhưng Ngài đừng quên rằng đây là chất nước thiêng có khả năng rửa sạch tội lỗi trong tâm.
- Ông nghĩ đức tin có thể hoán chuyển và che dấu sự thật được sao?
- Thưa Ngài Cồ Đàm, không thể được.
- Này ông, nếu đức tin không thể che dấu và hoán chuyển sự thật th́ sự tin rằng nước sông Găn-ga có thể rửa được tội lỗi trong tâm ấy có phải là sự thật hay không? Một người lạc đường, quay mặt đi về hướng tây tin rằng ḿnh đang đi về hướng đông. Vậy sự tin tưởng ấy có thay đổi được phương hướng hay không?
- Thưa không.
- Câu chuyện này th́ người tin tưởng nước sông Găn-ga có khả năng rửa sạch tội ác trong tâm cũng thế ấy. Hoặc người nọ có cái nồi bằng vàng nhưng bị dính phân toàn diện. Người ấy chỉ rửa bên ngoài, tin tưởng rằng bên trong cũng sạch. Vậy, theo ông, đức tin ấy có đúng sự thật không?
- Thưa Ngài Cồ Đàm, đức tin ấy hoàn toàn sai sự thật.
- Này bà-la-môn, Như Lai nói, thân ác nghiệp, khẩu ác nghiệp, ư ác nghiệp là những chất dơ chỉ có thể rửa bằng nước chánh pháp chứ không thể rửa sạch bằng nước thường.

Như Lai gọi thân thiện nghiệp, khẩu thiện nghiệp, ư thiện nghiệp là chất nước tinh khiết, mầu nhiệm có khả năng rửa sạch tội ác trong tâm. Này bà-la-môn, hăy vào đây, vào tắm nước chánh pháp của Như Lai, vừa sâu thẳm vừa trong sạch, không dơ đục, không cặn bă, có bến lài, phẳng và đẹp, nơi mà bậc trí thức hạnh ngộ, tắm rửa, tắm xong lên bờ an vui, tự tại.

Sau khi Đức Phật phân tách lư đạo, ông bà-la-môn vô cùng hoan hỉ:

- Bạch Đức Thế Tôn, thật rơ ràng sáng tỏ như lật ngữa bàn tay, như mở cánh cửa đóng, như chỉ lối kẻ lạc đường, như soi sáng nơi tối tăm để người có mắt được trông thấy. Đệ tử xin phát nguyện trọn đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin Đức Thế Tôn nhận biết cho đệ tử từ nay là cận sự nam đă quy y Tam Bảo.

Đại đức Ananđa là người quảng đại, là đồng sự lợi lạc của mọi người. Những đức tính cao quí khác có rất nhiều nhưng nổi bật nhất là đức khiêm cung. Đối với các bậc trưởng lăo La hán được Đức Phật tuyên dương là đệ nhất, như Đại đức Ma-ha Ca-diếp (Mahà Kassapa) chẳng hạn, th́ Đại đức Anađa tuyệt đối kính trọng, thậm chí không dám xưng hô bằng pháp danh.

Có một lần, Đại đức Ca-diếp làm thầy tế độ cho giới tử xuất gia. Trong cuộc lễ này, Đại đức Ananđa được mời làm thầy giáo thọ. Theo truyền thống tăng sự, th́ thầy giáo thọ phải đọc tuyên ngôn liên hệ đến pháp danh Thầy Tế Độ. Do đó, Đại đức Ananđa từ khước v́ không dám tuyên đọc pháp danh Trưởng lăo Ma-ha Ca-diếp. Đức Bổn sư biết rơ việc này nên Ngài cho phép đọc thế danh thay cho pháp danh cũng được.

Một lần khác, Đại đức Ananđa cung thỉnh Đại đức Ca-diếp hoan hỉ cùng sang ni viện dạy đạo, v́ rằng Đại đức Ca-diếp rất nổi tiếng về đạo hạnh, lời dạy của Ngài sẽ vô cùng ích lợi cho ni chúng. Đại đức Ca-diếp hoan hỉ nhận lời nhưng v́ Ngài là vị đệ nhất hạnh Đầu Đà và, thường xuyên sống ẩn cư, không lưu tâm đến vấn đề xă giao mà chỉ dạy đạo. Dạy đạo xong là cáo biệt ngay. Một cô ni phê b́nh rằng: đáng lư Ngài không nên dạy đạo trước một vị pháp sư lỗi lạc như Đại đức Anađa. Hành động như vậy chẳng khác ǵ người bán muối lẻ bán cho người lái muối.

Đại đức Ca-diếp, một hôm gặp Đại đức Ananđa bèn nói:

- Này hiền đệ, giữa đệ và tôi ai là người bán muối. Đức Thế Tôn có khen hiền đệ là người có đạo hạnh như Ngài chưa. Riêng tôi th́ đă được Đức Thế Tôn ban khen công khai giữa tăng chúng là người có đạo hạnh như Ngài, cũng như ban khen Đại đức Xá lợi phất có khả năng thuyết pháp như Ngài.

- Bạch Tôn giả- Đại đức Ananđ nói với sự tôn kính tuyệt đối- xin Tôn giả đừng để tâm làm ǵ. Nữ nhi phần đông thiển cận, bồng bột, và nông nổi.

Sở dĩ Đại đức Ca-diếp nhắc lại câu chuyện người bán muối và lời khen của Đức Thế Tôn không phải v́ chấp nhất câu nói của cô ni thiếu suy nghĩ mà Ngài dụng tâm qua sự quen biết và trách nhiệm dạy đạo ni chúng của Đại đức Ananđa sẽ có cơ hội giúp cô ta hồi tâm. Đây là một cách cứu độ gián tiếp. Nếu không cô ta sẽ gánh lấy tội lỗi nặng nề v́ thái độ phạm thượng ấy. Vă lại, đạo t́nh giữa hai vị quả thật vô cùng thắm thiết. Đại đức Ca-diếp thường gọi Đại đức Ananđa bằng danh từ "Chú nhỏ", mặc dù tóc Đại đức Ananđa đă bạc. Và Đại đức Ananđa cũng lấy làm hoan hỉ với lối xưng hô thân mật này.

 

Phần 05

 

Biểu tượng Pháp bảo

Có một lần, một vị Bà-la-môn bái kiến Đức Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, đối với Phật bảo và Tăng bảo th́ đệ tử đă từng cúng dường nhưng đối với Pháp bảo th́ đệ tử phải làm cách nào mới gọi là cúng dường chân chính.

Đức Phật dạy nên cúng dường đến vị bác thông giáo lư. Và khi được bạch hỏi vị nào th́ Đức Phật dạy nên hỏi các vị tỳ kheo. Tất cả đều tôn xưng Đại đức Ananđa, thị giả Đức Tôn sư là bậc bác thông giáo lư. Ông bà-la-môn bèn đem y cà-sa cúng dường cho Đại đức. Sự kiện này chứng tỏ Đại đức Anađa là biểu tượng Pháp bảo.

Nói cách khác, người không dễ duôi xem thường chánh pháp, và luôn y cứ phụng hành, gọi là cúng dường chánh pháp cách cao thượng. V́ chính Đức Tôn sư cũng sùng bái chánh pháp.

Trong kinh có nhắc rằng: sau khi chứng quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tuần thứ năm, trong khi tọa thiền dưới gốc cây da, nơi mục đồng làm địa điểm họp mặt, Đức Phật tự nghĩ: đời sống không có đối tượng nương tựa, tôn sùng th́ thật là bất tiện. Ngài không thấy bất cứ một đối tượng nào cao quí hơn Ngài trên phương diện giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Cuối cùng, Ngài tự quyết định chọn chánh pháp làm đối tượng.

Tóm lại, Phật, Pháp, Tăng chỉ khác nhau trên mặt danh từ và cảm giác, nhưng mặt lư giác th́ đồng nhất bất khả phân. Ví như mặt ngọc tam giác.

Pháp là chân lư. Phật là vị giác ngộ chân lư. Tăng là bậc thừa kế, có nhiệm vụ truyền tŕ chân lư. Một buổi trưa, Đại đức Ananđa ngồi nghỉ.

Đức Tôn sư từng đề cập các vấn đề liên hệ đến chư Phật quá khứ như cha mẹ, tuổi thọ, sự giác ngộ, tăng hội, đại đệ tử, thị giả v.v... chỉ riêng vấn đề Bố-tát (1) th́ Ngài chưa phán dạy. Để có sự hiểu biết rốt ráo, Đại đức bèn vào bạch Phật về vấn đề này.

Chú thích: (1) Uposatha: Ngày đọc giới và sám hối của các vị tỳ kheo trong ngày rằm và 30.

Đức Phật dạy:

- Này Ananđa, định kỳ Bố-tát của chư Phật đều khác nhau. Riêng phần giải thoát (Ovàdap-pàtimokkha) th́ đồng nhất:

- Đức Phật Ví-pá-si (Vipassi) 7 năm bố-tát một lần.
- Đức Phật Sí-khí (Sikhi) và Vê-sá-phu (Vessabhù) 6 năm bố-tát một lần.
- Đức Phật Kakusandha (Cùlutôn) và Konàgamana (Câunahàm) mỗi năm bố-tát một lần.
- Đức Phật Kassapa (Ca-diếp) mỗi 6 tháng bố-tát một lần.
- Riêng Như Lai th́ mỗi nữa tháng bố-tát một lần.

