|

CHÙA LONG
THỌ
B2 Hùng Vương - thị xă Long Khánh - tỉnh Đồng Nai
***
CÁO BẠCH
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Chúng tôi: - Tăng chúng Tổ đ́nh Tây Thiên - TP Huế.
- Tăng chúng chùa Long Thọ -Đồng Nai
- Tăng chúng chùa Văn Thánh - TP.HCM.
Và toàn thể môn đồ đệ tử thành kính nghiêm
cẩn báo tin:
Đức Đại lăo Ḥa Thượng
thượng Tâm
hạ Khai
tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên
-
Trụ tŕ Tổ Đ́nh Tây Thiên, Huế.
-
Chứng minh Đạo sư kiêm Viện chủ Chùa Long Thọ, TX.Long Khánh, Đồng Nai.
-
Trụ tŕ Văn Thánh Cổ Tự, B́nh Thạnh - Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau 87 năm trụ thế và 59 năm hạ lạp, nay hóa duyên đă măn, Ngài đă xả
báo thân, thâu thần thị tịch vào lúc : 17giờ 00 ngày 08 tháng 01 năm
2010 (Nhằm ngày 24/11/Kỷ Sửu).
*
Lễ nhập kim quan vào lúc : 17 giờ 00 ngày 09 tháng 01 năm 2010 (Nhằm
ngày 25/11/Kỷ Sửu).
*
Kim quan của Đức Đại lăo Ḥa Thượng được tôn trí tại Thiền đường Chùa
Long Thọ B2 Hùng Vương - thị xă Long Khánh - tỉnh Đồng Nai.
*
Lễ cung thỉnh Kim quan nhập Bảo tháp vào lúc : 08 giờ 00 ngày 14 tháng
01 năm 2010 (Nhằm ngày 30/11/Kỷ Sửu) tại khuôn viên Chùa Long Thọ.
Long Thọ, ngày 09 tháng 01 năm 2010
Thất chúng Môn Đồ đệ tử
Đồng cáo bạch

Tiểu Sử
Ḥa Thượng
Thích Nhật Liên
Chứng Minh
Đạo Sư Kiêm Viện Chủ Chùa Long Thọ
B2 đường Hùng Vương, thị xă Long Khánh,
tỉnh Đồng Nai
THÂN THẾ:
Hoà Thượng thế
danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn
Nhật Liên.
Ngài sanh ngày
13 tháng 10 năm Quư Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xă Triệu Thượng, huyện
Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đ́nh thâm tín Phật Giáo.
Thân phụ là cụ
Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5
người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đ́nh, sau anh trưởng
là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên).
Năm lên 6 tuổi
(1928) gia đ́nh Ngài dời về thôn Diên Sanh, xă Hải Thọ, huyện Hải Lăng,
tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đă rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để
dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông
minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp.
Năm lên 10 tuổi
(1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
XUẤT GIA
:
Vốn có túc
duyên với Phật Pháp, năm 13 tuổi (1935) Ngài cùng anh trưởng, được sự
đồng ư của song thân và dưới sự d́u dắt của Thúc Phụ cũng là Sư Thúc,
Ḥa thượng Thích Đôn Hậu, xuất gia theo Ḥa thượng Thích Giác Nguyên Trụ
tŕ Chùa Tây Thiên Di Đà tại Huế. Hai anh em Ngài được Ḥa Thượng truyền
thọ Tam Quy Ngũ Giới, đồng thời làm lễ thế độ xuất gia và cho Ngài pháp
danh: Tâm Khai, tự Thiện Giác, anh trưởng pháp danh: Tâm Hoa, tự Thiện
Liên.
Đương thời, ở
Việt Nam, phong trào chấn hưng Phật giáo đang lên cao. Tại miền Nam, có
Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học, thành lập năm 1930, trụ sở đặt tại Chùa
Linh Sơn - Sài G̣n, và xuất bản tạp chí Từ Bi Âm tại Huế, có Hội An Nam
Phật Học (sau này đổi tên là Hội Việt Nam Phật học), thành lập năm 1932,
xuất bản nguyệt san Viên Âm, và mở trường Sơ Đẳng Phật Học tại Chùa Trúc
Lâm, sau dời về Chùa Báo Quốc Huế. Tại miền Bắc, có Bắc Kỳ Phật Giáo Hội,
thành lập năm 1934, trụ sở đặt tại Chùa Quán Sứ Hà Nội và xuất bản báo
Đuốc Tuệ. Được xuất gia trong phong trào lịch sử đó, nên chỉ sau một
thời gian ngắn nhập đạo, Ngài đă được Ḥa Thượng Bổn Sư cho ṭng học tại
Sơ đẳng Phật Học đường, do Ḥa Thượng Thích Trí Độ làm Đốc giáo. Những
bạn đồng học cùng Ngài bấy giờ là các Ḥa Thượng Thiện Siêu, Trí Quang,
Thiện Minh v.v… ngày nay.
HỌC ĐẠO
:
Được song thân
cho theo đuổi nghiệp đèn sách ngay từ ngày c̣n thơ ấu, và với tư chất
thông minh, tinh thần hiếu học sẵn có, lại được sự tận tâm ân cần dạy
bảo của Ḥa Thượng Đốc giáo, nên sự học vấn của Ngài rất chóng tiến bộ,
và trong ḱ thi cuối niên học đầu tiên, với đề tài giáo lư "Năm thời
thuyết pháp của Đức Phật" Ngài được xếp vào hạng ưu.
Năm 18 tuổi
(1940), Ngài theo học tại Phật Học Đường Tây Thiên do Sơn môn Tăng Già
Thừa Thiên Huế (tiền thân của Giáo hội Tăng Già sau này) thành lập. Cùng
năm Ngài được Ḥa Thượng Bổn sư cũng là Ḥa Thượng Đường Đầu, truyền thọ
Giới Sa Di tại Giới Đàn Chùa Tây Thiên.
