|
|
|||
|
|
T́nh đời, Ư đạo
| ||
|
|
Ăn cơm có canh tu hành có bạn. Trong hầu hết hoàn cảnh sống, sự kết giao thân cận để có đối tượng tôn thờ, nương tựa là điều tối cần. Thiếu đối tượng, chúng ta sẽ lạc lơng, bơ vơ, cuộc sống trở thành mất hương vị, vô bổ. Bản chất đời sống là t́nh cảm. Lộ tŕnh thành đạt nguyện ước đời sống là lư trí. T́nh cảm thiếu lư trí là t́nh cảm ích kỷ, yếu hèn. Lư trí thiếu t́nh cảm là lư trí lập dị, cực đoan. Sự dung ḥa được hai yếu tố cơ bản này là một đóng góp lớn trong công tŕnh thực hiện một thế giới "Nhân gian cực lạc".
Nếu cuộc đời có cả mật ngọt và mật đắng, có nghĩa địa và có vườn hoa th́ tại sao ta không áo mật ngọt ngoài viên thuốc đắng; và tại sao ta không thiết lập vườn hoa tại nghĩa địa để làm dịu quang cảnh chết chóc thê lương, hoặc tại sao ta không trồng hoa dọc theo con đường đưa đến nghĩa trang để mọi người thưởng ngoạn. Cái ư nghĩa đích thực của cuộc sống là ở chổ đó.
Nếu biển cả có những hải triều gào thét liên hồi, xô đẩy mảnh liệt, th́ cũng có những cánh buồm căng gió nhảy sóng nhịp nhàng, nhấp nhô ẩn hiện khiến nhà thơ tức cảnh sanh t́nh.
Cái vui của đời tại ḿnh ích kỷ muốn ôm giữ làm của riêng nên nguồn vui không được rộng tỏa, cái vui bị giới hạn, không được cùng nhau san sẻ. C̣n cái khổ th́ cố t́nh xô đuổi một ḿnh, xô đuổi không được th́ bực ḷng khổ sở v́ thiếu người thông cảm sớt chia. Chúng ta quên rằng cái vui th́ bao la như bầu trời, cái khổ th́ mênh mông như biển cả. Hăy để bầu trời cho không gian, hăy để biển cả cho nguyên vị. Đừng ngây thơ phí sức trong hành động lấp bể vá trời.
Đi ngược sự thật là chuốc lấy đau khổ. Thái độ khôn ngoan để khỏi bị đau khổ là dám chấp nhận sự thật, hoặc không chối bỏ sự thật. Mà sự thật đấy là có cả mật ngọt và mật đắng trong cuộc đời.
Để có đối tượng tôn thờ, nương tựa, chúng ta hăy quay về chánh pháp, quay về cuộc sống nội tâm. Bản tánh nguyên thủy vốn trong sáng nhưng v́ chúng ta vô t́nh chối bỏ không bám víu để làm đối tượng nên chúng ta bị đẩy ra khỏi ánh sáng. Do đó, đời sống mịt mờ, tương lai tắt nghẻn.
Như đă nói: t́nh cảm và lư trí là hai yếu tố vô cùng quan thiết. Phối hợp nhịp nhàng được cả hai là chúng ta đă có đối tượng sống.
T́nh cảm và lư trí từ con người mà có. Vậy đối tượng cuộc sống là con người. Đức Phật là chứng nhân đă dung hợp và thực nghiệm có kết quả.
Sự dung hợp của Đức Phật không có tính cách cố định. Không nhất đáng lư trí phải thắng t́nh cảm hay ngược lại. Mà tất cả tùy thuộc nhân duyên. Nếu nhân duyên thích hợp với t́nh cảm th́ Ngài dùng t́nh cảm trước, c̣n nhân duyên ứng dụng với lư trí th́ Ngài áp dụng lư trí. Cái trước và cái sau của Đức Phật được thể hiện một cách diệu dụng.
V́ vậy, trên phương diện nhập thế dẫn đạo, Đức Phật và hàng môn đệ cũng linh động khế lư tùy cơ. Trường hợp Đức Phật nhất quyết không chấp nhận dùng cháo của Đại đức Ananda, không nhận thực phẩm của thầy Subhadda v.v... chứng tỏ thái độ cứng rắn, dùng lư trí trước t́nh cảm. Trường hợp Ngài đích thân qua Tây cung để an ủi Da-du-đà-la hoặc cho phép thiếu nữ Kokilà vào hầu v.v... chứng tỏ thái độ mềm dẽo, dùng t́nh cảm trước lư trí.
Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Hàng môn đệ của Ngài cũng đă thành công nhờ nguyên tắc căn bản: "Tùy duyên bất biến" này. Điển h́nh là Đại đức Ananđa mà nội dung quyển sách nhỏ này đề cập đến một phần lớn. Chẳng hạn như lúc c̣n là công tử, Đại đức cũng đă cứng rắn và quyết liệt trong vấn đề cử phái đoàn đi thỉnh Phật, và quyết định một ḷng xuất gia theo Phật. Sau khi xuất gia, Đại đức đă noi gương Đức Phật trong công cuộc độ đời. Có lúc Đại đức tỏ ra cứng rắn dứt khoát như trường hợp quyết hy sinh mạng sống thay cho Đức Phật. Sự quyết tâm bất chuyển của Đại đức đă được minh định như sau khi Đức Phật 3 lần bảo lùi lại sau mà Đại đức vẫn bất động trong tư thế quyết tử. Đây là sự dung hợp t́nh cảm lư trí một cách nhịp nhàng trong sự rung cảm chân thành của con tim và sự khẳng định thuần lư của khối óc.
Có khi Đại đức phải khổ cực trong vấn đề tiếp độ mà lộ tŕnh được dẫn đầu bằng t́nh cảm. Chẳng hạn như thái độ thực sự mềm dẽo của Đại đức trong câu chuyện tiếp độ thiếu nữ Kokilà, thái độ tích cực năn nỉ Đức Phật cho phép nữ giới được xuất gia, thái độ chịu khó ngồi nghe hoàng tử Tứ Binh kể chuyện t́nh ái v.v... Tất cả biểu lộ khả năng tiếp nhận để khơi nguồn cho gịng suối giác ngộ. Và cũng chính đó là những nét độc đáo, thực tế, thực nghiệm, và thực chứng của Đạo Phật.
Thân thế, sự nghiệp và công tŕnh đóng góp lớn lao cho Đạo pháp của Đại đức đă được ghi đậm trong trang sử đạo, sáng ngời qua thời gian và không gian.
Chúng tôi nhận thấy tác phẩm hữu ích có tánh cách thời đại nên cố gắng soạn dịch. Về nội dung và chương mục th́ chúng tôi có mạn phép bỏ bớt để phù hợp với tâm t́nh của người Việt Nam.
Chúng tôi cảm thấy ngần ngại, băng khoăn trong việc thời đại hóa những sự kiện liên hệ đến một nhân vật lịch sử, một vị Thánh Tăng như Đại đức Ananda.
Tuy nhiên, chúng tôi tự biện hộ rằng dù sao quyển sách nhỏ này cũng góp phần khiêm tốn trong việc đầu tư kiến thức đạo đức vào đời sống anh, chị, em thanh niên, thiếu nữ có dịp thưởng ngoạn sắc hương của vườn hoa đạo.
Tất cả sự kiện được mô tả ở đây là những tấm gương sáng phản ảnh trung thực t́nh người, t́nh thầy tṛ, t́nh đạo bạn. Do đó, chúng tôi đặt tên quyển sách: "T́nh Đời, Ư Đạo".
Thích Hộ Giác
Một Tâm Hồn
Có hai vị Sa-môn đi ngang qua cánh rừng và đang tiếp tục trên lộ tŕnh bằng phẳng. Vị đi trước sắc diện hồng hào, nghi dung trang nhă, phong điệu uy nghiêm, đáng cho mọi người chiêm ngưỡng. Lá y màu vàng bằng vải thô nhưng cũng đủ thanh lịch.
Vị đi sau tuy không phương phi, uy dũng như vị đi trước nhưng tương đối cũng trang nghiêm phong nhă. Khoảng cách giữa hai vị vừa vặn, không quá xa, không quá gần.
Khi đến khúc đường rẻ đôi, vị đi trước vừa định quẹo phải th́ vị đi sau liền lên tiếng:
- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử hữu sự rẻ trái.
- Này Na-gá-sá-ma-lá, không nên. Như Lai có duyên sự quan trọng cần phải độ sinh ở phía tay phải.
- Đệ tử hữu sự muốn rẻ trái.
Đức Phật năn nỉ:
- Này Nagasamala, đừng làm như vậy, hăy theo Như Lai đi về tay phải.
Mặc dù Đức Phật đă ba lần ngăn cản nhưng Nagasamala không tuân lời. Cuối cùng, thầy bỏ bát Đức Phật giữa đường và liền đi về tay trái theo sở thích. Đức Phật lượm bát, một ḿnh thui thủi hướng về phía tay mặt.
Một lần khác, thầy Mêkhida làm thị giả, theo Đức Phật đi qua làng Chanh-tu, tỉnh Ba-chi-ná-oăn-sá. Buổi sáng, thầy đi khất thực. Lúc trở về, thấy một vườn xoài xum xuê, mát mẻ, thầy nảy sanh ư định đến đây tham thiền, bèn bạch xin phép Đức Phật.
Đức Phật khuyên ngăn ba lần.