Định kỳ bố-tát tuy có khác nhau nhưng đại cương giải thoát giáo th́ không khác.

Phần đầu Ngài dạy tổng quát:

Nhẫn nại với mọi nguyên nhân phát sinh tham, sân , si, và lời phỉ báng của kẻ khác là pháp thiêu hủy phiền năo. Chư Phật gọi Niết bàn là cứu cánh của phạm hạnh. Bậc xuất gia c̣n hăm hại kẻ khác không đáng gọi là Sa môn.

Phần hai: Ngài dạy giáo lư căn bản:

Nên dứt bỏ điều ác, tu tập hạnh lành, trau dồi tâm sạch. Lời dạy này nhằm mục đích chỉ rơ tội của ác ngiệp, phước của thiện nghiệp và sự thành công trong đạo nghiệp cách mạng tâm linh.

Phần ba: Ngài dạy đức tính người truyền giáo:

- Không nói xấu kẻ khác.
- Không khủng bố hoặc mua chuộc.
- Ẩm thực điều độ.
- Thúc liễm các căn.
- Không làm vừa ḷng kẻ khác mà bỏ quên đạo đức bản thân.
- Ở nơi thanh vắng.
- Quán tu thiền định.

 

Công đức tri ân

Tâm từ bi vô lượng mà Đức Tôn sư đă cưu mang qua nhiều A tăng kỳ kiếp, từ khi mới phát nguyện thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nhằm mục đích cứu độ chúng sanh như một sứ mạng thiêng liêng thúc đẩy không ngừng.

Chính ḷng từ ấy biện minh cho chúng sanh rằng: tŕnh độ tu chứng tuy có thượng, trung, hạ nhưng tất cả đều có chủng tử Phật cũng như hoa sen tuy khác nhau về thời gian nở nhưng giống nhau về phương diện sắc hương.

Dùng Phật nhăn quan sát, Ngài nhận thấy chúng sanh có sự sai khác như sau:

- Nhiều phiền năo, ít phiền năo.
- Thượng căn, hạ căn.
- Thiện nghiệp, ác nghiệp.
- Thượng trí, hạ trí.

Ngài tuyên bố, "cánh cửa vô sinh Như Lai đă mở, mọi người đều có quyền bước vào". Đấy là yếu tố nguyên lai khai đạo của Đức Từ phụ. Suốt gịng lịch sử truyền bá, Đức Phật chưa làm đổ một giọt máu hồng, một gịng lệ nóng. V́ Ngài là hiện thân của t́nh thương rộng lớn, là cha lành của bốn loại chúng sanh, là đạo sư của khách trần lạc lơng.

Đạo của Ngài là thuyền từ cứu độ, là đuốc tuệ soi đường, là địa bàn chỉ hướng, là mạch nước giữa sa mạc muôn trùng.

Đạo của Ngài đẹp tuyệt vời, thơm tuyệt diệu, là cứ điểm tuyệt đối an toàn. Đẹp hơn trăng rằm v́ tính cách sơ thiện, trung thiện, và hậu thiện. Thơm hơn các loại trầm kỳ v́ bản chất giới hương, định hương, và huệ hương. Là cứ điểm tuyệt đối an toàn v́ thành quả giải thoát tri kiến.

Thật vậy, trăng rằm tuy đẹp, nhưng nếu bị mây che, nhựt thực, hoặc người đui, người không thích ánh sáng, người có tâm sự buồn, người mất trí v.v... th́ trăng rằm không c̣n đẹp, hấp dẫn và cần thiết. Sự chi phối bởi ngoại cảnh đă khiến cái đẹp của mặt trăng không c̣n độc đáo và hiệu năng.

Các loại trầm kỳ tuy có thơm nhưng chỉ thơm xuôi gió và thơm trong khoảng cách hữu hạn. Do đó, sự tác dụng của mùi thơm bị hạn chế tối đa. Trong trường hợp khác như người đang bịnh nặng, đang hấp hối, đang quá đói khát, đang mang tâm sự quá khổ, quá buồn, hoặc khứu giác bị hư th́ mùi thơm đối với họ hoàn toàn vô nghĩa. Trái lại, mùi thơm giới, định, huệ của các bậc chân tu đắc đạo th́ chẳng những loài người mà các tầng trời cũng đều ngửi thấy. Chính Đại đức Ananđa có lần bạch hỏi Đức Thế Tôn về vấn đề này. Đức Tôn sư dạy:

- Này Ananđa, trong thế gian này không có hương thơm nào bằng hương thơm của giới. Người có giới hằng được trời, người, và các bậc thiện đức quí kính, yêu thương và ca tụng.

Nói cách khác, giới có khả năng rửa sạch tất cả tội lỗi trong tâm. Ngoài ra không có phương tiện nào khác hiệu lực hơn. Nước sông, nước biển chỉ rửa sạch những dơ uế bên ngoài. Sự khổ năo nóng nảy thường trực của tâm hồn không thể dập tắt bằng chất nước thường mà phải dùng nước giới.

Người có giới đẹp từ nhỏ đến già, sống lợi lạc, chết an nhàn, hạnh phúc kiếp này, cực lạc kiếp sau. Người có giới dù sang, hèn, nghèo, giàu, già, trẻ, nam, nữ, sống giữa thành thị hay rừng núi hoang vu, c̣n sống hay đă chết hương thơm vẫn bay tỏa bốn phương ngào ngạt.

Cái đẹp của người có giới là cái đẹp thiên thu bất biến. Không một đám mây tội lỗi nào có thể che khuất ánh sáng huyền diệu của vầng trăng Giới đức. Chỉ có ánh sáng Giới đức mới đủ năng lực soi tỏ đến tận cùng nội tâm thầm kín, và là trái tim nóng hổi làm cho gịng máu tươi được lưu độ điều ḥa trong mạch sống.

Người không giới là người thích sống cuộc đời phù phiếm xa hoa, ham lợi háo danh và thích hưởng thụ. Những thú vui trần tục này là cặn bă làm mờ tối lương tri và làm đ́nh trệ con đường giải thoát.

Đạo đức là cơ quan an ninh hữu hiệu cho xă hội và loài người. Nhưng người ư thức và tích cực tŕ hành đạo đức th́ quá ít. Do đó, loài nguời tự làm khổ, đầy ải, nghiệt ngă bản thân và kẻ khác. Mục đích thanh b́nh, an lạc bị bóp chết. Người không đạo đức là đại họa cho gia đ́nh, xă hội, và loài người. Người đạo đức là đại phúc cho tất cả.

Đại đức Ananđa là mẫu người vừa kể, mẫu người biết ưu tư và thao thức đối với hạnh phúc và lợi lạc của cộng đồng. Câu chuyện điển h́nh như vầy:

Sơ thời, Đức Phật chỉ cho phép tỳ kheo dùng Tam y là: Y tăng-già-lê hai hoặc ba lớp để đắp lạnh. Y uất-đà-la-tăng để trùm ngoài, và y an-đà-hội để mặc trong. Ngoài ra không có quyền cất giữ y dư. Một hôm, Đại đức Ananđa có một số y dư muốn cúng dường cho Đại đức Xá lợi phất đang ở tại thị trấn Sa-kê-tá nhưng không biết làm sao, bèn thỉnh tôn ư Đức Phật. Đức Tôn sư hỏi:

- Chừng bao lâu Xá-lợi-phất về?
- Bạch Đức Thế Tôn, chừng mười hôm nữa.
- Nếu vậy, Ananđa cứ tạm cất chờ xem.

Nhân câu chuyện này, Đức Tôn sư chế luật:

- Này các tỳ kheo, Như Lai cho phép các thầy giữ y tối đa 10 ngày. Quá hạn định, bị phạm ưng phát lộ và y dư phải bị ưng xă.

Đại đức Ananđa được măn nguyện. V́ Đại đức Xá-lợi-phất về trong hạn định.

Về điều này, Đức Phật chế định một nguyên tắc linh động hơn, danh từ chuyên môn gọi là Ví-câp-pá nghĩa là biến thành cộng hữu. Phương thức như vầy:

- Tỳ kheo có y dư đem tŕnh trực tiếp với một vị tỳ kheo khác rằng ḿnh sẵn ḷng xă bỏ, vị nào cần th́ được quyền sử dụng. Vị sau có thể nhờ vị trước cất xài chung.

Đại đức Ananđa đă đóng góp phần lớn cho vấn đề này, giúp ích hữu hiệu cho hiện tiền tăng. Công đức này được bậc xuất gia và hàng cư sĩ luôn luôn nhớ ơn. V́ bậc xuất gia th́ được có y phục đầy đủ rộng răi, c̣n hàng cư sĩ th́ có cơ hội tùy nghi cúng dường.

Đại đức cũng từng nghĩ rằng: bạn lành là nữa phần của phạm hạnh. Nhưng Đức Tôn sư dạy rằng: "Bạn lành là toàn phần của phạm hạnh ".