HÀNH HOÁ
:
Năm Ngài 22 tuổi
(1944) sau khi tốt nghiệp tại Phật Học Đường Tây Thiên, Ngài được cử vào
giảng dạy tại Thích Học Đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học tại tỉnh Trà
Vinh.
Năm 23 tuổi
(1945) Ngài nhận lời mời của Sơn Môn Tăng Già tỉnh B́nh Thuận, giảng dạy
Phật pháp tại Chùa Phật Quang (Chùa Cát), Phan Thiết
Năm 24 tuổi
(1946) v́ t́nh h́nh chính trị trong nước xáo trộn, nên Ngài trở về trú
tại Chùa Long An thuộc liên thôn Xuân Yên–Nhan Biều, huyện Triệu Phong
là ngôi Chùa của gia tộc Ngài. Ngài nhận lời mời của Tỉnh Hội Phật Giáo
Quảng Trị làm Giảng Sư của Tỉnh hội. Đồng thời, Ngài cùng các vị trong
Sơn môn Tăng già Quảng Trị thành lập Phật học đường Quảng Trị đặt tại
Chùa Long An.
Đầu năm 1947,
quân Pháp tái chiếm Quảng Trị, Ngài về ẩn cư tại Chùa Diên Thọ, thuộc
thôn Diên Sanh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Tại đây Ngài hoạt động
đả phá Tổ chức Phật Giáo Thiền Lữ (thân Chính), và cùng Huynh trưởng là
Thầy Thiện Liên hoạt động phục hồi Sơn môn Tăng già Quảng Trị trước sự
tổ chức rầm rộ, ồ ạt của phái Thiền Lữ.
Năm 28 tuổi
(1950), Ngài rời Quảng Trị vào Huế ở tại Chùa Tây Thiên hầu cận Bổn sư,
sau qua Chùa Linh Mụ phụ tá cho Ḥa Thượng Sư Thúc, trông nom sinh hoạt
của Chùa, v́ Ḥa Thượng thường xuyên đi giảng dạy các trường Phật học
tại Huế.
Trong lúc đó,
t́nh h́nh Phật Giáo ở miền Nam đang bước đầu phát triển. Cuối năm, Ngài
được phép của Bổn Sư và Sư Thúc rời Huế vào Sài G̣n hợp tác với Quư Thầy
ở Phật Học Đường Nam Việt. Ban đầu trụ sở đặt tại Chùa Sùng Đức –Chợ Lớn,
sau dời về Chùa Ấn Quang - Sài G̣n.
Nguyên ngôi Chùa
Ấn Quang tên cũ là Ứng Quang do Ḥa Thượng Thích Trí Hữu sáng lập và Ḥa
Thượng đă phát nguyện cúng cho Quư Thầy ở 3 Phật Học Đường là Liên Hải
–Mai Sơn –Ứng Quang, kể cả Ḥa Thượng Thiện Ḥa và Ngài là 7 vị, để có
cơ sở làm Phật sự chung. Sau khi 3 Phật học đường này hiệp nhất, lấy
danh hiệu là Phật Học Nam Việt, do sự vận động của nhị vị Ḥa Thượng Trí
Quang và Thiện Minh (1950). Khi Ngài hợp tác với Quư Thầy, Ngài đă đề
nghị đổi tên Chùa Ứng Quang thành Ấn Quang theo ư nghĩa Tổ Ấn Trùng
Quang. Ngài cũng đề nghị đổi khuôn dấu của Phật học đường Nam Việt (bằng
Hán tự) thành Nam Việt Phật Học Đường ….
- Về mặt giáo
dục, Ngài nhận lănh chức vụ Cố vấn kiêm Giáo thọ Phật Học Đường, các học
Tăng do Ngài hướng dẫn lúc bấy giờ là các Ḥa Thượng : Từ Thông, Huyền
Vi, Thiền Định, Thanh Từ v…v… ngày nay.
- Cũng trong
thời gian này, Ngài tham gia Hội Phật Học Nam Việt (Chùa Xá Lợi ngày
nay) giữ chức Đệ nhất Cố vấn Ban Quản trị Trung Ương Hội, kiêm chủ biên
Tạp chí Từ Quang, cơ quan Hoằng pháp của Hội trong buổi đầu.
- Năm 29 tuổi
(1951), Hội nghị thống nhất Phật Giáo Việt Nam họp tại Chùa Từ Đàm Huế
để thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam (tiền thân của Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất sau này). Ngài là một trong số 51 vị Đại biểu
Phật giáo toàn quốc và là một trong 7 thành viên của Phái đoàn Phật giáo
Nam Việt.
- Cùng năm đó,
Ngài vận động thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và giữ chức vụ Tổng
thư kư sáng lập Hội, trụ sở đặt tại Chùa Hưng Long, sau đó dời về Chùa
Ấn Quang.
- Năm 30 tuổi
(1952) Ngài tấn đàn thọ Cụ Túc Giới, tại Giới đàn Chùa Ấn Quang, do Ḥa
thượng Thích Đôn Hậu làm Ḥa thượng Đường đầu. Các Giới tử đồng thọ giới
với Ngài lúc bấy giờ là Thầy Nhất Hạnh, Thầy Thiện Tấn (bào huynh của
Thầy Nhất Hạnh), v. v…
- Năm 31 tuổi
(1953) Ngài vận động tổ chức Đại hội Tăng Già Nam Việt; Đại hội được mở
tại Chùa Ấn Quang, và lần đầu tiên có hơn 500 Tăng Ni và đông đảo đồng
bào Phật tử khắp miền Nam tham dự. Đại hội suy tôn Ḥa thượng Thích Huệ
Quang, nguyên Tổng lư Hội Lưỡng Xuyên Phật Học Trà Vinh lên ngôi Pháp
Chủ Phật Giáo Nam Việt. (Trong Đại hội này, Ban Quản Trị và Ban Hộ Trợ
Phật Học Đường Nam Việt đă đóng một vai tṛ rất quan trọng).