Nhưng thầy Mê-khí-dá một mực cải lời, bỏ Đức Phật một ḿnh và ra đi về hướng vườn xoài để hành đạo. Song thầy hoàn toàn thất bại. Tâm thầy xáo trộn, vọng động không ngừng. Các tà tư duy, như tư duy về ái dục, về nhiễu hại, về oán thù, nổi lên đột phá dữ dội, dù trạng thái yên lặng tạm thời, thầy cũng không t́m được.
Cuối cùng đành phải trở về lễ Phật. Đức Phật chẳng những không để tâm về những hành động nông nổi gần như phạm thượng của thầy mà trái lại c̣n dùng lời từ mẫu khuyên lơn:
-Mê-khí-dá ơi, tâm vốn loạn động, khó giữ, khó dạy. Bậc trí tuệ tích cực uốn nắn, khiến nó phải thuần thục như tay thiện xạ uốn nắn mũi tên. Mê-khí-dá này, tâm hằng chạy theo nhập cuộc ngoại cảnh nhất là ngũ dục như cá thích nước. Do đó, nếu bị bắt lên bờ th́ nó dăy dụa không yên. Tâm tuy khó dạy, nhưng nếu dạy được th́ sẽ hàng phục được Ma Vương.
Sự thật Đức Thế Tôn nào muốn ngăn cản công tŕnh tu chứng của môn đồ, nhưng v́ thấy rỏ căn cơ chưa đến thời kỳ liễu ngộ, nên Ngài mới khuyên ngăn đó thôi.
Suốt 20 năm đầu kể từ ngày thành đạo, khoảng thời gian 35 đến 54 tuổi Đức Phật không có vị Thinh văn nào làm thị giả cố định: khi thầy U-bá-va-nạ, khi thầy Na-ghí-tá, khi thầy Su-năc-khăt-tá, khi thầy Sa-gá-tá, khi thầy Rathá, khi thầy Na-gá-sá-ma-lá hoặc thầy Mê-khí-dá đă hành động nông nổi như vừa lược kể và, c̣n có Sadi Chuôn-tá, bào đệ của Ngài Đại đức Xá Lợi Phất nữa.
V́ không có thị giả phục dịch thường xuyên, nên Đức Phật phải chịu cực khổ vô cùng. Các vị thị giả bất đắc dĩ cứ thay nhau phục dịch Ngài một cách gượng gạo, tắt trách.
Vấn đề thị giả là một sự cần thiết, hợp lư, v́ Đức Phật có rất nhiều Phật sự phải làm, một ḿnh không thể hoàn tất mọi việc nên Ngài rất cần thị giả. Chẳng hạn như ngoài 5 điều thường hành Phật sự có tánh cách cập nhật hóa Ngài c̣n phải họp tăng, tiếp khách tứ phương, từ hàng vua chúa thượng lưu đến hàng thường dân lao động, từ bậc xuất gia đến hàng cư sĩ nhất là nữ Phật tử. Tư cách một vị Phật tổ không cho Ngài tiếp khách nữ một ḿnh. Đó là chưa nói đến thỉnh thoảng Đức Phật nhập thất, không tiếp bất cứ ai. Trường hợp ấy, lẽ dĩ nhiên, mọi Phật sự đều do thầy thị giả xử lư.
Vấn đề thị giả quan trọng và cần thiết là như vậy. Chúng ta không nên vô t́nh hiểu sai hoặc cố t́nh xuyên tạc cho rằng Đức Phật muốn quan trọng quá cá nhân mà mang tội.
V́ những lư do vừa kể, có một lần, tại Kỳ Viên Tịnh xá, kinh đô Sa-quách-thi, xứ Cô-sa-la trước số đông chư vị Tỳ kheo nhất là các vị Tôn túc trưởng lăo, có cả nhị vị Đại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, Đức Phật đề cập đến vấn đề thị giả:
- Này các Tỳ kheo, Như Lai đă già rồi, một số các thầy v́ sở thích riêng tư nên đă bỏ Như Lai một ḿnh hoặc bỏ y bát của Như Lai dưới đất rồi ra đi một cách thản nhiên. Do đó, Như Lai yêu cầu chư tăng tuyển chọn cho Như Lai một thị giả cố định.
Chư tỳ kheo vô cùng xúc động, Đại đức Xá Lợi Phất lên tiếng trước nhất xin t́nh nguyện làm thị giả.
Đức Phật bày tỏ sự hoan hỉ và dạy:
- Này Xá Lợi Phất, không nên đâu. V́ thầy ở nơi nào th́ đem lợi lạc đến nơi đó. Lời giảng dạy của thầy không khác lời dạy của Như Lai. Thầy có khả năng chuyển Pháp luân như Như Lai. Những người được thân cận đàm đạo với thầy cũng như được thân cận đàm đạo với Như Lai.
Chư Đại đức Trưởng lăo khác cũng t́nh nguyện xin làm thị giả, nhưng Đức Phật đều khước từ. Chỉ c̣n một ḿnh Đại đức Ananđa ngồi yên lặng. Đại đức Xá Lợi Phất khuyến khích:
- Thầy Ananđa, tại sao thầy ngồi yên lặng?
- Bạch Đại đức, chức vụ mà ḿnh van xin hoặc t́nh nguyện, tôi tưởng không được cao quí mấy. Vả chăng, Đức Thế Tôn đă biết rơ tâm trạng của tôi. Nếu thấy được, Đức Thế Tôn sẽ chỉ định tôi trong chức vụ ấy. Thiện chí cũng như t́nh cảm của tôi thế nào, Đức Thế Tôn đều quán thấu.
Hội trường im lặng. Không một cử động. Không một lời nói. Một sự im lặng tuyệt đối gần như hội trường không có người.
Giữa không khí ấy, Đức Phật long trọng xác nhận vai tṛ Đại đức Ananđa:
- Này các Tỳ kheo, Ananđa đă có ư nguyện làm thị giả Như Lai từ lâu. Sự xác nhận hôm nay chỉ nhằm mục đích công khai hóa vai tṛ thị giả của Ananđa mà thôi. Bắt đầu từ giờ phút này, Ananđa là thị giả chính thức và cố định của Như Lai.
Cử chỉ này quả thật vô cùng đẹp đẽ. Thật ra, Đức Phật không cần công khai tuyên bố vai tṛ thị giả của Đại đức Ananđa mà chỉ cần chọn riêng cũng được. Nhưng Đức Phật có ư tuyên dương thiện tâm, thành ư của Đại đức, đồng thời chính thức hóa một vai tṛ quan thiết, có tánh cách cố định. C̣n trên thực tế, th́ Đại đức Ananđa đă lập công bồi đức, tŕ hành Ba-la-mật trong nhiều trăm kiếp cũng chỉ để đạt thành hạnh nguyện được làm thị giả, một chức vụ tuy không lớn lao nhưng vô cùng danh dự. Đại đức Ananđa là mẫu người tự trọng, nh́n xa thấy rộng, khế lư, khế cơ. Cho nên, sau khi được Đức Phật và chúng Tăng giao phó trọng trách, bèn bạch Đức Phật xin được đặc miễn những trường hợp sau:
1- Xin Đức Phật đừng ban y mới, đẹp và đắt giá cho Ananđa.
2- Đừng ban thực phẩm cao lương mỹ vị.
3- Đừng cho Ananđa ngụ chung tịnh thất.
4- Đừng cho Ananđa tháp tùng đến những địa điểm mà Đức Phật đă hứa khả.
- Này Ananđa, ngươi nhận thấy lợi ích thế nào mà xin đặc miễn 4 điểm này?
- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin đặc miễn như vậy là để ngừa những lời b́nh phẩm cho rằng đệ tử phục dịch Đức Thế Tôn chỉ v́ lợi lộc và danh vị.
Đại đức Ananđa bạch tiếp:
- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin Đức Thế Tôn ban cho những đặc ân sau đây:
1- Xin Đức Thế Tôn tùy thuận quang lâm đến những nơi mà đệ tử đă hứa.
2- Xin cho đệ tử được phép tiến dẫn Phật tử vào bái kiến Đức Thế Tôn.
3- Cho phép đệ tử bạch hỏi những điều hoài nghi trong mọi trường hợp.
- Này Ananđa, ngươi thấy lợi ích thế nào mà yêu cầu như vậy?
- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử yêu cầu như vậy là để ngăn ngừa những lời chỉ trích, cho rằng những vấn đề có tánh cách giao tế mà đệ tử cũng không làm được, th́ giữ chức vụ thị giả làm ǵ?
Đại đức bạch tiếp:
- Bạch Đức Thế Tôn, c̣n một đặc ân cuối cùng, xin Đức Thế Tôn từ bi chấp thuận cho luôn, đó là:
4- Xin Đức Thế Tôn hoan hỉ nói lại những bài pháp mà đệ tử vắng mặt không được nghe.
- Này Ananđa, ngươi nhận thấy lợi ích thế nào mà yêu cầu như vậy?
- Bạch Đức Thế Tôn, cũng đều ngăn ngừa những lời bàng quang chê trách rằng: đệ tử theo hầu Đức Thế Tôn như h́nh với bóng, nhưng khi được hỏi đến kinh, luật, kệ ngôn hay tích truyện th́ không biết chi cả, giống như ếch trong ao sen không biết thưởng thức hương vị của sen.
Đức Thế Tôn chấp thuận tám điều khoản yêu cầu của Đại đức Ananđa và, Đại đức Ananđa cũng bắt đầu nhận lănh vai tṛ thị giả chính thức ngày hôm ấy.
Lúc bấy giờ, Đức Phật hưởng được 55 tuổi đời, 20 tuổi đạo trong khi Đại đức Ananđa được 55 tuổi đời, 19 tuổi đạo.
Nơi hoàng cung Ca-b́-la-vệ
Ngược ḍng thời gian, kể từ ngày Đại đức Ananđa nhận làm thị giả về trước là 55 năm.