Đại đức được Đức Tôn sư ban khen và toàn thể pháp lữ tán dương qua 5 đức tính:

1- Bậc thông tuệ, thuộc và nhớ nhiều Phật ngôn.
2- Bậc pháp sư lỗi lạc, người nghe không chán.
3- Có trí nhớ đặc biệt và thích nghi với mọi hoàn cảnh.
4- Tinh tấn không lùi.
5- Phục dịch Đức Tôn sư vô cùng chu đáo.

Khi có cơ hội, Đại đức thường đàm đạo với Đại đức Xá lợi phất. Trong Tăng nhất bộ có đề cập những đoạn kinh đối thoại của hai vị. Như vấn đề Niết bàn và thiền định. Vấn đề tỳ kheo không thông tuệ và thông tuệ v.v...

Trong lănh vực luận đạo, Đại đức Xá lợi phất công nhận Đại đức Ananđa có nhiều đức tính lành đáng ca tụng:

1- Nghe nhiều học rộng.
2- Có biệt tài trùng tuyên một cách đầy đủ và chính xác.
3- Có khả năng giải rộng những điều khó hiểu.
4- Thích trầm lặng.
5- Thích giao du, thân cận các bậc bác thông kinh luật.
6- Tích cực học hỏi để được thông suốt thêm.

Quả thật Đại đức Ananđa xứng đáng nhận sự biết ơn, cúng dường và chiêm ngưỡng của phật tử xuất gia và tại gia.

 

Lần gặp gỡ sau cùng

Đại đức Ananđa phục dịch Đức Tôn sư vô cùng cẩn trọng, chu đáo, bất chấp nắng mưa, ngày đêm cực khổ, hiến dâng trọn đời ḿnh cho Đức Phật. Tâm hồn Đại đức lúc nào cũng hiền lành nhưng cương quyết, sẵn sàng hy sinh nhưng không tự phụ, quán triệt nhưng không kiêu mạng.

Công tŕnh phục vụ Đức Tôn sư của Đại đức Ananđa quả thật độc nhất vô nhị, sáng như mặt trời, mát như mặt trăng và đẹp như hoa xuân nở rộ.

Năm Đức Tôn sư 79 tuổi, tuổi đă già, như ánh hoàng hôn gượng sáng để rồi ch́m hẳn vào màn đêm. Thuở ấy, Đức Tôn sư ngụ tại núi Kư xà quật (Gijjhakùta) gần thành Vương xá (Rajagaha). Lúc bấy giờ, đức vua A-xà-thế (Ajàtasatu) đang chuẩn bị cất quân chinh phạt xứ Vách-chi. Nhà vua sai đại thần Vá-sá-ca-rá đến bái kiến và thỉnh ư Đức Tôn sư. Tuân hành quân lịnh, đại thần đến núi bái kiến Đức Phật.

- Bạch Đức Thế Tôn, đức vua A-xà-thế đang chuẩn bị cất quân chinh phạt xứ Vách-chi (Vajji), có sai đệ tử thay người bái kiến, vấn an sức khỏe và xin đê đầu đănh lễ Đức Thế Tôn.

Đức Tôn sư không trả lời đại thần Vá-sá-ca-ra (Vassakàra) mà chỉ phán hỏi Đại đức Ananđa, dân chúng xứ Vajji c̣n tích cực tŕ hành pháp bất hoại không?

- Bạch Thế Tôn c̣n.

- Này Ananđa, bất hoại pháp có 7 chi:

1- Thường xuyên hội họp đông đảo.
2- Đoàn kết trong những lúc hội họp, giải tán và công tác.
3- Thượng tôn luật pháp. Không hủy bỏ những luật pháp cũ có tính cách nhân đạo, không ban hành những luật mới, quá khắc khe.
4- Tôn trọng và lănh giáo các bậc trưởng thượng.
5- Củng cố đạo đức cổ truyền nhất là không cưỡng ép đàn bà, con gái phải sống với ngoại nhân.
6- Duy tŕ nền văn hóa cổ xưa, như các ngôi danh lam, tôn miếu thờ cúng các vị anh hùng, liệt sĩ và chư linh.
7- Đăi ngộ xứng đáng các bậc chân tài, chân tu để được cộng tác hoặc ủng hộ.

Này Ananđa, khi nào dân chúng Vách-chi c̣n tŕ hành tích cực 7 pháp bất hoại này th́ chẳng những không bị tiêu diệt mà c̣n phồn vinh, hùng mạnh.

Đức Tôn sư bèn ngỏ lời với vị đại thần:

- Này Vás-sa-ka-rá, một thời Như Lai ngụ tại tháp Sa-ranh-đá (Sàranda) gần thị trấn Vesali, có chỉ dạy 7 pháp bất hoại này cho dân chúng Vajji và Như Lai tin rằng họ sẽ không bị tiêu diệt nếu c̣n tŕ hành tích cực 7 pháp ấy.

- Bạch Đức Thế Tôn, theo ngu ư đệ tử, th́ dân xứ Vách-chi dù chỉ tŕ hành một pháp thôi cũng đủ thắng lợi, phồn vinh, hùng mạnh và sẽ không bao giờ bị tiêu diệt.

Sau khi đại thần Vás-sá-ka-rá bái biệt, Đức Tôn sư dạy Đại đức Ananđa triệu tập các hàng tỳ kheo và Ngài phán dạy:

- Này các tỳ kheo, các thầy sẽ được thăng tiến, lợi lạc không bị hoại diệt, nếu các thầy thường xuyên hội họp, đoàn kết keo sơn, nghiêm tŕ giới luật, tôn trọng tăng trưởng, không nô lệ ái dục, thích nơi thanh vắng và mong được tiếp kiến các bậc chân tu.

- Lại nữa, này các tỳ kheo, các thầy sẽ được tuyệt đối tiến hóa, không bị hoại diệt

nếu các thầy không quá bận rộn công tác, không thích nói chuyện tào lao, không thích ngủ nhiều, không thích cuộc sống chung chạ, không ham muốn đê hèn, không thân cận bạn ác và tích cực công phu hành đạo để chứng ngộ.

Đức Tôn sư tạm ngụ tại núi Kỳ xà quật một thời gian bèn cùng Đại đức Ananđa trực chỉ nước Vê-sa-li, qua nhiều làng mạc như Âm-bá-lá-thi-ka, Na-lăn-đà, và Pataligama là những căn cứ chiến thuật do đức vua A-xà-thế thành lập nhằm bao vây và cô lập xứ Vách-chi.

Tại thị trấn Nà-lan-đà này, Đại đức Xá lợi phất từng bày tỏ sự ngưỡng mộ tuyệt đối nơi Đức Tôn sư rằng trong quá khứ, hiện tại và vị lai không có vị sa môn, bà-la-môn nào hơn Đức Phật trên phương diện chánh đẳng chánh giác.

Khi ngự đến thị trấn Pá-tá-lí-ga-má, trước số đông Phật tử bái kiến, Đức Tôn sư dạy về 5 tội phá giới:

1- Người phá giới sẽ bị phá sản.
2- Tiếng xấu đồn xa.
3- Không tự nhiên hiên ngang giữa đại chúng.
4- Sắp mạng chung bị bấn loạn tinh thần,
5- Sau khi mạng chung bị đọa vào khổ cảnh.

C̣n người có giới đức th́ hưởng được 5 quả phước theo ư nghĩa tương phản.

Suốt quảng đường từ Pá-tá-lí-ga-má đến Vê-sa-li Ngài đều giảng đạo chung cho giới xuất gia, tại gia và riêng cho Đại đức Ananđa. Vấn đề tứ thánh đế, vấn đề chánh pháp là gương sáng v.v... đều được Ngài chỉ dạy tận tường. Đến Vê-sa-li, Ngài ngụ tại vườn cây của cô kỹ nữ Âm-bá-pà-li. Đức vua Lic-chá-vi cung thỉnh Ngài vào ngụ trong nội thành nhưng Ngài từ khước.

Sự từ khước này mang một ư nghĩa từ bi, b́nh đẳng, tránh được sự mâu thuẩn chính trị giữa hai vương quốc thù nghịch. V́ vua A-xà-thế nước Ra-já-gá-há muốn chinh phạt xứ Vách-chi nước Vê-sa-li do vua Pá-sê-ná-đí cai trị. Do đó, nếu Ngài nhận lời vào ngụ trong thành nội th́ sẽ mất ḷng vua A-xà-thế và nhà vua có thể nghĩ quấy cho rằng Ngài về phe hoặc ủng hộ vua Pá-sê-ná-đí.

Để tiếp độ dân xứ Vách-chi và để chận đứng mưu đồ chinh phạt của vua A-xà-thế, gần trọn năm ấy, Ngài không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn xứ Vách-chi. Măi đến mùa mưaNgài mới an cư kiết hạ tại chùa Vê-lú-vá. Quả thật ḷng từ bi và sự hiện diện của Đức Tôn sư đă khiến vua A-xà-thế không nỡ cất quân chinh phạt. Thế là hàng triệu người khỏi bị hy sinh oan uổng. Hành động này chứng tỏ Đức Tôn sư chẳng những thành công trên phương diện đạo đức mà ngay trên b́nh diện chánh trị Ngài cũng quán triệt và diệu dụng.