- Cũng trong năm
này, dư luận quần chúng Phật tử xôn xao về loạt bài đăng trên Báo "Thần
Chung" (T́m hiểu Phật Giáo Việt Nam) của tác giả Đoàn Trung C̣n. Mục
đích của bài này không phải thật sự t́m hiểu, màø là xuyên tạc sự thật,
gán cho những người hoạt động cho Phật Giáo Thống Nhất bấy giờ là những
kẻ tha phương cầu thực, làm Chính trị, phỉ báng Đức Bồ Tát Quán Thế Âm
v.v…, và đề cao Tổ chức Lục Ḥa Tăng Nam Việt, cho Tổ Chức này là chính
thống. Để cho quần chúng Phật tử, cũng như không phải là Phật tử tại
miền Nam hiểu rơ về Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ngài đă viết loạt bài
"Người học Phật phải tôn trọng sự thật" đăng trên Báo "Dân Ta" để trả
lời. Khi loạt bài của Ngài xuất hiện, mọi người mới hiểu rơ là Tổng Hội
Phật Giáo Việt Nam mà Giáo Hội Tăng Già Nam Việt vàø Hội Phật Học Nam
Việt là 2 Tập đoàn Tăng Già, Cư sĩ trong số 6 Tập đoàn của Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam cả nước.
- Năm 32 tuổi
(1954) Ngài nghỉ việc tại Phật Học Đường Nam Việt; hai lần vân du sang
Cao Miên, mở Lớp bồi dưỡng Giáo lư và mở Khóa Huấn luyện Trú tŕ cho
Tăng Già Việt Kiều tại Chùa Kim Chương ở Nam Vang.
- Năm 33 tuổi
(1955) do Thỉnh Nguyện thư đề ngày 25/11/1955 của vị nguyên Hội trưởng
Vientiane Phật Giáo Hội (Hội Phật Giáo Việt Kiều) tại thủ đô nước Lào,
ông Trịnh Văn Phú và Đại Đức Trú tŕ lâm thời Chùa Bàng Long –Vientiane
Thích Thiện Liên (vị Sư du phương Hoằng hoá và đă đem hết tâm lực, vận
động thu hồi ngôi Chùa Bàng Long đă bị người bản xứ chiếm ở 1945), gởi
Giáo Hội Tăng Già Trung Việt tại Huế, thỉnh cầu Giáo Hội cử cho một vị
Tăng Già đức độ đảm nhiệm Phật sự Phật Giáo Việt Nam tại Lào. Ngài đă
được Giáo hội cung cử ủy nhiệm đảm trách Phật sự quan trọng ấy. Tại Lào,
Ngài được toàn thể Chư tăng và Phật tử Việt Kiều suy tôn lên ngôi Đạo
Thống Phật Giáo Việt Nam tại Lào, kiêm Trú tŕ Chùa Bàng Long. Với một
trọng trách mới, Ngài đem hết tâm lực, xiển dương Phật pháp, thiết lập
hệ thống Phật Giáo Việt Nam tại Lào từ cấp Trung Ương xuống các cấp
Tỉnh, Thành; Tại Trung Ương có Ṭa Đạo Thống và Viện Hành Pháp Trung
Ương. Tại các Tỉnh, Thị, đông đảo Phật tử Việt Kiều cư trú, có Ban đại
diện Phật giáo Tỉnh.
- Nhơn duyên
Phật pháp đưa đẩy, tiếp theo bước chân của Ngài, có các Ḥa thượng Quảng
Thiệp, Ḥa thượng Thanh Tuất, Ḥa thượng Trung Quán, kẻ trước người sau
từ Sài G̣n sang Lào, cộng trú tại Chùa Bàng Long. Kể từ đó, hệ thống
Phật Giáo Việt Nam tại Lào phát triển lớn mạnh. Ḥa Thượng Thanh Tuất
xây dựng Chùa Phật Tích tại Luangprabang, tiếp theo Ḥa thượng Trung
Quán tiếp tục mở mang rộng lớn thêm.
- Năm 38 tuổi
(1960) với sự hợp lực của Ḥa thượng Trung Quán, Ngài phát nguyện sùng
tạo Chùa Bàng Long với quy mô rộng lớn, thành lập Phật Học Viện Huyền
Quang, Ni bộ Đại Thừa Phật Giáo Việt Nam tại Chùa Bàng Long. Những năm
kế tiếp, Ngài đứng ra tu sửa ngôi miếu thờ Phật tại nghĩa địa Việt Kiều
VienTiane cũ thành am Phật tích, về sau trở thành Ngôi Chùa của Ni Chúng
- Tạo măi, thiết lập nghĩa trang Phật Giáo (gọi là Thánh địa Phật Giáo),
xây dựng Chùa Đại Nguyện tại nghĩa trang. Ngài cũng cho trùng tu Chùa
Bảo Quang (Chùa Tăng) và Chùa Diệu Giác (Ni) tại SavannaKhét với quy mô
rộng lớn. Trùng tu Chùa Long Vân tại Paksé, Chùa Bồ Đề tại Thà Khẹt v.v…
Bước chân của Ngài đi đến đâu, Ngài đều trang nghiêm Phật cảnh, tiếp
Tăng độ Chúng và hướng dẫn đồng bào Phật tử sống theo đúng đường hướng
giáo lư của Đức Phật.