Tại hoàng cung nguy nga tráng lệ của hoàng gia họ Thích, đèn đuốc sáng choang, hoa thơm ngào ngạt, cờ xí rợp thành. Hoàng thân Súc-cô-đa-na, bào đệ của Đức vua Tịnh Phạn Sút-thô-đa-na, nét mặt vui tươi, chuyện tṛ cởi mở với mọi người từ trong ḍng hoàng tộc đến ngoài công thần tướng sĩ, tất cả đều rộn lên một niềm vui trước tin mừng Công nương Súc-cô-đa-na hạ sinh một hoàng nam.
Căn cứ điềm vui mừng sung sướng của mọi người, công tử được đặt tên là Ananđa. Công tử Ananđa chào đời cùng một ngày với Thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhatta) (1) và được song thân cưng như trứng mỏng. Mọi phương tiện dưỡng nhi và dục nhi được áp dụng đúng mức. Ananđa truởng thành trong nhung lụa, ngọc ngà nhất là trong sự vui mừng sung sướng tuyệt vời của song thân và hoàng gia Thích tộc.
Công tử tỏ ra rất mực ngoan hiền tài hoa và trí thức. Gương mặt thật sáng. Da dẻ hồng hào. Nói năng lễ độ. Thật đáng mặt con nhà.
Thân phụ cho tuyển chọn những bậc danh sư kỳ tài dạy dỗ công tử. Chẳng bao lâu, sự thông minh đĩnh ngộ và tài năng lỗi lạc của công tử nức tiếng xa gần, khiến cho thân phụ đă sung sướng càng thêm măn nguyện.
Thế rồi, một hôm, tin Thái tử Sĩ Đạt Ta rời bỏ ngai vàng, cha già, vợ đẹp và con thơ ra đi xuất gia tầm đạo, làm kiếp người hùng của nhân loại, khiến tâm trạng Ananđa vừa ngạc nhiên vừa thán phục. Càng thán phục lại càng hoan hỉ (2). Sự hoan hỉ thúc đẩy một biểu đồng t́nh. Ananđa suy nghiệm chắc hẳn phải có một lư tưởng phi thường, một đại sự nhân duyên thế nào đó, nên Sĩ Đạt Ta, con cưng của Ca-b́-la-vệ mới rủ áo đế hoàng, sống kiếp phong sương, vui thú tiêu dao thoát tục.
Rồi 6 năm sau. Tin Thái tử Sĩ Đạt Ta thành Phật được loan truyền vô cùng nhanh chóng. Từ Vương Xá thành đến các đô thị lớn và, cuối cùng đến kinh đô Ca b́ la vệ. Mọi người tràn ngập niềm vui rộng lớn. Người vui nhất có lẽ là Công tử Ananđa. Công tử vốn có chủ định: khi nào Đức Phật về thuyết pháp th́ sẽ theo Ngài đi tu.
Chú thích:
(1) Hoan hỉ, sung sướng, khánh hỉ, bội hỉ, hoan lạc...
(2) Nhân vật đồng sinh với Sĩ Đạt Ta: Ananda, Yasodhara, Tể tướng
Kàludàyi, cận thần Channa, tuấn mă Kiền Trắc, cây Bồ đề, và 4 hầm châu
ngọc.
Một hôm, tại hoàng thành Ca b́ la vệ, phiên họp khoáng đạt có đủ mặt hoàng gia thích tộc, vương tôn công tử, đặt dưới quyền chủ tọa của đức vua Tịnh Phạn.
Sau nghi thức khai mạc, Đức vua Tịnh Phạn tuyên bố:
- Thưa quí vị, quí vị đều được nghe và biết tin mừng Đức Phật ra đời, Ngài không phải ai xa lạ mà Ngài chính là Thái tử Sĩ Đạt Ta. Được biết Ngài đang ngụ tại Vương xá Ràjagaha kinh đô của Đức vua Tần bà sa la (Bimbisàra). Tôi xin hỏi ư kiến quí vị, chúng ta có nên cử người sang thỉnh hay để Ngài tự động về? Xin quí vị cho biết.
Một công tử đưa tay và phát biểu:
- Thưa hội nghị, theo thiển kiến của tôi, chúng ta không nên cử người sang thỉnh v́ hai lư do. Một, Thái tử chính là con Đức vua chủ tọa. Khi ra đi, Ngài chẳng từ giả ai, thậm chí phụ vương của Ngài. Hai, hoàng thành Ca b́ la vệ này, thuộc quyền sở hữu của Ngài. Chúng ta lấy tư cách ǵ để mời ông chủ trở về nhà ông chủ. Hơn nữa, Thái tử tự cho ḿnh là Phật, mà không biết nhớ thương cha mẹ, ḍng họ để về thăm viếng th́ tội t́nh ǵ ḿnh phải thỉnh mời.
Vừa lúc ấy, một vị công tử khác đứng lên phát biểu:
- Kính thưa cử tọa, ư kiến công tử Đề Bà Đạt Đa vừa tŕnh bày thiếu vô tư. Theo tôi thiển nghĩ: Đức Phật dù trạc tuổi chúng ta nhưng hiện nay Ngài là một Samôn. Đối với một Samôn b́nh thường mà chúng ta c̣n quí trọng th́ tại sao chúng ta không thể dành sự quí trọng ấy cho Đức Phật, vừa là một Samôn vừa là họ hàng cật ruột? Hơn nữa địa vị Phật tổ, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác th́ ngay như đức chuyển luân thánh vương cũng phải quí trọng huống chi là chúng ta. Tôi đề nghị nên cử phái đoàn sang thỉnh mới đúng.
Ư kiến và đề nghị Công tử Ananđa chạm tự ái Đề ba đạt đa rất nặng, Đề ba đạt đa phản ứng:
- Thưa cử tọa, nếu lấy địa vị Phật tổ làm động lực áp đảo thiên hạ, th́ ai ai cũng có thể trở thành Phật tổ miễn đủ can đảm nói láo là được. Hàng động tự phong chức là hành động thiếu thực tế.
Liền khi ấy, một vị cao niên đứng lên phát biểu:
- Thưa cử tọa, nếu quả thật Thái Tử Sĩ Đạt Ta nói láo thiên hạ và tự phong cho ḿnh là Phật Tổ như ư kiến của công tử Đề Bà Đạt Đa vừa phát biểu th́ chúng ta càng nên cử người sang thỉnh Đức Phật về để sớm rơ trắng đen, hư, thực rằng, Ngài là Phật Tổ thực sự hay giả hiệu.
Hội trường im lặng. Không có ư kiến chống đối. Đức vua Tịnh Phạn kết luận:
- Thưa quí vị, những ư kiến vừa đóng góp đều hữu ích, đáng ghi nhận. Chúng tôi muốn được kết thúc phiên họp hôm nay bằng một quyết định. Vậy chúng tôi xin lấy biểu quyết: ai đồng ư cử người sang thỉnh Đức Phật th́ xin đưa tay lên.
Cử tọa nhất loạt đưa tay. Họ đưa thật cao để chứng tỏ sự biểu đồng t́nh. Chỉ có công tử Đề Bà Đạt Đa và một vài người bạn chí thân của công tử là không đưa tay mà thôi.
Tiếng tán đồng vang dội khắp hội trường. Họ yêu cầu đức vua Tịnh Phạn hỏa tốc cử người sang thỉnh Đức Phật ngay. Công tử Ananđa lấy làm hoan hỉ và xin t́nh nguyện lănh sứ mạng đi thỉnh. Nhưng Đức Vua Tịnh Phạn khước từ. Công tử Đề Bà Đạt Đa bực tức vô cùng, v́ nhớ lại, từ ấu thơ đến giờ, chưa lần nào thắng được Thái tử Sĩ Đạt Ta.
Lúc bấy giờ, Đức Phật đă rời địa phận U ru quê la (Uruvela) nơi Ngài đắc đạo, trực chỉ
I-si-pa-ta-mi-ga-đa-da để tiếp độ năm thầy Kiều Trần Như. Tiếp theo, Ngài độ công tử Dásá (Yassa) và 54 người bạn thân của công tử. Sau đó, Ngài độ ba anh em du sĩ ngoại đạo. Người anh là Pu-ra-na-ca-sa-pa có 500 đồ đệ. Người em thứ là Ga-da-ca-sa-pa có 300 đồ đệ và, người em út là Na-di-ca-sa-pa có 200 đồ đệ. Độ xong nhóm này, Ngài bèn đi về thành Vương xá để hóa độ đức vua Tần Bà Sa La (Bimbisàra), người mà Ngài đă từng hứa hẹn từ trước, trên bước đường xuất gia tầm đạo. Tại đây, Ngài nhận ngôi chùa Trúc Lâm, do đức vua Tần Bà Sa La hỉ cúng. Đây là ngôi chùa đầu tiên trên bước đường khai đạo của Ngài.
Tin Đức Phật ngự tại Trúc Lâm được truyền đi rất mau trong quần chúng. Và cũng tại đây, Ngài tiếp độ nhị vị Đại Đệ tử Phật: Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.
Nói về Đức vua Tịnh Phạn cử phái đoàn đi thỉnh Phật, nhưng sau khi nghe pháp tất cả đều phát tâm xuất gia, không một người nào nhớ thỉnh Phật cả. Măi đến phái đoàn thứ 10, do đại tướng Ca-Lu-Đa-Di (Kàludàyi) hướng dẫn, đến chùa Trúc Lâm, sau khi nghe pháp và được xuất gia, đại tướng vẫn nhớ thỉnh Phật theo sứ mạng triều đ́nh.