Mùa hạ này là mùa cuối cùng. Đức Tôn sư bị bịnh kiết lỵ trầm trọng. Nhưng tự biết chưa đến giờ nhập diệt nên Ngài dùng năng lực định-thần-túc loại trừ bịnh tật bằng Á-thí-va-sá-ná-khan-ti (1). Đại đức Ananđa, một buổi chiều mát trời vào bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử đă mục kích sự nhẫn nại của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn chẳng những giảng dạy pháp nhẫn nại mà chính ḿnh đă làm gương và làm chứng. Đúng như dư luận đă tán thán rằng Đức Thế Tôn nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, suốt thời gian Thế Tôn ngọa bịnh, đệ tử lo lắng, sốt ruột quá chừng. Toàn thân đệ tử như bị nhấc bổng và xoay tṛn, trời đất tối tăm quay cuồng. Cảm giác của đệ tử như chim non trên cành bị giông băo. Nh́n Thế Tôn đau mà ruột gan đệ tử quặn thắt. Đệ tử cảm thấy đau đớn hơn Thế Tôn. Tuy nhiên, đệ tử không đến nổi tuyệt vọng v́ Đức Thế Tôn chưa triệu tập tăng già, chưa để lời di giáo tối hậu. Do đó, đệ tử tin Thế Tôn chưa nhập Niết bàn.

- Ananđa ơi, ngươi và tăng chúng c̣n mong mỏi ǵ nơi Như Lai nữa. Những điều nói, Như Lai đă nói hết rồi, Như Lai không dấu diếm điều ǵ. Gia tài pháp luật tuyệt hảo của chư Phật, Như Lai đă chuyển giao toàn bộ cho ngươi và giáo hội.

- Ananđa ơi, hăy nh́n Như Lai, nh́n thể chất Như Lai. Như Lai đă già rồi, răng rụng, tóc bạc, má cóp, da nhăn, thân h́nh tiều tụy, như xe cũ sửa rồi sửa nữa, giai đoạn hoàn toàn bất lực chỉ là vấn đề thời gian. Thời gian phá hũy tàn bạo mọi hiện hữu. Không sức mạnh hoặc phép lạ nào có thể ngăn được gịng thời gian. Các ngươi hăy nương nhờ chánh pháp v́ chỉ có hải đảo chánh pháp mới không bị hồng thủy luân hồi nhận ch́m oan uổng.

Chú thích: (1) Adh́vasanakhanti chịu đựng mọi sự đau đớn của cơ thể. Dhitikhanti chịu đựng mọi sự nóng lạnh cơ cực. T́tikhàkhanti chịu đựng mọi hiện tượng làm phát sanh tham sân si.

Vê-lú-ga-má thuộc xứ Vá-ji-chi cho đến măn mùa đông, Đức Tôn sư biết rơ trong người suy yếu thật sự và sự sống chỉ là ngọn đèn trước gió. Tuy nhiên, Ngài giữ im lặng, chưa cho Đại đức Ananđa biết. Trước Niết bàn 3 tháng, chính lúc ấy, Đức Tôn sư gần như mất hẳn sức khỏe, đau ốm liên miên. Mặc dù vậy, Đức Tôn sư v́ ḷng đại từ bi đối với tất cả chúng sinh, nên Ngài phải chấp nhận cuộc hành tŕnh vô cùng vất vả.

Rời Vê-lú-ga-má Đức Tôn sư ngự đến Ku-ta-ga-rá-sa-la trong rừng Đại lâm (Mahàvana) do vua xứ Lích-xá-vi kiến tạo cúng dường. Đến nơi chưa hết mệt, Đức Tôn sư dạy đại đức Ananđa khẩn triệu tập tăng chúng ở quanh kinh đô Vesali. Ngài giảng dạy pháp liễu ngộ là pháp đoạn ĺa phiền năo gồm có: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, và Bát thánh đạo.

Sáng hôm sau, Ngài vào thành Vesali khất thực. Dân chúng vô cùng mừng rỡ được bái kiến cúng dường Đức Tôn sư bao nhiêu th́ linh tính cũng báo cho họ biết đây là sự gặp gỡ sau cùng. Do đó, họ buồn khổ bấy nhiêu.

Đức Tôn sư an ủi và nhắc nhở:

- Này các Phật tử, các hữu vi pháp đều vô thường, có sanh tất có diệt, đó là định luật chung cho pháp giới chúng sanh. Sự buồn khổ khóc than không kéo được mùa xuân khi thu về lá rụng.

Sau đó, Đức tôn sư đi thẳng về hướng ngoại thành. Vừa ra khỏi cổng ngoài, Đức Tôn sư quay lại nh́n Vesali lần chót, như tượng chúa quay mặt từ giă núi rừng trước khi bị dẫn đem về hoàng cung làm ngự tượng. Phút giây im lặng, thiêng liêng trôi qua. Đức Tôn sư phán dạy Đại đức Ananđa:

- Này Ananđa, đây là lần cuối cùng Như Lai được nh́n Vesali. Ananđa ơi, các hữu vi pháp đều có sanh có diệt. Không ai có thể tránh khỏi cái địnhh luật phủ phàng ấy. Đi Ananđa, chúng ta đi đến tháp Pa-va-lá.

Đại đức Ananđa đi theo sau Đức Tôn sư mà cơi ḷng tan nát đau xót.

 

Giây phút quyết định

Khi đến tháp Pa-va-lá, Đức Tôn sư ngụ dưới gốc đại thọ và phán dạy Đại đức Ananđa:

- Này Ananđa, người thuần thục bốn thần lực như Như Lai, nếu muốn, có thể sống 120 tuổi.

Đức Tôn sư phán dạy như vậy ba lượt, nhưng Đại đức Ananđa không có bất cứ phản ứng nào v́ sự xúc động mănh liệt đă khiến Đại đức mất hẳn sự sáng suốt cố hữu, không đoán được tôn ư Đức Tôn sư. Quả thật, Đại đức đă bỏ mất cơ hội ngàn vàng. Thấy Đại đức Ananđa như kẻ mất hồn, Đức Tôn sư dạy:

- Này Ananđa, trông ngươi mệt mỏi nhiều, ngươi nên tạm nghĩ lấy sức. Như Lai cũng cần an nghĩ một chút.

Đại đức bèn t́m một gốc cây không xa ngồi tịnh dưỡng. Ngay lúc ấy Đức Tôn sư hồi tưởng quá tŕnh truyền đạo suốt 45 năm dài từ ngày mới thành chánh quả. Nào ngại chúng sanh không lănh hội giáo lư giải thoát, nào ngại không đủ nhân duyên thành lập giáo hội đạo tràng, nào ngại đệ tử xuất gia và tại gia không đủ khả năng đối thoại với những chủ thuyết ngoại đạo đối nghịch, nên Ngài chưa vội Niết bàn. Nhưng nay th́ số đông chúng sanh đă lănh hội được giáo lư giải thoát, giáo hội, đạo tràng đă được thành h́nh, tứ chúng: tỳ kheo, tỳ kheo ni, thiện nam, tín nữ đă đủ khả năng đối thoại với những chủ thuyết ngoại đạo và đủ sức thừa kế sự nghiệp truyền tŕ chánh pháp. Do đó, Ngài có thể Niết bàn v́ công tŕnh độ đời đă viên măn.

Sau giây phút hồi tưởng, Đức Tôn sư đi đến quyết định chọn ngày rằm tháng tư để tịch diệt. Sự quyết định tối hậu này đă khiến địa cầu rung chuyển, b́nh địa nổi phong ba, cây cối cúi đầu, đại dương gào thét, lưng trời biến thành màu đỏ, chim chóc bay tán loạn kêu lên những tiếng năo ruột vang cả núi rừng. Đại đức Ananđa thấy hiện tượng kỳ lạ, lập tức vào hầu Đức Tôn sư:

- Bạch Đức Thế Tôn, địa cầu đă xảy ra hiện tượng bất tường khiến đệ tử lo quá. Xin Đức Thế Tôn từ bi cho đệ tử biết rơ nguyên nhân.

Đức Tôn sư phán:

- Ananđa ơi, những trường hợp sau đây khiến cho địa cầu phải rung chuyển, đó là: ngày Phật đản sanh, Phật thành đạo, Phật chuyển Pháp luân, và ngày Phật quyết định Niết bàn.

Vừa nghe xong, Đại đức Ananđa không c̣n b́nh tĩnh được nữa, liền ôm chầm đôi chân Đức Tôn sư nước mắt tuôn rơi đầm đ́a. Qua tiếng nấc đứt quảng, Đại đức nghẹn ngào gượng bạch:

- Bạch Đức Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn thương xót đệ tử và chúng sanh mà tiếp tục duy tŕ mạng căn chớ vội Niết bàn.

Sự đau đớn tột cùng đă khiến Đại đức không nói thêm được lời nào.