- Do những hoạt
động Phật sự của hệ thống Phật Giáo Việt Nam tại Lào phát triển mạnh mẽ.
Do những xung đột giữa nhiều thế lực thù địch và t́nh h́nh chiến tranh
cục bộ đương thời, cộng thêm những sự việc vừa kể trên, Ngài bị t́nh
nghi là khuynh Cộng, hoạt động cho Cộng sản Việt Nam, nên Ngài đă bị
chính quyền Lào trục xuất về Việt Nam với lư do an ninh quốc gia Lào,
ngày 19/9/1969, để lại trong ḷng Tăng, Ni và Phật tử Việt Kiều tại Lào
bao nỗi xót xa kính nhớ !!!
- Tại Sài G̣n,
trong thời gian làm thủ tục hồi hương, không rơ nguyên nhân sắp xếp từ
đâu ? có một cuộc tiếp xúc giữa Ngài và ông Mai Thọ Truyền, Hội trưởng
Hội Phật Học Việt Nam Chùa Xá Lợi và ông Truyền đă mời Ngài về lưu trú
tại Chùa Xá Lợi. Ngài nhận lời mời. Sau khi an trú tại đây, việc đầu
tiên của Ngài là đánh điện thỉnh cầu Ḥa Thượng Thích Trung Quán đang
trú tại Chùa Bàng Long Vientiane hoan hỷ phát tâm đảm nhiệm Phật sự Phật
Giáo Việt Nam tại Lào, kiêm Quản trị Chùa Bàng Long. Rồi lần lượt viếng
thăm các vị Ḥa Thượng tôn túc Lănh đạo Giáo Hội, thời gian c̣n lại,
Ngài chuyên chú xem Đại Tạng Kinh tại Thư viện của Chùa.
- Năm 48 tuổi
(1970) Ngài đảm nhiệm ngôi Chùa cổ Văn Thánh tại Thị Nghè- Gia Định, do
Ḥa Thượng Thích Tuệ Đăng chuyển cúng. Ngôi Chùa được thành lập năm 1906
. Ngài trú tại đây, rồi ra công chỉnh trang, tu sửa, thay đổi cách bài
trí, biến nơi đây thành ngôi Già Lam thanh tịnh trang nghiêm.
- Ngài tôn tạo
Phật đài Quán Thế Âm lộ thiên trước Chùa uy nghiêm cao lớn, hướng mặt ra
phía ḍng sông. Một điều đáng nói ở đây là sự mầu nhiệm : Trong ngày
khánh thành an vị Phật đài và cầu siêu, chú nguyện cho các vong linh
trầm nịch hoặc tự trầm giữa ḍng sông Văn Thánh chảy ngang trước Chùa,
bất chợt xuất hiện một làn ánh sáng, xẹt từ trên cao xuống Chùa. Và cũng
từ ngày có Phật đài, số người bị trầm nịch hoặc tự trầm không c̣n xảy ra
nữa- Trong dịp này, Ngài đặt hai câu đối trước trụ cổng Chùa, phía ngoài
đường :
Văn
Thánh tự thuở tiêu danh, Đạo truyền thiên hạ
Phật
tượng giờ đây định vị, Phước rải hà sa.
Và hai câu đối
phía trong sân Chùa :
Quy
mạng Ba ngôi, Nguyện chuyển mê thành ngộ
Thọ tŕ
năm Giới, Xin bỏû ác làm lành.
- Năm 53 tuổi
(1975), Tỉnh Giáo Hội Long Khánh, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất,
gởi văn thư lên Viện Hoá Đạo, kính nhờ Viện thỉnh cho một vị Trú tŕ
Chùa Tỉnh Giáo hội. Do đó Hội đồng Viện trong phiên họp ngày 13/01/1975
đă quyết định thỉnh Ngài đảm nhiệm chức vụ Chứng Minh Đạo Sư kiêm phụ
trách Chùa Tỉnh Giáo Hội Long Khánh (Văn thư số : 014/VHĐ/VP, ngày
15/01/1975).
- Thừa mệnh
Trung Ương Giáo Hội, để hoằng dương Phật pháp, và đáp ứng nguyện vọng
của Ban Đại diện và toàn thể Phật tử Tỉnh Giáo Hội Long Khánh, Ngài đáo
nhiệm Chùa Tỉnh Giáo Hội ngày mồng 08 tháng 12 năm Giáp Dần
(18/01/1975). Nhằm ngày Vía Đức Phật Thích Ca Thành Đạo và Lễ kỷ niệm
các Bậc Tiền Bối có công với Đạo pháp và Đất nước.
- Nguyên ngôi
Chùa Tỉnh Giáo Hội Long Khánh (tên cũ là Vĩnh Khánh) do Đại Đức Nguyễn
Quảng Tấn khai sơn, cất dựng trên khu đất trồng cao su do Công ty Đồn
điền Cao su An Lộc của người Pháp tặng dữ Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất. Trong bước đầu khó khăn, Chùa chỉ được cất
dựng đơn sơ gồm một căn hai chái và một bái đường bằng vật liệu nhẹ
(1966-1967), chưa xứng danh là một ngôi Chùa Tỉnh Giáo Hội. Do đó Ngài
có ư nguyện xây một ngôi Chùa mới. Ngày 16/01 năm Ất Măo (02/1975) sau
lễ Cầu an năm mới Ngài đă huy động các Phật tử di dời ngôi Chùa và các
nhà phụ thuộc qua phía hữu, và tiến hành đào móng xây dựng Chùa mới.
Nhưng v́ thời cơ không thuận lợi. Chiến tranh lại xảy ra, nên sau đó
đành phải cất dựng lại trên nền cũ một ngôi Chùa năm gian, hai chái bằng
vật liệu nhẹ rồi Thỉnh Phật, thiết trí an vị như cũ.