Đức Phật nhận lời. Ngài khởi hành chung với một số đông thánh tăng La Hán khoảng hai muôn vị. Ngày đi đêm nghỉ và phải mất 60 ngày đường mới đến Ca B́ La vệ. Suốt cuộc hành tŕnh, Ngài luôn thuyết pháp độ sanh. Một số đông đắc đạo chứng quả, hoặc ít nhất cũng thọ quy giới, bỏ dữ theo lành, cải tà qui chánh.
Đức vua Tịnh Phạn chuẩn bị tiếp đón Đức Thế Tôn vô cùng trọng thể và, không quên cho kiến tạo ngôi chùa Ni-gô-ra cúng dường Đức Phật.
Chuyến trở về của Đức Phật hôm ấy, quả thật là một niềm vui tưng bừng, rộn ră. V́ đă 7 năm dài cách biệt phân ly, hoàng gia Thích tộc không bao giờ được gặp Ngài dù chỉ là cái bóng.
Sáng hôm sau, Đức Phật và chư thánh tăng vào thành khất thực. Đức vua Tịnh Phạn được công nương Da Du Đà La khẩn tấu, lập tức đi đến địa điểm khất thực, tay nắm chéo y Đức Phật, nét mặt thật buồn:
- Sĩ Đạt Ta con, tại sao con làm như vầy? Ḍng dỏi nhà ḿnh nào phải ăn xin. Con đă làm nhục Phụ vương và hoàng tộc. Hơn nữa, cung điện sẵn có, tại sao con không về, mà lại đi ăn xin thế này? Phụ vương c̣n mặt mũi nào dám nh́n thiên hạ. Cha làm vua c̣n con th́ đi ăn xin. Thật là mai mỉa!
Bằng giọng trầm ấm dịu hiền, Đức Phật giải thích:
- Tâu Phụ vương, giờ đây Như Lai không c̣n là ḍng họ Thích Ca nữa mà là ḍng họ A lị da (Ariya: Thánh). Truyền thống chư Phật quá khứ đều đi khất thực nên Như Lai cũng phải duy tŕ truyền thống ấy. Cả phương tiện nhà cửa, Như Lai cũng không có. Như Lai là bậc Mu Ni không có gia đ́nh.
Đức vua Tịnh Phạn tủi hờn và phản đối quyết liệt:
- Này con, dù con mang tộc họ ǵ, có gia đ́nh hay không, con vẫn là con của Phụ vương. Con đă xa cách Phụ vương hơn bảy năm rồi, Phụ vương nhớ thương con vô cùng, Da Du Đà La cũng vỏ vàng v́ nhớ thương con. C̣n Ra Hầu la tuy có cha song chẳng khác một đứa trẻ mồ côi, vô thừa nhận. Hôm nay, con phải về hoàng cung thăm vợ, thăm con và chư vị hoàng thân trưởng thượng. Nói xong, đức vua hướng dẫn Đức Thế Tôn vào nội thành và cúng dường thực phẩm thật trang trọng. Đức Phật thuyết pháp độ vua cha và d́ mẫu Ma-ha-pa-cha-pa-ti-go-ta-mi đắc quả Tu Đà Hườn. Sau đó, Ngài trở về chùa Ni-gô-ra-thá (Nigrodha).
Trong suốt thời gian Đức Phật ngụ tại chùa Nigrodha xứ Ca B́ La Vệ có một số đông hoàng thân xuất gia theo Phật và hầu hết đều đắc đạo chứng quả.
Một thời gian sau, Đức Phật lên đường sang xứ Málá và ngự trong vườn xoài A-nú- pi-dá.
Khi Đức Phật đi rồi các vị hoàng thân trưởng lăo cùng nhau kiểm điểm và nhận định rằng: quả thật đă có một số đông hoàng thân xuất gia theo Phật, chỉ c̣n một số ít các công tử như Ananđa, A-nu-rút-thá, Ma-ha-na-má, Phát-tí-dá, chưa chịu xuất gia. Sự thật th́ hoàng tộc đă đồng ư đặt các công tử này dưới quyền sử dụng của Thái Tử Sĩ Đạt Ta ngay trong ngày lễ quán đỉnh. Vậy th́ tại sao các công tử chưa chịu xuất gia.
Công tử Má-ha-na-má nghe được câu chuyện ấy, cảm thấy thắc mắc trong ḷng, bèn hội ư với em là Á-nú-rút-thá (Anuruddha):
- Này em, theo anh nghĩ th́ một trong hai chúng ta phải xuất gia.
Công tử Á-nú-rút-thá t́nh nguyện xuất gia nhưng thân mẫu không tán thành. Bà phân trần:
- Này con yêu dấu của mẹ, con xuất gia chưa được đâu. V́ xuất gia nào phải dễ dàng như con tưởng. Con phải ăn ngọ, phải đi chân không, phải ngủ giản dị không nệm lót, phải gối đầu bằng gỗ, phải ở dưới cội cây hoặc trong hang núi, thích lạnh th́ gặp nóng, thích nóng th́ gặp lạnh. Do đó, mẹ không bằng ḷng cho con xuất gia.
Công tử Á-nú-rút-thá giải bày:
- Thưa mẹ, con vẫn biết xuất gia là một điều rất khó. Nhưng đă có một số những vị công tử quen sống sung sướng như con đă xuất gia th́ thiết tưởng con cũng có thể làm được. Vả lại, trước kia đời sống Đức Phật sung sướng hơn con nhiều. Con nghĩ, chắc chắn phải có một sự an lạc thù thắng nào đó cao quí hơn, thay cho sự sung sướng giả tạo, chóng tàn này. Con tin là con đủ sức chịu đựng, nếu được xuất gia.
- Con ơi, dù con có chịu đựng được nếp sống tu hành nhưng mẹ thú thật với con là mẹ không chịu nổi. Mẹ chưa từng thấy con cực khổ và không muốn cho con cực khổ. Hơn nữa, con là núm ruột của mẹ. Mẹ không muốn sống xa con dù chỉ một ngày. Nếu con xuất gia mẹ con ta phải xa nhau quanh năm suốt tháng, th́ mẹ chịu sao cho thấu. Theo mẹ nghĩ, nếu muốn hành thiện th́ ở nhà tu tại gia cũng được, đâu cần phải xuất gia. Hăy nghe lời mẹ đi con!
Nói xong, bà lấy tay rờ đầu và vuốt tóc công tử Á-nú-rút-thá, cử chỉ vô cùng tŕu mến.
- Thưa mẹ, nếu nói đến vấn đề nghèo khổ, th́ kể sao cho hết. C̣n nói đời sống tu sĩ là cơ hàn, th́ đă có biết bao người cơ hàn hơn tu sĩ. C̣n nói đến vấn đề phân ly, th́ đă có biết bao gia đ́nh phân ly v́ lư do này hay lư do khác. Đă vậy, c̣n có sự ngăn cách vô vàn đau khổ nữa, mà mọi người không ai tránh khỏi đó là cảnh tử biệt phân ly. Con đồng ư với mẹ về vấn đề hành thiện th́ ở đâu, h́nh thức nào cũng làm được. Tuy nhiên, con nhận định rằng bậc xuất gia hành thiện được nhiều hơn v́ có th́ giờ nhiều, ít bận rộn. Ví như dụng cụ đựng nước nếu vừa lớn vừa sạch th́ đựng nước được nhiều, hợp vệ sinh. C̣n nếu dụng cụ vừa nhỏ vừa dơ th́ đựng nước vừa ít vừa bẩn. Cho nên hạnh xuất gia cũng như dụng cụ vừa to vừa sạch, chứa đựng được nhiều điều thiện.
- Con làm sao hiểu được, khi con chưa có xuất gia. Sự suy nghĩ đôi khi trái ngược với thực tế, con ạ!
- Thưa mẹ, con chưa biết rơ, nhưng con muốn tập sự.
- Này con, mẹ tính thế này được không? Nếu công tử Phát-đí-dá, bạn của con cũng xuất gia nữa, th́ mẹ đồng ư.
Bà đề nghị như vậy, v́ bà tin tưởng một trăm phần trăm là công tử Phát-đí-dá sẽ không khi nào xuất gia.
Công tử Á-nú-rút-thá mừng lắm, bèn lập tức đi t́m bạn. Gặp bạn, công tử nói thẳng:
- Này bạn, tôi quyết chí xuất gia theo Phật nhưng chính bạn vô t́nh làm trở ngại công cuộc xuất gia của tôi. V́ mẹ tôi bảo rằng, khi nào bạn cùng xuất gia, th́ mới đồng ư cho tôi xuất gia.
Công tử Phát-đí-dá phân trần:
- Này bạn, tôi cũng có ư định xuất gia ngay sau khi được nghe câu chuyện bàn tán và nhận định của các bậc trưởng thượng. Vả lại, Đức Phật xuất gia được, th́ có lư nào ḿnh xuất gia không được.
Công tử Á-nú-rút-thá (Anuruddha) mừng khôn thể tả. Cả hai cùng rủ thêm bốn người nữa, là các công tử: A-nan-đa (Ananda), Phá-gú (Bhaggu), Kim-bi-lá (Kimbila), và Đê-qua-đát-tá (Devadatta) đồng khởi hành trực chỉ xứ Má-lá (Malla) để bái kiến Đức Phật.
Khi đến ranh giới hai nước Sắc-cá (Sakka) và Má-lá (Malla) sáu vị công tử bèn cởi áo măo quí trao cho Ú-pa-li (Upali), một chuyên viên thẩm mỹ cùng đi theo mang trở về Ca b́ la vệ lập nghiệp.