Với nét mặt và ánh mắt b́nh lặng cố hữu, Đức Tôn sư phán:

- Ananđa ơi, muộn mất rồi. Đấng Như Lai không bao giờ hành động trái với điều tự hứa. Như Lai sẽ nhập Niết bàn vào ngày rằm tháng tư, nghĩa là c̣n đúng ba tháng nữa. Này Ananđa, Như Lai đă gợi ư cho ngươi ít nhất là 16 lần rằng: người có bốn thần lực, nếu muốn, có thể duy tŕ mạng căn đến 120 tuổi, nhưng ngươi im lặng không có phản ứng. Như Lai cũng định rằng, trong những lần ấy nếu ngươi yêu cầu, Như Lai sẽ từ chối tối đa hai lượt và đến lần thứ ba Như Lai sẽ nhận lời. Nhưng giờ đây th́ mọi việc đă an bài. Như Lai không c̣n đổi ư được nữa.

Im lặng một lúc Đức Tôn sư nói tiếp:

- Ananđa, ngươi nhớ chăng? Tại núi Kỳ xà quật (Gijjhakùta), tại hang đá Sú-ká-rí-kha-ta, và những lần khác: tại đại thọ Gô-tá-mí-ní-grô-dhí, tại hồ Sit-tá-păn-ná núi Vê-pha-rá, tại tảng đá đen núi Í-si-gí-lí, tại ngọn núi Síp-pí-sô-đi-ka rừng lạnh, tại chùa Tá-cô-đà-ra-má, tại chùa Trúc lâm (Veluvana), tại vườn xoài của danh y Kô-ma-rá-phắc-chá, và tại rừng Mắt-tá-kút-chí-mí-gá-đa-dá. Chính tại 10 địa điểm thuộc xứ Rà-já-gá-há này, Như Lai cũng gợi ư như vậy và ngươi cũng im lặng.

Sau đó, khi đến xứ Vesali, Như Lai cũng gợi ư tại 6 địa điểm nữa là: tại tháp Ú-đê-ná, tháp Săt-tam-bá, tháp Gô-tá-má-ká, tháp Bá-hú-pút-tá, tháp Sa-răn-đá và tháp Pa-va-lá nhưng ngươi vẫn tiếp tục im lặng. Đó là sự sơ sót của ngươi, vậy ngươi đừng khóc than nữa.

Ananđa ơi, giờ đây ngũ uẩn Như Lai như cỗ xe cũ, như thuyền lủng đáy, Như Lai đă quyết bỏ rồi. Vấn đề không thể kéo lại. Theo thông lệ, chư Phật không nói hai lời, không quyết định hai lần.

Ananđa này, Như Lai không phụ ngươi đâu. Ngươi hăy an tâm, đừng tủi thân khóc than nữa. Ngươi đă làm tṛn bổn phận một cách tốt đẹp. Vậy ngươi có quyền hoan hỉ và niềm tự hào sẽ an ủi ngươi.

Ananđa ơi, Như Lai đă từng nói với ngươi rằng, người đời phải bị chia ĺa tất cả nhân vật yêu quí một cách vĩnh viễn. Sự cách biệt phân ly là mức đến của kiếp người.

Tiếp tục hành tŕnh, Đức Tôn sư đến làng Phanh-đú-ga-má (Bhandugàma) và từ đó Ngài thẳng qua xứ Phô-gá. Tại những nơi tạm trú, Đức Tôn sư đều dùng th́ giờ ngàn vàng ấy giáo huấn các hàng tỳ kheo về xuất thế pháp là: giới, định, huệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến.

Đức Thế Tôn giải thích thêm:

- Này các tỳ kheo, giới là căn bản các hạnh lành, như trái đất là nơi dung thân của các loài động vật và thực vật. Người có giới sống thanh nhàn, thoải mái như ngôi nhà đă quét dọn sạch sẽ và trang trí mỹ thuật, tránh được sự phiền phức bởi rác rến và các đồ dơ uế, mất vệ sinh.

Nhờ giới sanh định. Người có định hằng sống an tịnh, trầm mặc và b́nh thản trước mọi chướng duyên, nghịch cảnh gây nên bởi 8 thế gian pháp (1). Lửa phiền năo dù nóng bức đến đâu cũng không đốt cháy được định tâm. Như ngôi nhà kiên cố, vách phênh chắc chắn, mái lợp kín đáo th́ không sợ nắng táp, mưa dầm, gió dữ.

Nhờ định phát huệ. Người có huệ là người nhận chân được sự thật của vạn hữu một cách thấu triệt, không lầm lẫn. Sự thật ấy là ba định lư bất kiến: chư hành vô thường, chư pháp vô ngă, tịch tịnh Niết bàn. Trí huệ nhận chân là ngọn gươm sắc bén vô song có thể đoạn ĺa gốc rể phiền năo là ái dục, sân hận và si mê một cách diệu dụng. Chân tâm đă được giới, định, huệ xây dựng, hậu thuẩn th́ kết quả là giải thoát toàn diện, vô cấu, vô nhiễm, thể nhập vào Phật tánh: thường, lạc, ngă, tịnh.

Chú thích: (1) Được lợi, mất lợi, được danh, mất danh, được khen, bị chê, gặp vui, bị khổ. Cũng gọi là Bát phong.

Này các tỳ kheo, người giải thoát sẽ tự ḿnh thưởng thức quả vị tuyệt vời của sự giải thoát. Họ có cảm giác của người t́m gặp kho tàng hoặc của bịnh nhân lâu ngày được b́nh phục. Người ấy biết được rằng các vi tế phiền năo đă bị tiêu diệt toàn bộ, duyên sanh không c̣n, sự sanh đă dứt và gánh nặng luân hồi đă được quăng xuống.

Nhờ thấm nhuần mưa pháp, một số lớn tỳ kheo được đắc đạo chứng quả.

Tin Đức Tôn sư sắp nhập diệt gây xúc động mănh liệt trong hàng Phật tử xuất gia và tại gia. Họ dụm năm tụm bảy bàn tán xôn xao, than vắn, thở dài, xót xa bi lụy. Riêng các bậc thánh nhân vô lậu th́ cảm nhận sâu xa định luật vô thường của vạn hữu.

Một vị tỳ kheo tên Thăm-ma-ra-má tự nghĩ: chỉ c̣n ba tháng ngắn ngủi, Đức Tôn sư sẽ nhập Niết bàn. Ta được xuất gia theo chánh pháp nhưng phiền năo ta vẫn c̣n. Vậy ta hăy tích cực công phu hành đạo và bằng mọi cách phải đạt thành quả La hán kịp lúc Đức Tôn sư c̣n tại thế. Quyết định xong, Đại đức tách rời hàng ngũ chúng tăng, t́m nơi thanh vắng, một ḿnh hành đạo.

Thấy Đại đức có cử chỉ lạ, các vị tỳ kheo cho rằng Đại đức vô t́nh không thương tưởng Đức Phật, bèn đem câu chuyện ấy bạch Phật. Đức Tôn sư cho gọi Đại đức đến và phán hỏi:

- Như Lai nghe rằng ngươi có hành động như vậy phải không?
- Bạch Đức Thế Tôn, phải.
- Tại sao ngươi hành động như vậy?
- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử nghĩ rằng, đệ tử được xuất gia đúng theo chánh pháp nhưng phiền năo vẫn c̣n. Cho nên đệ tử phải cố gắng hành đạo để sớm đắc quả kịp lúc Đức Thế Tôn c̣n tại thế. Và đệ tử cho rằng chỉ có cách cúng dường ấy mới gọi là cúng dường cao thượng.

Đức Tôn sư ban thưởng bằng tiếng "lành thay" ba lần. Đồng thời Ngài khuyên nhủ các vị tỳ kheo:

- Này các tỳ kheo, vị nào thương tưởng kính yêu Như Lai thực sự th́ vị ấy phải noi gương thầy Thăm-ma-ra-má. Hành động ấy mới đáng gọi là thờ kính cúng dường Như Lai cao thượng. Này các tỳ kheo, người ưa thích, nhớ tưởng và thực hành chánh pháp sẽ đạt đến cứu cánh Niết bàn.

Mặc dù vậy, các tỳ kheo vẫn bao quanh Đức Tôn sư trong suốt cuộc hành tŕnh. Thấy thế, Đức Tôn sư khuyên các vị nên t́m nơi thanh vắng để hành đạo cho mau giải thoát. Ngài nhấn mạnh:

- Này các tỳ kheo, trong các đạo chỉ có bát chánh đạo là quí nhất; trong các đế chỉ có tứ thánh đế là quí nhất; trong các pháp chỉ có pháp ly dục là quí nhất; trong loài người chỉ có Đức Như Lai là quí nhất. Các thầy hăy hành tŕ theo bát chánh đạo v́ chỉ có con đường độc nhất này mới đánh lạc hướng theo dơi của Ma vương. Các thầy hăy tích cực hành đạo để diệt khổ. Sự nổ lực là nhiệm vụ của các thầy, c̣n Như Lai chỉ là bậc đạo sư.

Đức Tôn sư gọi Đại đức Ananđa:

- Này Ananđa, chúng ta qua xứ Kú-sí-na-ra.