- Trong dịp này,
Ngài đă đổi hiệu Chùa thành Long Thọ như ngày nay. - Như chúng ta đă
biết trong giai đoạn này vấn đề xây dựng đành gác lại. Ra sức lao động
sản xuất, tự lực cánh sinh, tạo lập vườn cây ăn trái gây nền tảng kinh
tế cho Chùa và tuỳ chuyên hành Đạo.
- Trải qua thời
gian hơn mười năm 1975-1985, đến năm 1985 mới ổn định đời sống Chư Tăng
và từng bước chỉnh trang Chùa cảnh.
- Năm 1979, Ngài
trở về Tổ Đ́nh Chùa Tây Thiên ở Huế để cư tang Ḥa Thượng Bổn sư. Sau
tang lễ, Hội đồng môn phái đă họp cử Ngài làm Trụ tŕ Tổ Đ́nh Tây Thiên
Huế. Song Ngài giao lại cho Pháp Điệt coi sóc, rồi trở vào Long Khánh
tiếp tục hoằng hoá độ sinh.
- Do công đức hộ
tŕ Tam Bảo của Ban Hộ Tự và Chư Đại Đức Tăng, Ni cùng quư vị Phật tử
thân tín xa gần, trong nước và ngoài nước, Chùa đă tuần tự thực hiện các
công tŕnh như : tu sửa nhẹ, chống mối mọt, chống dột, xây đường từ
Chánh điện ra cổng Chùa. Tường rào bao bọc khuôn viên chùa, xây Tịnh xá
Thích Trí Độ, nhà Trù, nhà Tăng, pḥng phát hành Kinh sách, tượng ảnh,
mở tiệm cơm chay lấy tên “Đại Chúng" (tạo thêm kinh tế), cất dựng Trai
đường, cũng là nhà Bát Quan trai, hiên học tập thực hành Phật pháp và
cũng là pḥng khách v.v… xây dựng Bảo tháp thờ Ngài Thích Bửu Huệ, người
có công với Đạo pháp Tỉnh nhà.
- Cũng năm
1984, Ngài đă đứng Chứng minh Khai sơn Thiền thất Thanh Qui Lan Nhă, nay
là Chùa Lan Nhă tại xă Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Năm 1987, Ngài
đứng khai sơn Lam Viên Tịnh Thất tại xă Xuân Trường, huyện Xuân Lộc,
tỉnh Đồng Nai.
- Năm 1992, đội
công ơn sâu dày Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất, Ngài trở về Cố đô Huế để hầu hạ Sư Thúc và cũng là Thúc Phụ, là
Ḥa Thượng Thích Đôn Hậu, Trú tŕ Chùa Linh Mụ Huế, nguyên Chánh Thư kư
kiêm xử lư Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Viện
chủ Chùa Linh Mụ, lâm trọng bệnh. Trên giường bệnh và trong suốt thời
gian Ḥa Thượng suy yếu, cho đến khi Viên Tịch, Ngài đă cận kề chăm sóc
và Nhận Lănh Di Huấn và Chúc
thư của Cố Đại Lăo Ḥa Thượng. V́ lẽ đó, nên Ngài gặp phải rất nhiều
khó khăn, bởi nhiều thế lực và mối bất ḥa giữa hai Giáo hội cũ và mới.
- Nên biết rằng,
Ngài đă từng là một Phụ tá đắc lực của Đức Tăng Thống (Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất). Sau lễ tang, Ngài trở vào Chùa Long Thọ. Cũng
nơi đây, Ngài lại gặp phải khó khăn giữa những ư thức hệ sai lệch ; nên
Ngài đă đột quỵ bởi cơn tai biến mạch máu năo. Nhờ sự tận tâm cứu chữa
của các Giáo sư, Bác sĩ, Y sĩ và sự ân cần chăm sóc của Môn đồ và Chư
Tăng, Ni, Phật tử nên bệnh t́nh của Ngài dần dần thuyên giảm, sau hơn
hai tháng điều trị.
- Ngài 71 tuổi
(1993), mặc dù sức khoẻ của Ngài kém sút bởi bệnh xơ vữa mạch máu năo và
bệnh tim, nhưng Ngài đă cố gắng vận động tổ chức Lễ đặt đá, để làm nền
móng cho việc kiến thiết quy mô xây dựng Ngôi Tam Bảo, nhằm ngày Vía Đức
Bồ Tát Quán Thế Âm (19- 9 năm Quư Dậu).
- Năm 73 tuổi
(1995) sau thời gian điều trị bệnh nhồi máu cơ tim, Ngài tiếp tục tiến
hành xây đúc tiền sảnh (tiền đường) và hai lầu chuông trống của Chùa.
Sau khi côngviệc hoàn tất, Ngài đặt hai câu liễn đối trước tiền sảnh:
Phật lực diệu
vô biên, Nơi đầu mảy lông, Hiện cung điện báu
Chân thân
thường đầy khắp, Ngồi trong hạt bụi, Chuyển pháp luân vương[1]
Tây Phật
điện, nam Trí Đường[1],
Trần giới Diêm Phù, Kẻ thác siêu lên, Người c̣n nỗ lực.
Nay Đạo
tràng, xưa Vĩnh Khánh, Nhân gian Cực lạc, Tuổi cao thọ vững, Đời trẻ
thăng hoa.
Hai
câu liễn đối 2 lầu chuông trống và 2 con rồng xanh tả, hữu tầng cấp tiền
sảnh:
Phật điện lên cao, Cảm ứng Trời tḥng Tán đỏ
Thiền môn yên tịnh, Cơ duyên Đất hiện Rồng xanh.