Ngay lúc chủ tớ chia tay, núi rừng gần như cũng cảm động, thở than trước cảnh sinh ly hy hữu ấy.
Đi được một đổi đường Upàli thấm buồn và tự nghĩ:
- Các vị công tử đă xem thường những bảo vật này và đem tặng cho ḿnh để làm sinh kế. Nghiệm cho cùng, nếu ḿnh nhận th́ chẳng khác nào ḿnh liếm nước miếng của các vị ấy đă nhổ ra. Càng suy nghĩ càng thấm thía. Upàli bèn treo gói bảo vật lên cành cây, chạy trở lui t́m sáu vị công tử, bày tỏ ư kiến tự giác của ḿnh và xin t́nh nguyện cùng được xuất gia.
Sáu vị công tử cùng nhau hội ư và cuối cùng bằng ḷng. Khi bái kiến Đức Phật, sáu vị công tử bày tỏ chí nguyện xuất gia. Trước khi xuất gia, các vị công tử không quên bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn, chúng đệ tử là ḍng vua chúa có nhiều thành kiến và rất nặng ngă mạn. Do đó, xin Đức Thế Tôn từ mẫn cho phép Upàli được xuất gia trước, để chúng đệ tử có cơ hội cung kính, ngỏ hầu đă phá thành kiến ngă mạn, cho được thích nghi với nếp sống phạm hạnh của hàng Sa môn.
Sau khi xuất gia không lâu, Đại đức Phát-đí-dá (Bhaddiya), Phăc-gu (Bhaggu), Kim-bí-lá (Kimbila) và Á-nu-rút-thá đắc quả Alahán. Đại đức Đê-qua-đát-tá đắc được phàm thiền. Đại đức Ananđa măi 19 năm sau mới đắc được Tu đà hườn.
Đời bằng hữu
Đối với Đức Phật, Đại đức Ananđa có những vai tṛ cố định như sau:
1- Dâng nước uống, nước xài lạnh nóng.
2- Dâng tăm xỉa răng cở lớn, cở trung và cở nhỏ.
3- Bóp tay, chân.
4- Đấm lưng.
5- Lau, quét hương thất và xung quanh thất.
Đêm đêm Đại đức Ananđa luôn luôn tỉnh thức và phục dịch rất mực chu đáo, đúng với tôn ư Đức Phật. Tương truyền rằng Đại đức tay cầm đèn lớn đi tuần quanh hương thất mỗi đêm bốn lần. Đại đức nổi tiếng là chu đáo, thông minh và có óc thẩm mỹ. Bất cứ việc ǵ một khi được giao phó là Đại đức hoàn thành tốt đẹp.
Chẳng hạn như, có một lần, vua Ba tư nặc (Pasanadikosala) phát tâm cúng dường thực phẩm thường trực Đức Thế Tôn và yêu cầu Ngài thường xuyên quang lâm thành nội.
Đức Phật nhă nhặn từ khước:
- Muôn tâu, thông thường chư Phật là người của quần chúng. Do đó, Như Lai không thể hứa nhận thực phẩm tại một địa điểm cố định.
Đức vua bạch thêm:
- Bạch Đức Thế Tôn, nếu vậy, xin Đức Thế Tôn từ bi chỉ định một vị đại diện hướng dẫn chư tăng vào thành nội cho đệ tử được cúng dường.
Đức Phật chỉ định Đại đức Ananđa. Những ngày đầu, đức vua đích thân cúng dường rất chu đáo. Nhưng lần hồi về sau, v́ đa đoan công vụ, đức vua mệt mỏi, dậy trễ. Chư tăng đến mà chẳng ai dám đánh thức. Hơn nữa, đức vua lại quên không chỉ định người đại diện chính thức. Do đó, một số đông chư tăng đă phải ra về, chỉ có Đại đức Ananđa c̣n kiên nhẫn ở lại. Sự kiện xảy ra nhiều ngày như vậy.
Một hôm, đức vua đích thân cúng dường. Nhưng chẳng thấy chư tăng đâu cả, ngoại trừ Đại đức Ananđa. Đức vua vô cùng phiền năo. Một buổi chiều, nhà vua đến chùa lễ Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn, chư tăng đă khinh thường lời thỉnh cầu của đệ tử. Đệ tử chuẩn bị thực phẩm nhiều trăm phần để cúng dường, thế mà chỉ có một ḿnh Đại đức Ananđa đến nhận.
Đức Phật an ủi:
- Muôn tâu, chư tăng không được quen biết và thân thiện nhiều với hoàng gia cho nên mới có hành động như vậy. Xin bệ hạ đừng phiền. Riêng Ananđa là con người tự trọng, hiểu biết và chịu đựng. Một mẫu người như vậy, quả thật khó kiếm.
Một lần khác, Đức vua Ba tư nặc yêu cầu Đức Phật chỉ định Đại đức Ananđa dạy đạo cho hoàng hậu Ma-li-ca (Malikà) và công chúa Va-sa-pha-khách-đi-dá (Vàsabhakhattiya). Hoàng hậu rất mực chú tâm và chuyên cần học đạo nhưng công chúa th́ thờ ơ, học lấy lệ.
Đại đức Ananđa đem chuyện này bạch Phật. Đức Phật dạy:
- Này Ananđa, thiện ngôn đối với người không tŕ hành th́ quả thật vô ích. Nó vô ích như loài hoa có sắc mà không hương. Thiện ngôn chỉ có ích thiết thực đối với người biết tŕ hành, cũng như loài hoa vừa có màu sắc thắm tươi vừa có hương thơm ngào ngạt.
Ananđa nghĩ, chánh pháp mà Như Lai đă thuyết dạy sẽ trở thành vô ích nếu người nghe không thực sự phụng hành; c̣n trái lại, tích cực phụng hành th́ chánh pháp sẽ vô cùng ích lợi.
Nói đến t́nh thương yêu quí kính của Đại đức Ananđa đối với Đức Phật th́ quả thật không có văn tự nào phản ảnh trung thực và diễn tả tṛn đầy. V́ tấm t́nh của Đại đức là một thứ t́nh cao vời như đỉnh Tuyết sơn, trong suốt như ngọc pha lê và đẹp dịu như ánh trăng ngà trên băi bể.
Đại đức sẵn sàng hy sinh tánh mạng cho Đức Phật. Một sự hy sinh bằng t́nh nguyện, bằng hoan hỉ, bằng tất cả rung cảm của con tim và sáng suốt của khối óc. Một bằng chứng hùng hồn và cảm động nhất, đó là lần Đề Bà Đạt Đa cấu kết với vua A-xà-thế phục rượu voi Na-la-gi-ri (Nàlàgiŕ) sai nó giết Phật.
Câu chuyện như vầy:
- Hôm ấy, b́nh minh rạng rở. Những giọt sương mai c̣n lấp lánh ít nhiều trên ngọn cỏ. Gió mai thổi nhè nhẹ hơi sương. Đức Phật và Đại đức Ananđa vào thành khất thực. Một tín nữ đang để bát cho Ngài, th́ bỗng dưng dân chúng ùn ùn kéo nhau chạy loạn. Tiếng kêu la thất thanh của dân chúng, tiếng rống dồn dập của voi say thi nhau vang lên rùng rợn. Họ chạy đạp bừa lên nhau thoát nạn: Người và vật ngổn ngang trên đất. Đức Phật im lặng tiến về hướng voi say một cách b́nh thản. Ngay lúc ấy, Đại đức Ananđa tiến thật nhanh đến phía trước Đức Phật, đứng án ngữ trong tư thế sẳn sàng hy sinh. Trước cử chỉ cao quí ấy, Đức Phật dạy:
- Ananđa, hăy lùi lại sau. Đừng quá lo sợ cho Như Lai.
- Bạch Thế Tôn, tính mạng của Thế Tôn có giá trị tuyệt đối. Sự sống của Thế Tôn là nguồn hạnh phúc lớn của chúng sanh. Đức Thế Tôn không thể bị hại trong lúc này. Vả lại, sinh mạng của đệ tử không đáng giá là bao. Xin cho đệ tử được hy sinh một vật không đáng giá để duy tŕ một giá trị tuyệt đối như bỏ đi một cục đá để bảo tồn một viên ngọc quí.
- Không nên đâu Ananđa. Như Lai đă tṛn đầy Ba la mật hạnh. Không ai có thể gây thương vong cho Như Lai, trừ phi Như Lai chấp nhận.
Mặc dù Đức Phật dạy như vậy nhưng v́ quá lo ngại cho tính mạng của Thế Tôn, Ananđa vẫn giữ nguyên vị trí cũ. Đức Phật dùng thần thông di chuyển Ananđa ra phía sau. Liền khi ấy voi Nalagiri đă chạy sồng sộc đến gần Đức Phật. Trong tiếng kêu la thất thanh tuyệt vọng của số đông Phật tử đồng lúc vang lên như báo hiệu đây là lần gặp gỡ sau cùng giữa họ và Đức Phật. Trong giây phút thập tử nhất sanh ấy, Đức Phật răi ḷng từ bi và nh́n thẳng voi dữ. Na la ghi ri khựng lại như đụng phải bức tường sắt. Sự hung dữ, say sưa đă biến mất, nhường cho sự tỉnh táo hiền lành, một thay đổi toàn diện như hai thái cực. Lửa hung dữ đă bị nước từ bi dập tắt. Na la ghi ri qú xuống chân Đức Phật. Đúc Phật rờ đầu voi và phủ dụ:
- Na-la-ghi-ri ơi, sở dĩ ngươi mang thân thú là do ác nghiệp tiền kiếp. Giờ đây ngươi không nên gây thêm trọng nghiệp bằng ác ư muốn làm hại Như Lai. Ngươi sẽ trả quả vô cùng cay đắng trong vô số lượng kiếp, nếu ngươi chưa chịu hồi tâm.