Đại đức tuyên bố cho chư tăng biết và cùng nhau tiếp tục hành tŕnh. Dọc đường, Đức Tôn sư mệt nhiều, nên dạy Đại đức Ananđa trải y Tăng già lê xếp thành bốn lớp cho Ngài nằm nghỉ.

- Này Anan- Đức Tôn sư nói thật nhỏ v́ mệt- Như Lai cảm thấy đuối sức. Bịnh củ tái phát trầm trọng, Như Lai khát nước quá. Ananđa t́m nước cho Như Lai uống đỡ khát.

Cơi ḷng tê tái, Đại đức nói như khóc:

- Bạch Đức Thế Tôn, 500 cỗ xe ḅ vừa đi ngang, nước sông đục cặn và dơ quá sức. Xin Thế Tôn ráng thêm chút nữa sẽ đến con sông Cá-cú-tha (Kakudha) nước vừa trong vừa ngọt.

- Không được đâu Ananđa. Như Lai khát nước lắm. Trong người nóng ran, cổ họng khô gắt. Ananđa đi mau, đừng chần chờ nữa.

Đại đức Ananđa thương Phật vô cùng, đành ḷng ôm bát đi múc nước dơ. Nhưng Phật lực quả thật phi thường. Nước đục, lẫn lộn bùn dơ tự biến thành trong và ngọt.

Sở dĩ bịnh căn tái phát trầm trọng là v́ khi Ngài ngự ngang xứ Pàvà, ngụ tạm tại vườn xoài của người thợ bạc tên Chun-đá (Cunda), được chủ vườn mời về nhà thọ trai và sau buổi ăn này, Đức Tôn sư bị bịnh kiết lỵ. Nguyên nhân Ngài mắc bịnh là do ḷng từ bi với hàng tỳ kheo. Ngài dạy thí chủ chỉ nên cúng riêng cho Ngài, c̣n dư ra th́ đem chôn bỏ v́ thức ăn ấy tương đối khó tiêu. Hành động này đă nói lên sự hy sinh tuyệt đối: thà thiệt ḿnh nhưng lợi người. Một tâm hồn như vậy chỉ có thể t́m thấy nơi Đức Phật hoặc nơi người mẹ ruột.

 

Đại đức Ananđa khóc kể

Thức ăn đă khiến chứng kiết lỵ tái phát đáng ngại. Mặc dù kiệt sức và đau đớn như ai bứt ruột, cắt gan, nhưng Đức Tôn sư quyết định chịu đựng không một lời rên xiết. Gương mặt yên như bàn thạch và tiếp tục cuộc hành tŕnh bằng chân đất.

Trên đường đi, Đức Tôn sư phải dừng nghỉ nhiều lần. Tại một địa điểm, dưới gốc cổ thọ, Đức Tôn sư dừng chân tạm nghỉ th́ có một thanh niên tên Búc-cú-sá từng là môn đồ của thầy A-la-rá (1) đi ngược chiều. Được gặp Đức Phật, chàng đến gần, bày tỏ sự ngưỡng mộ và ḷng thán phục trước sự trầm lặng phi thường của Ngài. Sau khi nghe Phật giảng về sự an tịnh, sự không xao động và sự vắng lặng, chàng phát tâm cúng dường Ngài hai bộ y màu vàng thật đẹp.

Chú thích: (1) Những ngày đầu t́m đạo, Đức Tôn sư cũng đă từng học đạo với vị này.

Theo lời Phật dạy, chàng dâng một bộ y cho Ngài và một bộ cho Đại đức Ananđa. Nhưng Đại đức đem bộ y của ḿnh mặc luôn vào cho Đức Phật. Đại đức Ananđa rất ngạc nhiên khi thấy nước da Đức Phật chiếu tỏa ánh sáng phi thường làm cho màu vàng của y bị mờ hẳn. Thấy chuyện lạ, Đại đức bạch hỏi. Đức Tôn sư dạy: có hai trường hợp mà màu da Như Lai rực sáng lạ thường, đó là đêm thành đạo và đêm Niết bàn.

Luôn tiện, Đức Tôn sư tuyên bố đêm ấy vào lúc canh ba Ngài sẽ nhập diệt giữa song long thọ (Sàlà) trong vườn của tiểu vương Malla xứ Kusinara. Công bố xong, Ngài cùng với Đại đức Ananđa ngự đến sông Cá-cú-tha. Sau khi tắm rửa sạch sẽ Ngài ngự vào vườn xoài và dạy thầy Chunđa, bào đệ Đức Xá lợi phất trải y Tăng già lê xếp đôi thành bốn lớp để Ngài tạm nghỉ và sau đó sẽ tiếp tục lên đường.

Lúc bấy giờ, Đức Tôn sư nghĩ đến người thợ bạc tên Cunda, một tấm ḷng chí kính, chí thiện, một sự cúng dường lịch sử nhưng hậu quả có thể trái ngược. Như Lai phải làm sáng tỏ vấn đề này. Nghĩ vậy, Đức Tôn sư bèn dạy Đại đức Ananđa:

- Này Ananđa, Như Lai ngại rằng, sau khi Như Lai Niết bàn, dư luận có thể đổ tội cho Cunda, khiến thí chủ phải ân hận vô ích. Này Ananđa, có hai trường hợp mà thí chủ cúng dường thực phẩm đấng Như Lai sẽ được phước quả vô lượng đó là: Ngày Như Lai thành đạo và ngày Như Lai nhập diệt. Trường hợp trước, sau khi thọ thực của nàng Sujàtà, Như Lai chứng được phiền năo Niết bàn; trường hợp sau, khi thọ thực của Cunda xong, Như Lai đạt được ngũ uẩn Niết bàn. Nếu sau này có dư luận bất lợi xảy ra cho Cunda th́ ngươi phải giải tỏa dư luận ấy. C̣n nếu chính Cunda v́ thiển nghĩ mà ân hận th́ ngươi cũng phải tuyên bố trung thực lời dạy của Như Lai trong vấn đề này để thí chủ yên tâm. V́ thực phẩm của Cunda là món ăn cuối cùng trong cuộc đời Như Lai, món ăn định mạng.

Sau đó, Đức Tôn sư cùng với Đại đức Ananđa và số đông tỳ kheo qua sông Hí-ranh-nhá-vá-ti (Hirannavati) th́ cũng vừa đến Kúsinara. Ngài ngự vào vườn cây Sala của tiểu vương Malla, dạy Đại đức Ananđa trải y Tăng già lê trên tảng đá giữa đôi cây song long thọ giao cành, rợp lá. Ngài nằm nghiêng tay phải, đầu day hướng bắc, mặt ngó hướng tây.

Lúc ấy từng đoàn nguời từ bốn phương tấp nập kéo đến đông vô số, khiến một chu vi rộng khuất tầm mắt mà không đủ chỗ chứa. Trước quang cảnh ấy, Đức Tôn sư để lời xây dựng Đại đức Ananđa:

- Này Ananđa, tứ chúng Phật tử cúng dường Như Lai bằng h́nh thức lễ vật không gọi là cúng dường cao thượng. Trái lại, người nào tích cực nghiêm tŕ chánh pháp, người ấy mới gọi là cúng dường Như Lai cao thượng.

Đại đức Ananđa bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, trước kia, mỗi lần măn hạ, chư tăng tứ phương đều về bái kiến và thỉnh giáo Đức Thế Tôn, nhưng nay Thế Tôn niết bàn th́ tăng chúng phải đến nơi nào để bái kiến?

- Này Ananđa, những địa điểm mà các ngươi có thể bái kiến, chiêm ngưỡng để tưởng nhớ Như Lai là:

1- Lumbini, nơi Như Lai đản sanh.
2- Bodhimandala, nơi Như Lai thành đạo.
3- Isipatanamigadàya, nơi Như Lai chuyển pháp luân.
4- Kusinàrà, nơi Như Lai niết bàn.

- Bạch Đức Thế Tôn, trong đạo tràng, hàng nữ Phật tử chiếm đa số. Vậy, chúng đệ tử phải đối xử thế nào cho hợp lẽ?
- Này Ananđa, đừng nh́n, đừng ngó là thượng sách.
- Nếu bắt buộc phải nh́n, phải ngó?
- Th́ đừng đối thoại.
- Nếu buộc phải đối thoại?
- Th́ nên cảnh giác cao độ, không nên dễ duôi, buông thả để cho tâm phân biệt ngự trị. Này Ananđa, sự giao du quá thân mật với nữ giới là điếu tối kỵ của phạm hạnh.
- Nhưng nếu giao du thân mật mà không để tâm phân biệt th́ có là điều tối kỵ hay không?
- Không, này Ananđa, ngươi c̣n nhớ chăng, Như Lai từng dạy rằng, ngoại cảnh đẹp, xấu không phải là điều ô nhiễm mà chính tâm phân biệt mới là điều ô nhiễm.

Đại đức Ananđa bạch hỏi tiếp:

- Bạch Đức Thế Tôn, sau khi Thế Tôn tịch diệt, nghi thức cung táng Thánh thể, chúng đệ tử phải làm thế nào, xin Thế Tôn từ bi chỉ giáo.