Hai
câu liễn đối trước trụ cổng Chùa :
Chùa Phật lên
cao, Kẻ hiến của, Người dâng công, Công đức trang nghiêm, thành tựu như
thế.
Cảnh thiền
Chung cả, Tăng đề cương, Tín lập nguyện, Nguyện thệ kiên cố, Xây dựng
c̣n đây …
Thật
vậy, xây dựng c̣n đây, và c̣n tiếp tục v́ công tŕnh xây dựng chỉ mới
được 1/10 theo đồ án.
- Năm
74 tuổi (1996), nhân dịp Lễ Phật Đản PL.2540, Ngài đặt hai câu đối (viết
thành băng ngang) treo trước Tiền sảnh:
Xưa, nơi
Thành Ca Tỳ Thiêng liêng, từ Cung Trời Đâu suất,
Bồ Tát Hộ
Minh, Giáng thần độ thế.
Nay, tại Chùa
Long Thọ hiện thực, trong Đại tịch Niết bàn,
Thế Tôn Tịch
Mặc, tuỳ Nguyện Ứng thân.
- Cùng năm
(1996), Ngài tùy phương tiện xây dựng Tịnh Thất (Phương tiện) để có đủ
chỗ cho Chư Tăng an trụ tu hành.
- Năm 75 tuổi
(1997) Ngài chủ trương mở rộng và chỉnh trang sân chùa, di dời 3 pho
tượng Tây phương Tam Thánh (A Di Đà-Quán Thế Âm- Đại Thế Chí) đến phía
trước, rồi trồng cây kiểng quanh sân chùa và trồng hoa, cỏ thành hai câu
liễn đối :
Tín, Hạnh, Nguyện, Siêu sanh
Cực lạc
Văn, Tư, Tu, tịnh
hoá Ta bà.
- Năm 76 tuổi
(1998) nhân lễ Phật Đản - PL.2542 và kỷ niệm Đệ thập Chu niên Kiến lập
Chùa Phật Quang tại Valence tại Pháp, Ngài gởi lời chào mừng, thăm hỏi
Cộng đồng Phật giáo Việt Nam hải ngoại tại Pháp và tặng 2 câu đối:
Phật Giáo
vươn lên, Khắp bốn biển năm châu, in dấu Tăng Già Việt Nam, xông pha
hành đạo.
Huyền Trang
hiện lại, qua ngh́n sông muôn núi, vang danh giống gịng Hồng lạc, phấn
đấu yêu đời.
Cùng năm, Ngài
về Sài G̣n, một lần nữa, tu sửa Chùa Văn Thánh và tái chỉnh sự Thờ tự
trong Chùa.
- Năm 77 tuổi
(1999), mặc dầu sức khỏe sút kém bởi nhiều chứng bệnh, nhưng Ngài đă vận
động đúc Đại Hồng Chung, làm Pháp Bảo thường trụ, và để kỷ niệm nơi Già
Lam thắng địa. Lễ rót đồng được tổ chức trọng thể ngày 16/10 năm Kỷ Măo
nhằm ngày 23/11/1999, có đông đảo Chư Tăng Ni, Phật tử và Thiện tín tham
dự. (Hồng Chung cao 2,20m nặng 1.400 kg).
- Năm 78 tuổi,
Ngài giao công việc Chùa cho Ban Quản trị Đạo Tràng và Ban Hộ tŕ Tam
Bảo, rồi chuyên tâm nghiêm mật hành tŕ Thần Chú Đại Bi và Niệm Phật Tam
Muội.
- Về việc Kiến
thiết Chùa Long Thọ, Ngài thường nói với Chư tăng và Phật tử : Chùa Linh
Mụ tại Huế, sở dĩ trở thành một danh lam thắng cảnh và là di tích văn
hoá, lịch sử của đất nước, không phải một sớm một chiều mà thành, phải
trải qua bảy đời Chúa Nguyễn và ba đời Vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu
Trị) mới hoàn thành. Xem như vậy, Chùa Long Thọ dù có trải qua năm, bảy
mươi năm hay một trăm năm xây dựng mới hoàn tất, cũng không phải là thời
gian quá dài.
- Ḍng thời gian
ngày mỗi qua đi theo định luật vô thường của vạn pháp; đă dần dà xói ṃn
đi sức khoẻ của Ngài, lại thêm bệnh cũ tái phát hành hạ, ấy vậy mà Ngài
vẫn tự tại tùy duyên tiếp tục xây dựng làm cho quang rạng cảnh Chùa. Hơn
30 năm trôi qua, kể từ ngày Ngài đặt chân đến vùng đất Long Khánh này,
biết bao nỗi buồn, vui, thăng trầm của Đạo pháp, biết bao nỗi khó nhọc
gian lao; tưởng chừng như không thể vượt qua. Nhưng với Trí, Đức và
Nguyện lực kiên cố, nên trong hoàn cảnh nào Ngài cũng đều làm cho huy
hoàng trang nghiêm cảnh Tịnh độ, dẫn dắt Đồ Chúng, giáo hoá chúng sanh.
Dưới mái Tịnh xá Chùa Long Thọ này Ngài sống một đời b́nh dị, đạm bạc,
tri túc. Ngài thường dạy Môn đồ đệ tử rằng: Hăy siêng năng tu tập theo
chánh pháp … Thực hành Pháp môn Niệm Phật Tam Muội, thọ tŕ Thần Chú Đại
Bi và Kinh Pháp Hoa v.v… kết tinh những chất liệu ấy, để lợi lạc tự tha
theo hạnh nguyện của người xuất gia hành đạo.
THỜI GIAN
VIÊN TỊCH
:
- Trong suốt đời
hoằng pháp lợi sanh, là chứng nhân biết bao giai đoạn lịch sử của Đạo
pháp và đất nước. Ngài là bậc chân tu khả kính, xem danh lợi như phù vân.