Na-la-ghi-ri cúi đầu yên lặng, rồi lấy ṿi áp nhẹ vào chân Đức Phật tỏ thái độ nhận lỗi, ăn năn.
Trước oai thần của Đức Phật, quần chúng vô cùng kinh ngạc và kính phục. Để tỏ ḷng qui ngưỡng, họ hoan hô vang dậy cả một góc trời và cúng dường tràng hoa, hương liệu tràn ngập dưới chân Ngài.
Một lần khác, Đức Phật bị bịnh cảm tỳ Đại đức Ananđa đích thân nấu cháo cúng dường. V́ Đức Phật thường dạy, cháo là món thuốc trị bịnh cảm rất kiến hiệu. Đức Phật hỏi:
- Ananđa, ngươi làm sao có cháo này?
- Bạch Thế Tôn, đệ tử nấu lấy.
- Ananđa, tại sao ngươi làm vậy? Ngươi đă hành động không xứng đáng, không thích hợp với đời sống Samôn. Ngươi quên rằng bậc xuất gia không có quyền tự ḿnh nấu nướng. Ngươi hăy đem đổ đi. Như Lai không dùng cháo của ngươi đâu.
Đại đức Ananđa cúi đầu thinh lặng không dám thốt một lời, dù là lời biện bạch.
Một lần khác, Đức Phật bị bịnh bón. Đại đức Ananđa lập tức đi t́m vị danh y A-chi-qua-ca-cô-ma-ra-phach-cha cho biết tin ấy. Vị danh y khuyên nên để Đức Phật nghỉ dưỡng sức một vài hôm. Đại đức Ananđa thi hành lời khuyên một cách nghiêm chỉnh. Sau đó Đại đức bèn trở lại t́m vị danh y. Vị này trao cho Đại đức ba cánh sen có rắc bột thuốc. Sau khi ngửi vào, Đức Phật xổ được ba, bốn lần.
Một lần khác, lúc ngụ tại thành Quê-sa-li, Đức Phật bịnh nặng. Ngài dùng năng lực tinh tấn và nhẫn nại để làm giảm thiểu cơn đau và cuối cùng được hoàn toàn b́nh phục. Đại đức Ananđa bạch Phật về tâm trạng của ḿnh như sau:
- Bạch Đức Thế Tôn, trong thời gian Đức Thế Tôn thọ bịnh, thân xác đệ tử héo hon như đọt khổ qua bị cháy nắng. Đệ tử có cảm tưởng trời đất tối tăm, sụp đổ. Đệ tử tuyệt vọng nhưng cố tự trấn tỉnh rằng: Đức Thế Tôn chưa có nhập diệt, v́ Ngài chưa triệu tập tăng già và chưa thuyết minh Di giáo tối hậu.
Những sự kiện vừa kể, chứng minh cụ thể rằng Đại đức Ananđa đối với Đức Phật chẳng những là một thị giả, mà c̣n là một đại bằng hữu một tấm t́nh tuyệt vời, một tâm hồn chí thiện.
Nói đến Đại đức Ananđa, chúng ta không thể bỏ qua đức tính thông minh và óc thẩm mỹ. Chính nhờ những nét độc đáo này mà Đại đức đă trở thành một cộng sự viên đắc lực của Đức Phật. Điển h́nh là việc sáng chế giáo phục. Câu chuyện như vầy:
Một lần nọ, Đại đức theo Đức Phật qua tỉnh Đắc-khi-na-ghi-ri. Đức Phật nh́n thấy thửa ruộng của nông dân xứ Magatha vuông dài, bốn cạnh bằng nhau, lại thêm có những đường nhỏ thông ngang dọc trông thật đẹp mắt, bèn hỏi Đại đức Ananđa:
- Này Ananđa, ngươi có thể chế biến giáo phục cho chư Tăng theo h́nh thức thửa ruộng này được không?
- Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử sẽ cố gắng.
Sau đó, Đại đức Ananđa đă cắt may được một mẫu y có h́nh thức như thửa ruộng đệ tŕnh Đức Phật. Đức Từ Phụ vô cùng hoan hỉ và chính thức ban hành giáo phục cho tăng già.
Nhơn tiện, Đức Phật khen ngợi Đại đức Ananđa giữa tăng chúng:
- Này các tỳ kheo, Ananđa là người thông minh, có óc thẩm mỹ, trí lực bén nhạy, có khả năng hiểu biết toàn diện những điều Như Lai chỉ nói vắn tắt.
C̣n nói đến đức tri túc th́ Đại đức Ananđa quả thật là mẫu người xứng đáng, khả kính và mực thước. Câu chuyện xảy ra sau khi Đức Phật tịch diệt như vầy:
Một hôm, theo di ngôn của Đức Phật, Đại đức Ananđa sang xứ Kosambi bằng đường thủy nhằm tuyên phạt phạm án Đại đức Channa, một vị tỳ kheo ương ngạnh, khó dạy. Rời thuyền, Đại đức đi bộ và tạm nghỉ tại vườn thượng uyển của đức vua Udena.
Lúc bấy giờ, đức vua và hoàng hậu đang ngự nơi ấy. Hoàng hậu được biết Đại đức Ananđa quang lâm đến rất lấy làm hoan hỉ. Đại đức nói đạo cho Lệnh bà nghe. Lệnh bà phát tâm trong sạch cúng dường Đại đức Ananđa 500 bộ y. Hay tin, nhà vua chỉ trích Đại đức Ananđa nặng lời.
Đến khi có cơ hội, gặp Đại đức, nhà vua phán hỏi:
- Bạch Đại đức, nghe nói chánh cung có cúng dường 500 bộ y cho Đại đức
phải không?
- Muôn tâu, có. Và bần đạo đă nhận tất cả.
- Đại đức nhận làm chi mà nhiều quá vậy?
- Để chia cho những vị nào mà y phục đă cũ, rách.
- Y cũ, rách để làm ǵ?
- Để làm trần.
- Trần cũ để làm ǵ?
- Làm vải trải đơn (giường ngủ).
- Vải trải đơn cũ để làm ǵ?
- Làm vải lau bát.
- Vải lau bát cũ để làm ǵ?
- Làm vải lau sàn.
- Vải lau sàn cũ để làm ǵ?
- Làm vải lau chân.
- Vải lau chân cũ làm ǵ?
- Làm vải lau bụi.
- Vải lau bụi cũ để làm ǵ?
- Đem nhồi chung với đất sét tô vách tường.
Đức vua Udena vô cùng hoan hỉ và cúng dường thêm 500 bộ y nữa v́ cho rằng các bậc Thích tử rất tri túc, không bừa băi, phung phí.
Ngoài đức tính tri túc, Đại đức Ananđa c̣n nổi tiếng là người nhớ ơn. Đại đức chẳng những nhớ ơn người lớn mà c̣n biết ơn kẻ nhỏ.
Có một lần, Đức vua Pasenadi cúng dường Đại đức hàng trăm bộ y. Nhớ ơn một môn đệ đă từng phục dịch Đại đức trong mọi công tác vô cùng tích cực, nên Đại đức ban thưởng tất cả y cho vị này. Vị này quả thật xứng đáng, khả kính, khả ái, không phụ ḷng thầy, nên sau khi nhận y, liền đem tất cả cúng dường lại cho chư tăng.
Nhơn câu chuyện này, một vị tỳ kheo bạch hỏi:
- Bạch Đức Thế Tôn, vị Tu đà hườn c̣n tư vị hay không?
- Này các tỳ kheo, trường hợp như thế nào?
Sau khi các vị tỳ kheo bạch rơ sự kiện, Đức Phật dạy:
- Này các tỳ kheo, sự tư vị không có nơi Ananđa. Sở dĩ Ananđa hành động như vậy là v́ nhớ ơn người đă có công với ḿnh. Các tỳ kheo này, bậc trí giả lúc nào cũng nhớ ơn và luôn luôn t́m dịp báo ơn.
Lệnh bà Mahà Pajàpati
Đại đức Ananđa c̣n có tính hay thương người, thấy ai khổ là chịu không được và sẵn sàng giúp đỡ tùy khả năng, không phân biệt thân sơ, nam nữ. Câu chuyện điển h́nh như sau:
D́ mẫu Mahapachapati (Mahàpajàpati) rất mực thương yêu và quí kính Đức Phật. Để thể hiện t́nh cảm sâu đậm ấy, Lệnh bà tự kiểm và nhận thấy rằng từ ngày Thái tử thành Phật, trong hàng hoàng gia Thích tộc có người hiến cúng lễ vật, có người rũ áo đi tu, riêng ḿnh th́ chưa làm được việc thiện nào cụ thể. Nghĩ xong, Lệnh bà tự chọn cho ḿnh một công tác là tự tay canh cửi dệt vải và cắt may một bộ y phục thật tốt để cúng dường Đức Phật. May xong, Lệnh bà đến chùa bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn, D́ mẫu tự tay canh cửi, dệt vải và cắt may bộ y này
để cúng dường, xin Đức Thế Tôn từ bi thọ dụng.
- Thưa D́ mẫu, xin D́ mẫu cúng dường đến vị khác. Như Lai đă có đủ y
rồi.
Lệnh bà tha thiết năn nỉ ba lần, nhưng Đức Thế Tôn vẫn một mực khước từ. Lệnh bà vô vàn buồn tủi. Nhớ thuở nào, khi Đức Phật c̣n ấu thơ, Lệnh bà ẳm bồng, nưng niu. Cầm ḷng không được, Lệnh bà vừa khóc kể vừa ôm bộ y đến chổ ở Đại đức Xá Lợi Phất kể hết sự t́nh và yêu cầu Đại đức hoan hỉ thọ nhận.