Đức Thế Tôn ngăn cản:

- Ananđa, chớ quá bận tâm về h́nh thức lễ nghi không cần thiết, hăy nổ lực thiêu hũy phiền năo trong mỗi oai nghi để chóng giác ngộ. C̣n vấn đề tang lễ là nhiệm vụ của hàng Phật tử tại gia.
- Bạch Thế Tôn, đă đành vậy, nhưng nếu họ hỏi th́ đệ tử phải trả lời ra sao?
- Này Ananđa, tang lễ dành cho đức chuyển luân vương ra sao th́ tang lễ dành cho Như Lai cũng vậy.
- Bạch Thế Tôn, nghi thức thế nào?
- Này Ananđa, thông lệ như vầy: Lấy vải trắng bao tṛn nhiều lớp, rưới nước hoa, liệm vào kim quan bằng sắt, dựng hỏa đài bằng các loại trầm kỳ rồi hỏa táng. Phần Xá lợi c̣n lại, th́ nhập tháp công để chiêm bái cúng dường.

Nhân tiện, Đức Tôn sư đề cập bốn hạng nhân vật xứng đáng lập tháp công để tôn thờ chiêm ngưỡng, đó là: Đức Toàn giác Phật, Đức Độc giác Phật, Đức Thinh văn giác và Đức Chuyển Luân Đại đế.

Nói xong, Đức Tôn sư yên lặng, Đại đức Ananđa không c̣n cầm ḷng được nữa, bèn lui ra đứng vịn thân cây gần đấy khóc than thảm thiết. Nước mắt chảy đầm đ́a đọng lại dưới cằm và nhỏ xuống từng giọt. Lá y càsa rung lên từng hồi theo tiếng nấc. Thân h́nh Đại đức mềm nhũn, không c̣n tự chủ nếu không nhờ vịn thân cây. Mặc dù cố gắng b́nh tỉnh nhưng bất lực, v́ sự đau đớn cùng tột đă dồn ép khiến một vị trưởng lăo 80 tuổi đă đắc quả nhập lưu, phải khóc than bi lụy. Sự kiện này chứng tỏ ḷng thương kính Đức Phật của Đại đức là tuyệt đối. Trong giây phút, h́nh ảnh tuyệt vời, kỷ niệm tuyệt đẹp trong quá khứ mà Đức Phật và Đại đức đă từng đồng lao, cộng lạc suốt 25 năm dài chu du truyền đạo hiện lên thật rơ trong kư ức Đại đức. Quá tŕnh đă buộc cuộc sống Đức Phật và Đại đức sanh tử có nhau. Nhưng định mệnh khắc nghiệt cướp mất vĩnh viễn một bậc thầy quí kính, một người cha từ bi, một người bạn trí, đức toàn vẹn, một bậc Đạo sư thánh thiện ra khỏi cuộc đời Đại đức, một đạo nghiệp chưa tṛn, một công phu chưa măn th́ bảo sao Đại đức không tê tái cơi ḷng, không nát tan tất dạ. Qua tiếng nấc nghẹn ngào, Đại đức kể lể:

- Thế Tôn hỡi, nở nào bỏ đệ tử ra đi chẳng chút đoái hoài. Từ đây, đệ tử không c̣n nh́n thấy Đức Thế Tôn nữa. Thôi đành vĩnh biệt ngàn thu. Tâm hồn đệ tử c̣n dẫy đầy phiền năo. Rồi đây, trên đường liễu chứng, lấy ai là người hướng dẫn. Đối với Thế Tôn, đệ tử bé bỏng quá, mới chập chững biết đi. Thế Tôn nỡ nào bỏ đệ tử cho đành.

Thấy vắng mặt Đại đức Ananđa lâu, Đức Tôn sư phán hỏi. Khi biết được Đại đức khóc kể thảm thiết, Đức Tôn sư cho gọi vào. Đại đức vào hầu mà mặt mày bơ phờ, mắt c̣n mờ lệ. Đức Tôn sư phủ dụ:

- Ananđa này, ngươi chớ quá khóc than bi lụy. Như Lai đă chẳng từng nói với ngươi rồi sao, rằng người đời phải bị chia ĺa tất cả nhân vật yêu quí và ra đi vĩnh viễn. Trên thế gian này, không có định luật tồn tại bất biến. Sanh diệt là sự luân phiên liên tục của gịng đời tuôn chảy thiên thu.

- Bạch Thế Tôn, đệ tử nghĩ suốt bao năm theo hầu Thế Tôn như h́nh với bóng, nhưng rồi từ đây đệ tử sẽ theo hầu ai, đệ tử sẽ sống một ḿnh cô đơn chiếc bóng. Nghĩ đến đó là đệ tử không cầm được nước mắt.

Đức Thế Tôn khích lệ:

- Này Ananđa, ngươi đă dày công hành tŕ ba la mật, đă làm tṛn bổn phận đối với Như Lai một cách tốt đẹp. Thân, khẩu, ư toàn thiện. Ngươi đừng buồn tủi. Hăy tích cực công phu hànhh đạo. Sau khi Như Lai tịch diệt không lâu, ngươi sẽ đắc quả thánh vô lậu.

Trong giây phút vô giá này, Đức Tôn sư tuyên dương công trạng Đại đức Ananđa. Ngài phán:

- Này các tỳ kheo, Ananđa bậc trí thức, thông suốt và quán triệt, phục dịch Như Lai vô cùng cẩn trọng, chu đáo. Các vị thị giả của chư Phật quá khứ cũng không hơn được. Ananđa điều hành phật sự có kết quả, biết thời cơ, thích nghi với mọi từng lớp, mọi hoàn cảnh, khả ái, đáng cho mọi người thân cận. C̣n tài thuyết pháp th́ người nghe không biết chán. Này các tỳ kheo, Ananđa quả thật là một người tuyệt hảo.

Đại đức Ananđa nén ḷng xúc cảm, giọng nói run run:

- Bạch Đức Thế Tôn, Thế Tôn là vị chuyển luân pháp vương, đă thiết lập giáo truyền, là pháp vương của các quốc vương trên quả địa cầu, do đó, sự lựa chọn địa điểm Kusinara để nhập Niết bàn sợ e không xứng đáng, xin Đức Thế Tôn hoan hỉ chọn địa điểm khác như: Ra-já-gá-há, Sa-văt-thi. Châm-pa, Sá-kê-tá, Kô-sâm-bi, hoặc Ba-ra-ná-si. V́ những nơi ấy, vua, quan, bá hộ, thương gia, thân hào, nhân sĩ đa số là đệ tử của Thế Tôn, họ sẽ cử hành tang lễ trang nghiêm và long trọng hơn.

- Này Ananđa, ngươi chớ quá bận tâm lo nghĩ. Đời sống Như Lai là đời sống gương mẫu. Ngũ uẩn tuy nhập Niết bàn nhưng đức lành và đạo nghiệp Như Lai vẫn c̣n sống măi với thời gian. Ananđa ơi, mục đích Như Lai xuất thế là để cung ứng phúc lạc cho tất cả pháp giới chúng sanh. Sự kiện sau đây ngươi nên biết. Đó là, Như Lai đản sanh tại vườn Lumbini, thành đạo tại rừng Uruvelà, thiết lập giáo hội đạo tràng tại rừng Í-sí-pá- tá- ná- mí-đá-ya, và nơi an nghĩ cuối cùng của Như Lai là vườn Long thọ này. Tất cả, đều là những địa điểm lộ thiên. Hơn nữa, trong quá khứ, Kú-sí-ná-rá đă từng là một siêu cường do đại đế chuyển luân vương Má-ha-sú-đás-sá-ná cai trị, đế kinh là Kú-sa-vá-ti. Nước giàu, dân mạnh, lạc nghiệp, âu ca, tài tử giai nhân dập d́u xuôi ngược, cha mẹ hiền lành, con cái hiếu để, xă hội đạo đức, văn hóa quang minh, kinh tế thạnh vượng, chính trị tuyệt hảo. Đại đế Má-ha-sú-đás-sá-ná chinh phục thuộc địa không bằng vũ lực, mà bằng đạo đức và t́nh người.

Ananđa ơi, thời vàng son của Đại đế Má-ha-sú-đás-sá-ná nay c̣n đâu. Tất cả là bóng mờ sương khói. Cái hiện thành và tiêu tán chỉ là sự thay đổi liên hồi của nhân duyên bất tận, và cái định luật vô thường ấy nay đă đến Như Lai cũng phải đồng chung số phận.

Đức Tôn sư dạy Đại đức Ananđa thông báo ngày giờ và địa điểm Niết bàn đến tiểu vương Mallá. Tin này khiến nhà vua và hoàng thân quốc thích, văn quan, vơ tướng vô cùng xúc động. Họ khóc kể như người thân yêu nhất đời sắp vĩnh biệt họ. Các bà mạng phụ phu nhân th́ xơa tóc khóc than thảm thiết. Họ đều đưa tay lên trời gào thét:

- Đức Thế Tôn hỡi sao vội ra đi! Một v́ sao sáng sắp ĺa ngôi. Cặp mắp của nhân loại sẽ vĩnh viễn nhắm lại.