Luôn luôn tinh tấn, nhiếp tâm nhẫn nhục. Đối với những bậc bề trên th́
Ngài khiêm cung với người dưới th́ từ ḥa lân mẫn, lúc nào cũng tận tuỵ
dạy bảo, gần gũi cảm thông, với đệ tử th́ hoan hỷ yêu thương. Nhưng với
bản thân th́ Ngài luôn luôn khắc kỷ.
- Đối với đạo
pháp, Ngài là một nhà lănh đạo, nhà giáo dục lỗi lạc; làm rạng rỡ cho
Phật giáo Việt Nam một thời. Cùng đức hạnh và Giới luật tinh nghiêm,
Ngài là một tấm gương ngời sáng cho Tăng, Ni nhiều Thế hệ.
- Đối với gia
đ́nh, Ngài là một người con chí hiếu. Sau chiến tranh, năm 1972, trở về
thăm ngôi Chùa của gia tộc, Ngài tự tay sửa sang tu bổ. Theo lời các
phật tử Chùa Văn Thánh kể lại rằng : Có lần Thân mẫu Ngài bệnh nặng, nằm
liệt không đi lại được, Ngài đă lập Đàn Dược Sư 108 ngày bái sám và phát
nguyện : Con xin giảm 10 năm tuổi thọ để cho mẹ con được b́nh phục. Lời
nguyện chí hiếu trên như đă làm cảm động trời đất, nên sau đó mẹ Ngài đă
khoẻ hẳn ra.
- Những tưởng
Ngài măi là ánh sao mai, là ngọn hải đăng chiếu soi, dẫn dắt chúng sanh
trong đêm tăm tối, măi trên lộ tŕnh phụng sự đạo pháp, hóa độ chúng
sanh, măi măi là bậc Thầy khả kính che chở, d́u dắt chúng con, nào ngờ,
duyên trần đă măn, Ngài an nhiên niệm Phật đi vào cơi tĩnh lặng Niết Bàn.
Vào
lúc : 17.00 giờ, ngày 08 tháng 01 năm 2010 (nhằm ngày 24/11/ Kỷ Sửu )
tại Chùa Long Thọ, tỉnh Đồng Nai.
Ngài
trụ thế 87 tuổi, 59 Hạ lạp.
Nam Mô Lâm Tế
Chánh Tông Tứ Thập Tam Tế. Trùng kiến Long Thọ Tự Chứng Minh Đạo Sư, Tây
Thiên Di Đà Tự Trú Tŕ, Đệ nhị Cố vấn Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất, Húy Thượng Tâm Hạ Khai, Tự Thiện Giác, Hiệu Trí Ấn
Nhật Liên, Ḥa thượng Giác Linh thùy từ Chứng giám.

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG
NHẤT HẢI NGOẠI tại ÚC ĐẠI LỢI – TÂN TÂY LAN
The Unified Vietnamese Buddhist Congregation Of Australia – New Zealand
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
* Văn Pḥng Hội Chủ, Chùa Pháp Hoa, 20 Butler Ave, Pennington, SA 5013,
Australia
Tel 08-84478477 ; Fax 08-82401758 ; Email phaphoanamuc@yahoo.com
* Văn Pḥng Tổng Thư Kư, Chùa Pháp Quang, 12 Freeman Rd, Durack, QLD
4077, Australia
Tel 07-33721113 ; Mobile 0402-442431 ; Fax 07-33729988
Websie :
http://www.phatgiaoucchau.com/
Thông Tư
Tổ Chức Lễ Tưởng Niệm
Cố Ḥa Thượng Thích Nhật Liên
03-31/HĐĐH/TT
Ngày 15 tháng 1 năm 2010
Kính gửi: - Chư Tôn Đức Tăng Ni
GHPGVNTNHN
tại Úc Đại Lợi
– Tân Tây Lan
-
Quí vị Trú Tŕ các cơ sở, tự viện thành viên Giáo Hội.
Ḥa Thượng Thích Nhật Liên, phụ tá
đức đệ tam Tăng Thống kiêm Chánh Văn Pḥng Viện Tăng Thống, Cố vấn kiêm
giáo thọ sư Phật học đường Nam Việt (1950-1951); đệ nhị cố vấn Viện Tăng
Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất… vừa viên tịch tại chùa
Long Thọ, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai - Việt Nam lúc 17 giờ ngày 08 tháng
1 năm 2010, trụ thế 87 năm và 59 hạ lạp.
Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội chúng
ta đă gởi lời phân ưu đến môn đồ pháp quyến và Ban Tổ Chức tang lễ tại
Việt Nam. Nhưng với hạnh nguyện và công đức cao dày của Ngài, nơi hải
ngoại Giáo Hội Úc cũng tổ chức lễ Tưởng Niệm cố Hoà Thượng ngày giờ và
địa điểm như sau:
Chủ
nhật ngày 31 tháng 1 năm 2010 (nhằm 17 tháng Chạp năm Kỷ Sửu)
Vào lúc 14
giờ, tại Tu Viện Quảng Đức
105 Lynch
Road, Fawkner, Victoria 3060.
Điện thoại:
(03) 9357 3544
Email:
tvquangduc@bigpond.com
Trân trọng kính thông tư đến chư
Tôn Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và đồng kính mời quí Ngài
cùng quí vị hoan hỷ thể theo đạo t́nh về tham dự lễ tưởng niệm Ḥa
Thượng cố vấn Viện Tăng Thống GHPGVNTN.
Kính chúc quí Ngài và quư vị vô
lượng an lạc.