Mặc dù thông cảm cảnh ngộ và tâm trạng của Lệnh bà, song Đại đức khước từ và đề nghị Lệnh bà cúng dường cho vị khác. Nhưng câu chuyện được ghi nhận là không có vị nào thọ y của Lệnh bà.
Cuối cùng, Đức Phật cho triệu tập tăng chúng, và khuyến khích Lệnh bà cúng dường đến chư tăng do Đại đức A-chi-ta đại diện nhận. Đồng thời, Ngài an ủi, khích lệ và tán thán đạo tâm tuyệt đối trong sạch của Lệnh bà, khiến Lệnh bà chẳng những hết tủi thân mà c̣n vô cùng hoan hỉ.
Nhơn câu chuyện này, Đức Phật giải thích về cung cách bố thí:
- Thưa D́ mẫu, bộ y mà D́ mẫu vừa cúng dường gọi là tăng thí trong sự chứng minh của Như Lai, một vị Phật Tổ. Cách thí này phước báu to lớn vô cùng, to lớn hơn cúng dường đến một cá nhân, dù cá nhân ấy là Như Lai. D́ mẫu ơi, sở dĩ Như Lai không thọ y của D́ mẫu, không phải Như Lai muốn làm khó hay làm buồn ḷng D́ mẫu, mà sự thật chỉ v́ Như Lai muốn cho D́ mẫu được thật nhiều công đức.
Đức Phật nh́n sang Đại đức Ananđa và dạy:
- Ananđa, ngươi khẩn cầu Như Lai thọ y của D́ mẫu bằng cách gợi lại mối t́nh dưỡng dục tuyệt vời mà D́ mẫu dành riêng cho Như Lai thuở ấu thời. Điều này Như Lai không phủ nhận. Do đó, Như Lai đă triệu tập chúng tăng, và hướng dẫn D́ mẫu cúng dường đến đoàn thể thay v́ cá nhân. Sự cúng dường đến tập thể có giới đức th́ phước báu thật là vô lượng. Ananđa này, cá thể th́ có 14 hạng:
1- Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
2- Bậc Độc giác Phật.
3- Bậc Alahán.
4- Bậc đang hành đạo để đắc quả Alahán.
5- Bậc Anahàm.
6- Bậc đang hành đạo để đắc quả Anahàm.
7- Bậc Tư đà hàm.
8- Bậc đang hành đạo để đắc quả Tư đà hàm.
9- Bậc Tu đà hườn.
10 -Bậc đang hành đạo để đắc quả Tu đà hườn.
11- Tu sĩ ngoại đạo đă diệt ái dục.
12- Phàm nhơn có giới đức.
13- Phàm nhơn không có giới đức.
14- Loài súc sanh.
Này Ananđa, thực phẩm mà người cho đến súc sanh vẫn được phước báu to lớn. Ananđa, có lần Như Lai nói với một du sĩ ngoại đạo rằng:
- Dù đổ nước rửa bát với ư định bố thí cho những loại thấp sinh vẫn được phước nhiều. Do đó, sự bố thí từ người có giới đức trở lên đến bậc Chánh Đẳng Chánh Giác th́ phước báu lại càng to lớn hơn. Tuy nhiên, phước của cá thể vẫn là phước tương đối, giới hạn; c̣n phước của tập thể thí th́ tuyệt đối, vô hạn. Này Ananđa, đến thời mạt pháp sẽ không c̣n bậc xuất gia có giáo phục và giới đức, mà chỉ có h́nh thức tối thiểu để ghi nhận mà thôi. Chẳng hạn như, quấn vải vàng trên cổ, buộc chỉ vàng nơi cườm tay hoặc trên búi tóc. Mặc dầu vậy, sự bố thí đến h́nh thức tăng ấy cũng được phước vô lượng miễn là tác ư hướng vọng tăng già.
Đức Thế Tôn an ủi thêm D́ mẫu:
- Thưa D́ mẫu, do đó, sự cúng dường hôm nay của D́ mẫu là sự cúng dường đến tập thể. Quả thật D́ mẫu là người đại phước, đại duyên, v́ nó đánh dấu một thắng lợi lư trí. Nguyên D́ mẫu đă phát tâm muốn xuất gia theo Phật ngay từ lúc Ngài c̣n ngụ tại chùa Ni-gô-rô-tha-ra-ma (Nigrodhàràma) xứ Ca-b́-la-vệ. Nhưng Đức Phật khước từ. Lệnh bà không thối chí nản ḷng, cứ tiếp tục khẩn cầu nhiều lần nhiều lượt, nhưng Đức Phật vẫn không đổi ư. Măi đến khi Đức Phật ngự sang xứ Vesàli và tạm ngụ tại Cu-đa-ga-ra-sa-la (Kutàgàrasàla) rừng Đại lâm (Mahàvana) th́ Lệnh bà cùng với một số đông công nương Thích tộc phát đại nguyện xuất gia làm tỳ kheo ni. Tất cả đồng loạt thí phát, đắp y cà-sa, đi chân đất từ Ca-b́-la-vệ đến Vesàli, khoảng đường dài 200 cây số. Mặc dù đôi chân vương giả đă bị sưng phồng, Lệnh bà và hàng công nương vẫn vào bái kiến Đức Phật xin phép xuất gia. Đức Phật vẫn không chấp thuận. Lệnh bà vô cùng buồn tủi, bèn ra đứng ngoài ven rừng Đại lâm khóc than thảm thiết.
Đại đức Ananđa thấy vậy động ḷng, bèn an ủi Lệnh bà dằn cơn sầu khổ. Đại đức vào bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn, Lệnh bà Gotami, D́ mẫu của Đức Thế Tôn, đă tự động thí phát, đắp y cà-sa, thân h́nh tiều tụy, nét mặt bơ phờ hai chân sưng phồng v́ đi bộ từ Ca-b́-la-vệ. Mặc dù vậy, Lệnh bà vẫn không nghĩ đến sự cực khổ, đau đớn, mà chỉ cầu mong được xuất gia. Bạch Đức Thế Tôn, Lệnh bà là người có nhiều công ơn, đă thay từ mẫu cho Đức Thế Tôn những ḍng sữa ấm. Xin Đức Thế Tôn mở ḷng bi mẫn cho phép Lệnh bà được xuất gia theo sở nguyện.
Một phút im lặng, Đức Phật dạy:
- Này Ananđa, D́ mẫu có nhiều công ơn đối với Như Lai, điều này Như Lai vẫn hằng tâm niệm. Nhưng Ananđa cũng đừng quên rằng Như Lai là vị Pháp vương phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với giáo đoàn, giáo sử và càng không thể lẫn lộn giữa vấn đề t́nh cảm và lư trí. Do đó, Như Lai phải tuyệt đối vô tư. Này Ananđa, nếu ví giáo đoàn Tăng già như thửa ruộng th́ sự có mặt của ni chúng sẽ là loài sâu bọ làm hại mùa màng. Này Ananđa, Như Lai đă từng dạy rằng, nữ giới là phiền trược của phạm hạnh. Ananđa ơi, nếu chánh pháp của Như Lai có thể tồn tại và thạnh hành 1000 năm, nhưng khi có ni chúng th́ thời hạn ấy sẽ giảm thiểu c̣n phân nữa. Hăy cho thông qua chuyện ấy. Ananđa chớ nên sốt sắng khẩn cầu mà sẽ có điều bất lợi về sau.
Nhưng h́nh ảnh vô cùng tiều tụy, xác xơ, với nét mặt bơ phờ và đôi chân sưng húp của D́ mẫu trong bộ y cà-sa dính nhiều bụi đất đă khiến Đại đức chạnh ḷng thương cảm:
- Bạch Đức Thế Tôn, nữ giới nếu được xuất gia đúng chánh pháp có thể đắc
được thánh quả hay không?
- Có thể được không trở ngại.
- Bạch Đức Thế Tôn, nếu vậy xin Đức Thế Tôn từ bi chấp thuận cho D́ mẫu
xuất gia.
Qua một phút im lặng nữa, Đức Từ Bi phán dạy:
- Này Ananđa, nếu D́ mẫu chịu nghiêm hành 8 trọng pháp (1) th́ Như Lai có thể chấp thuận. Tám trọng pháp ấy là:
1- Tỳ kheo ni dù có 100 tuổi đạo cũng phải đănh lễ, đứng dậy tiếp rước và phụng sự xứng đáng đối với vị tỳ kheo tăng dù mới xuất gia trong ngày.
2- Không được nhập hạ tại địa điểm không có tỳ kheo tăng.
3- Phải tự hành lễ Phát lồ (2) và sau đó phải đến thỉnh giáo với tỳ kheo tăng trong mỗi định kỳ nữa tháng.
4- Phải tự hành lễ Tự tứ (Pavàranà) và sau đó phải đến xin hành lễ với tỳ kheo tăng.
5- Nếu phạm tăng tàng phải chịu thọ phép Ma-nach-ta (Mànatta) (3) 15 ngày thay v́ 7 ngày nơi hai giáo hội.
6- Giới tử ni (Sikkhamànà) trước khi xuất gia phải nghiêm tŕ lục giới suốt thời gian hạn định 2 năm và phải được hành lễ thọ cụ túc giới nơi lưỡng phái giáo hội.
7- Không được nặng lời chỉ trích, hoặc mắng chửi tỳ kheo tăng.