Họ kéo nhau theo chân Đại đức Ananđa, vừa đi vừa khóc kể. Đại đức Ananđa sắp xếp cho họ được ưu tiên bái kiến Đức Tôn sư lần chót, và sau đó, họ được hướng dẫn đến trại tiếp tân. Họ tiếp tục khóc kể suốt đêm, không ngủ. Thật là một đêm dài vô tận, một biến cố lớn nhất trong lịch sử loài người.

 

Tại vườn Long Thọ

Trăng rằm chiếu ánh sáng ngọc ngà xuống trần gian. Một ánh sáng huyền dịu, bàng bạc và mông lung. Vườn cây Long thọ cũng được ánh trăng chiếu cố. Ánh trăng nhuộm không đều có nơi màu ngà, có nơi màu đen khiến thành loang lổ.

Gió đêm thổi nhẹ từng hồi như mơn trớn. Cành lá Long thọ lay chuyển nhịp nhàng trông rất đẹp mắt. Quang cảnh im lặng lạ thường mặc dù hàng vạn người có mặt khắp xung quanh. Có nghe chăng là tiếng nấc nghẹn ngào và tiếng thút thít nhỏ to, xa gần, giữa đêm trường cô tịch. Ngay lúc ấy, bỗng xuất hiện một chàng thanh niên từ ngoài đi vào. Khi đến gần, chàng ta cho biết ư nguyện được bái kiến Đức Phật. Đại đức Ananđa ra tiếp và khuyên đừng làm kinh động Đức Tôn sư.

Chàng thanh niên năn nỉ:

- Bạch Đại đức, xin Đại đức hoan hỉ cho đệ tử vào bái kiến để được bạch hỏi một vài điều thắc mắc.

- Đạo hữu, xin đạo hữu đừng làm kinh động Đức Thế Tôn v́ Người đang mệt nhiều và sắp tịch diệt vào cuối canh ba này.

- Bạch Đại đức, cơ hội của đệ tử chỉ c̣n có phút giây này. Xin Đại đức từ bi tiếp độ cho đệ tử được vào bái kiến lần chót.

Đại đức Ananđa một mực khước từ. Chàng thanh niên một mực năn nỉ. Đức Tôn sư nghe được bèn dạy Đại đức Ananđa cho phép chàng vào gặp. Với cử chỉ vô cùng khiêm cung Sú-phát-đá qú nghiêng ḿnh gần thiền sàng, cẩn bạch:

- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử tên Sú-phát-đá, một du sĩ mới tập sự hành đạo, được nghe tôn danh quí đức của Thế Tôn từ lâu, song chưa có dịp bái kiến. Hôm nay cơ hội ngàn vàng này, xin Thế Tôn cho phép đệ tử được hỏi vài điều thắc mắc.

- Được. Sú-phát-đá hỏi đi.

- Bạch Thế Tôn, các vị giáo chủ trong nhóm Lục sư là: Bu-rá-ná-cá-sá-pá, Măc-khá- lí-gô-sa-lá, Á-chí-tá-kê-sá-căm-bá-lá, Bá-cut-thá-cach-cha-dá-ná, Sanh-cha-dá- vê-lăt- thá-pút-tá, và Ní-găn-thá-na-đa-pút-tá được số đông quần chúng tôn sùng cúng dường, vậy họ có phải là Alahán hết phiền năo hay không?

- Có phải đây là vấn đề chánh yếu thúc đẩy ngươi đến gặp Như Lai?

- Bạch Đức Thế Tôn, đúng vậy.

Đại đức Ananđa lấy làm băn khoăn hết sức v́ câu hỏi của Sú-phát-đá hoàn toàn vô bổ. Ananđa vừa định mời Sú-phát-đá ra ngoài th́ Đức Tôn sư dạy:

- Sú-phát-đá, ngươi không nên quan tâm đến vấn đề này. Th́ giờ của Như Lai cũng như ngươi c̣n quá ít. Ngươi nên hỏi những điều ích lợi cho bản thân.

- Vậy đệ tử xin hỏi 3 điều:

1- Có dấu chân nào trong hư không?
2- Ngoài chánh pháp có sa môn hay không?
3- Các hành có thường hay không?

Đức Tôn sư đáp:

- Không có dấu chân trên hư không; ngoài chánh pháp không có sa môn; các hành đều vô thường.

Với Phật nhăn, Đức Tôn sư nhận thấy căn lành thánh đạo của Sú-phát-đá, bèn dạy thêm:

- Này Sú-phát-đá, thánh đạo tám ngành là con đường cao thượng, có khả năng đưa hành giả đến Niết bàn. Bao giờ c̣n người hành tŕ bát chánh đạo th́ bấy giờ sự liễu chứng quả vị La-hán vẫn c̣n.

Lănh hội được giáo lư căn bản, Sú-phát-đá phát tâm xin xuất gia, Đức Tôn sư cho biết, truyền thống giáo hội đă được qui định: du sĩ ngoại đạo muốn xuất gia phải chứng tỏ thiện chí và sự quyết tâm của ḿnh bằng chấp tác cấm pḥng nghĩa là phải sống biệt trú trong thời gian tối thiểu bốn tháng rồi mới được xuất gia.

Sú-phát-đá tỏ ra hết sức hoan hỉ và nói rằng: ḿnh sẵn sàng chấp hành qui luật này bốn năm. Đức Tôn sư thấy rơ đạo tâm kiên cố và duyên lành thánh quả bèn dạy Đại đức Ananđa làm lễ xuất gia và dạy đề mục tham thiền cho Sú-phát-đá.

Vị tân thọ tỳ kheo này tích cực kinh hành niệm đề mục suốt canh hai với sự quyết tâm là phải đắc đạo chứng quả trước giờ tịch diệt của Đức Tôn sư. Nên dù mệt mỏi vô cùng, thầy vẫn không đ́nh chỉ kinh hành. Đầu canh ba, thầy ngước nh́n ánh trăng, bỗng bắt gặp một áng mây che, khiến ánh trăng tối sầm lại, nhưng không lâu áng mây trôi qua, vầng trăng trở lại sáng đẹp lạ lùng. Sự kiện này đă giúp thầy nhận chân được nguyên lư vạn pháp rằng; tâm vốn sáng nhưng v́ áng mây phiền năo làm cho lu mờ. Nếu phiền năo không c̣n, th́ tuệ tâm tự nhiên hiển lộ và sẽ nhận chân được ba định lư bất biến là: các hành vô thường, các pháp vô ngă, tịch tịnh Niết-bàn. Nhờ huệ Minh sát, thầy đắc quả La-hán luôn cả lục thông trong giây phút ấy.

Thầy bèn đ́nh chỉ kinh hành, đến đảnh lễ dưới chân Đức Tôn sư và ngồi im lặng.

Ngay lúc ấy, Đức Thế Tôn tỏ lời hơn thiệt với Đại đức Ananđa:

- Này Ananđa, sau khi Như Lai tịch diệt, các ngươi có thể nghĩ rằng: sẽ không c̣n đối tượng hướng dẫn và giáo hóa các ngươi. Ananđa ơi, các ngươi hăy bảo cho nhau biết rằng: pháp luật mà Như Lai đă giải bày sẽ là đối tượng hướng dẫn và giáo hóa các ngươi, các ngươi hăy nương nhờ chánh pháp.

Điều thứ hai, khi Như Lai tại thế, các tỳ kheo xưng hô với nhau bằng danh từ hiền giả (Avuso) một cách đồng hóa. Nhưng sau khi Như Lai tịch diệt, các ngươi phải áp dụng lối xưng hô như vầy:

- Vị cao hạ gọi vị thấp hạ là Avuso (hiền giả).
- Vị thấp hạ phải gọi lại là Bhante hoặc Avasnà (bạch Ngài hoặc bạch Đại đức)

Điều thứ ba: tỳ kheo Channa ngă mạn, khó dạy v́ ỷ ḿnh từng là thần tử cố cựu hầu cận Như Lai. Sau khi Như Lai tịch diệt, giáo hội nên tuyên phạt phạm tác (Brahmadanta) nghĩa là chư tăng không lư sự đến ngôn ngữ, hành vi và tư tưởng của ông ta. Điều phạt này đồng nghĩa với sự bất hợp tác. Đây là một h́nh phạt nặng nề nhưng vô hại.

Điều thứ tư: những giới luật mà Như Lai đă chế định có rất nhiều. Nhưng sau khi Như Lai tịch diệt, v́ thích ứng với hoàn cảnh xă hội, nếu tăng đồng ư có thể bỏ bớt những điều luật tương đối không quan trọng để thích nghi với trào lưu tiến hóa.

Đức Thế Tôn dạy tiếp:

- Này các tỳ kheo, các thầy có điều chi chưa được thỏa măn liên quan đến Phật, Pháp , Tăng, đạo, quả hoặc pháp môn tu chứng, th́ nên hỏi để tránh sự ân hận, hối tiếc về sau rằng: lúc ấy, ở trước mặt Đức Thế Tôn mà ḿnh không ch̔