8- Không có quyền giáo huấn tỳ kheo tăng, mà chỉ có tỳ kheo tăng mới đủ thẩm quyền giáo huấn tỳ kheo ni.
- Này Ananđa, đây là 8 trọng pháp mà ni giới phải nghiêm hành suốt đời.
Chú thích:
(1) Cũng được gọi là Pháp Bát Kính.
(2) Lễ Bố tát.
(3) Nghi thức giáo luật để trong sạch hóa tỳ kheo phạm trọng tội.
Đại đức Ananđa thuật lại tất cả cho D́ mẫu nghe và chờ xem phản ứng. Lệnh bà vô cùng hoan hỉ, có cảm tưởng như cô gái đẹp tắm rửa sạch sẽ, điểm trang lộng lẫy, đầu đội tràng hoa, th́ thử hỏi làm sao Lệnh bà không vui mừng cho được. Lệnh bà bạch với Đại đức Ananđa là sẽ trọn đời nghiêm hành Bát kính pháp.
Đức Phật cho Lệnh bà và 500 công nương Thích tộc được xuất gia thọ cục túc giới. Đây là khởi đầu cho trang ni sử trong Phật giáo.
Tại sao Đức Phật có tôn ư không cho nữ giới xuất gia? Điều này đă được trả lời dứt khoát và minh bạch qua thái độ không chấp thuận lời khẩn cầu của D́ mẫu. Ngài lo xa: Ni giới sẽ gây trở ngại cho bản thân ḿnh cũng như tha nhân. Chẳng hạn, tỳ kheo ni không thể bảo vệ an ninh cho chính ḿnh. Do đó, ni chúng không có quyền sống biệt lập, mà phải luôn luôn đặt dưới sự giáo huấn và giám hộ của tỳ kheo tăng. Sự liên đới trách nhiệm này là một trở ngại lớn cho cả hai giới.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh bất khả kháng, Đức Thế Tôn cũng hoan hỉ chấp thuận với những điều kiện trên. Qua Pháp Bát Kính, chúng ta phải nhận rằng, tôn ư Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia nhưng chế định giới luật vô cùng khó khăn để ni giới không phát triển được và cuối cùng giáo đoàn ni bộ không c̣n nữa. Sự kiện đă xảy ra như dự liệu. Nghĩa là sau khi Đức Phật tịch diệt, không có đoạn kinh nào đề cập đến ni giới. Măi cho đến triều đại A-Dục vương (1), giáo đoàn ni bộ mới tái xuất hiện.
Một điều quan trọng khác, tưởng cũng nên biết, đó là nghi thức và cung cách cho nữ giới xuất gia. Theo luật định, một vị tế độ chỉ có quyền cho một giới tử ni xuất gia và sau đó phải nghỉ một năm. Nghĩa là cách năm mới được phép cho xuất gia. Với điều kiện này, dù muốn dù không, giáo đoàn ni bộ cũng phải đi đến chổ tự diệt.
Vả lại tôn ư Đức Phật chỉ muốn nữ giới giữ vai tṛ tiếp liệu, tỳ kheo tăng là chiến sĩ, mà Đức Phật là vị Tổng tư lệnh tối cao.
Yêu là khổ
Ngoài bản chất từ bi hay thương người và sẵn sàng cảm thông giúp đỡ, Đại đức Ananđa rất khiêm nhă, phong cách uy nghi, lại thêm sắc diện sáng tươi khả ái đă vô t́nh khiến cho một thiếu nữ say mê cuồng nhiệt. Câu chuyện như vầy:
Có một hôm mùa hè nóng bức, Đại đức hữu sự đi đường xa, lúc trở về Kỳ viên tịnh xá ánh nắng gay gắt như đốt cháy thịt da, khiến Đại đức khát nước khô cổ, mồ hôi nhễ nhại. Vừa lúc ấy, một thiếu nữ đang xách nước xuất hiện như một cứu tinh. Quá vui mừng, Đại đức đến gần và lên tiếng:
- Này tín nữ, bần đạo đi đường xa nên khát nước, nếu không thấy phiền xin tín nữ vui ḷng cho bần đạo ít nước giải khát.
Nghe lời nói vô cùng lịch sự tao nhă, thiếu nữ ngước lên nh́n, nàng giựt ḿnh mất b́nh tĩnh, vừa bước lui vừa nói:
- Thưa Đại đức, tôi không dám dâng nước cho Đại đức đâu. Đại đức cũng
không nên uống nước này v́ Đại đức là ḍng dơi quí tộc, c̣n tôi là ḍng
nô lệ thấp hèn.
- Tín nữ không nên nghĩ như vậy. Bần đạo là người vô giai cấp. Bần đạo
là Thích tử Sa môn chứ không phải vua chúa, bà la môn, thương gia hay
lao động, mà chỉ là một con người như tín nữ vậy.
- Tôi chỉ sợ làm hoen ố đến Đại đức v́ Đại đức nhận nước từ tay người
khác giai cấp, mà kẻ ấy lại là tôi, một giai cấp hèn hạ, nô tỳ và chính
cá nhân tôi cũng bị đắc tội. Chớ thực ra tôi đâu tiếc rẻ ǵ với Đại đức
- Nàng trả lời với giọng nhẹ nhàng và xúc động.
- Tín nữ này, sự hoen ố và tội lỗi không bao giờ có nơi người nặng ḷng
từ bi và nhiều nhân ái. Sự hoen ố và tội lỗi chỉ có trong hành vi bất
thiện. Như vấn đề này, bần đạo là người xin nước, tín nữ là người thí
nước, tất cả đều là hành động đạo lư, mà hành động đạo lư th́ không thể
bị hoen ố và có tội, trái lại nó là chất nước trong sạch để tẩy rửa
những vật dơ bẩn. Truyền thống giai cấp mà Bà la môn giáo chủ xướng
không tạo được sự b́nh đẳng mà chỉ tạo thêm sự ngăn cách, làm tổn thương
nhân phẩm. Đức Tôn Sư của bần đạo có dạy rằng: không có giai cấp trong
ḍng máu cùng đỏ, không có sự bất b́nh đẳng trong giọt nước mắt cùng mặn.
Tất cả sự thật, bần đạo đă giải bày, nếu tín nữ có thể cho được th́ xin
đổ nước vào cái bát này.
Nàng cảm thấy thấm thía, ngọt ngào qua lời nói vừa thành thật vừa hữu lư của Đại đức. Đấy là lần đầu tiên trong đời bất hạnh của nàng mới được nghe, nhất là lời nói đó phát xuất từ con người, mà đời cho là thượng lưu quí tộc. Dư âm lời nói dường như cứ ngân nhẹ trong tai nàng. Bàn tay dịu dàng, trịnh trọng đổ nước vào bát Đại đức trong tư thế qú một chân, c̣n Đại đức Ananđa th́ đứng cúi xuống nhận nước và uống một cách ngon lành. Nàng ngước nh́n Đại đức uống nước mà niềm vui tràn ngập cả tâm hồn.
Uống xong Đại đức phúc chúc:
- Cầu cho tín nữ được nhiều hạnh phúc.
Nàng nghiêng thùng nước và mời:
- Bạch Đại đức, xin Đại đức uống thêm cho thật hết khát.
- Vừa đủ rồi tín nữ ạ!
- Bạch Đại đức, làm sao tôi có hân hạnh được biết quí danh Đại đức?
- Tín nữ có từng nghe Ananđa, thị giả của Đức Phật bao giờ chưa?
- Dạ có.
- Có từng thấy mặt không?
- Dạ không.
- Chính tín nữ đang tiếp chuyện với Ananđa đó.
Nàng bàng hoàng v́ sung sướng ngập ḷng. Quả thật, nàng chưa bao giờ dám mơ ước được thấy mặt con người bằng xương bằng thịt huống chi được hầu chuyện cùng Đại đức Thị giả của Đức Thế Tôn. Hào quang của sự sung sướng tỏa chiếu ra ngoài sắc mặt và ánh mắt. Nàng nói thật nhẹ, giọng nói hơi run:
- Bạch Đại đức, thật là một diễm phúc lớn cho tôi được gặp Đại đức, người có giới hạnh, có danh vị mà tôi cứ tưởng là ḿnh nằm mộng.
Đại đức Ananđa từ giă nàng và về Kỳ Viên tịnh xá. Được một đổi đường, Đại đức nghe tiếng chân người phía sau, bèn quay lại nh́n th́ thấy thiếu nữ ban năy. Đinh ninh nhà cô ta ở cùng đường, nên Đại đức cứ tiếp tục đi, không nghi ngờ chi cả. Nhưng khi đến gần cổng chùa không c̣n ngă rẻ, Đại đức quay nh́n lại, vẫn thấy nàng lẽo đẽo theo sau, cặp mắt đắm đuối nh́n ḿnh, bèn dừng bước, chờ nàng đến gần, và hỏi:
- Tín nữ đi về đâu?
- Dạ, tôi đi về chùa Kỳ viên.
- Tín nữ vào đó để làm ǵ?
- Để được gặp Đại đức và tṛ chuyện với Đại đức.
- Tín nữ không nên vào đây nếu không có lư do chính đáng, v́ đây là chỗ
ở của chư tăng. Tốt hơn, tín nữ nên về nhà.
- Tôi không về nhà nữa. Tôi thương Đại đức. Đời tôi chưa bao giờ gặp ai
khả kính, khả ái như Đại đức.
- Này tín nữ, Đức Tôn Sư dạy rằng: muốn biết người tốt xấu phải ở chung
lâu ngày, nhận xét vô tư và phải phán quyết sáng suốt. Ở đây, tín nữ mới
gặp bần đạo một lần th́ làm sao dám quN