Thay mặt HĐĐH,
Phó Hội Chủ,
Ḥa Thượng Thích Bảo Lạc

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG
NHẤT HẢI NGOẠI tại ÚC ĐẠI LỢI – TÂN TÂY LAN
The Unified Vietnamese Buddhist Congregation Of Australia – New Zealand
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
* Văn Pḥng Hội Chủ, Chùa Pháp Hoa, 20 Butler Ave, Pennington, SA 5013,
Australia
Tel 08-84478477 ; Fax 08-82401758 ; Email phaphoanamuc@yahoo.com
* Văn Pḥng Tổng Thư Kư, Chùa Pháp Quang, 12 Freeman Rd, Durack, QLD
4077, Australia
Tel 07-33721113 ; Mobile 0402-442431 ; Fax 07-33729988
Websie :
http://www.phatgiaoucchau.com/
SỐ 03-30/HĐĐH/HC/TTCĐ PHẬT LỊCH 2553, Úc Châu
ngày 10 tháng 01 năm 2010

Tri Tán Công Đức
Và góp phần tổ chức Lễ Cầu
Siêu Tưởng Niệm
Ḥa Thượng thượng Tâm hạ Khai
hiệu Nhật Liên vừa viên tịch tại Việt Nam.
Kính bạch Chư Tôn Trưởng Lăo Ḥa Thượng chứng minh
Kính bạch Chư Tôn Đức Ban Tổ Chức Tang Lễ
Kính bạch Chư Tôn Ḥa Thượng, Chư Thượng Tọa, Chư Đại Đức Tăng, Ni
Kính thưa Chư Tăng Ni cùng quư Môn đồ, Pháp quyến
Được tin cẩn báo Trưởng lăo Ḥa Thượng thượng Tâm hạ Khai, tự Thiện Giác,
hiệu Trí Ấn Nhật Liên, đă an nhiên thâu thần thị tịch ngày 08-01-2010,
nhằm ngày 24 tháng 11 năm Kỷ Sửu tại quê nhà Việt Nam, sau 87 năm trụ
thế hoằng hóa độ sanh, công viên quả măn.
Ḥa Thượng nguyên Phụ tá Đức Tăng Thống kiêm Chánh Văn Pḥng Viện Tăng
Thống; nguyên Đạo Thống Phật Giáo Việt Nam tại Lào kiêm Trú tŕ Chùa
Bàng Long tại Vientiane; đương vi Trụ tŕ Tổ đ́nh Tây Thiên, Huế; Chứng
minh Đạo sư kiêm Viện chủ Chùa Long Thọ, Long Khánh, Đồng Nai; Trụ tŕ
Văn Thánh Cổ Tự, B́nh Thạnh, Sài G̣n.
Sự thuận thế theo ḍng chuyển hóa vô thường của Ngài, là một mất mát lớn
lao của Phật Giáo Việt Nam quốc nội hải ngoại nói chung, với Tây Thiên,
Long Thọ, Văn Thánh nói riêng, nhất là môn đồ, pháp quyến từ nay vắng
bóng nương tựa một bậc Tôn Sư đạo cao đức trọng.
Để tri tán công đức và hành trạng của một bậc Cao Tăng đại thụ, Giáo Hội
PGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi—Tân Tây Lan xin chân thành chia sẻ cùng
với Chư Tôn trong nước, ngoài nước, với Chư Tôn Đức Tăng Ni 3 ngôi Cổ Tự
tại Huế, Đồng Nai, Sài G̣n và quư Môn đồ, Pháp quyến. Đồng thời, tất cả
cơ sở Chùa, Viện thuộc Giáo Hội Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan chúng tôi sẽ
trang nghiêm tuỳ nghi tổ chức tại từng trụ xứ những Buổi Lễ Cầu Siêu
Tưởng Niệm trong thời gian Tang Lễ và Thất Thất Trai Tuần dâng lên Giác
linh Ḥa Thượng.
Nhất tâm cầu nguyện Giác Linh Đức Trưởng lăo Ḥa Thượng cao đăng Phật
Quốc, tiếp tục hạnh nguyện độ tha, hồi nhập Ta Bà, cứu độ quần sinh, góp
phần giải cứu và xây dựng thanh b́nh cho Quê hương, Dân tộc và Phật Giáo
Việt Nam.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thành tâm cung bái,
- Chư Tôn Đức Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương
- Chư Tôn Đức Hội Đồng Điều Hành
- Chư Tôn Đức Viện Chủ, Trụ Tŕ tất cả cơ sở Chùa, Viện Giáo Hội

Một cây Đại Thọ trong
Rừng Già
Không hiểu tại
sao khi hay tin viên tịch, tôi lại bị cuốn hút về Người, để rồi
mường tượng một cây đại thọ đường đường nhưng âm thầm kỳ bí trong
rừng già cổ kính, hay một v́ sao sừng sững giữa ṿm trời nhưng ẩn
kín giữa thâm u. Và cái h́nh ảnh ấn tượng của một ngày tháng năm nào
hiện rơ trong tôi vô cùng sâu sắc. Nên xin mao muội viết để dâng lên
Người, lặng lẽ như ngũ phần hương bàng bạc trầm lắng bi hùng.
Người ra đời
năm 1923 tại Triệu Phong, Quảng Trị, tỉnh phía Bắc Kinh Đô Huế một
thời, tỉnh biên thùy với Quảng B́nh 21 năm khói lửa, một tỉnh khô
cằn cát đá đất hẹp người thưa của Miền Trung nước Việt. Người ra đi
năm 2010 tại Long Thọ, Đồng Nai, một tỉnh của Miền Đông Đất Đỏ, một
tỉnh của Lục tỉnh Miền Nam - tôi không muốn dùng chữ Nam Kỳ, Trung
Kỳ, Bắc Kỳ, cái từ oái ăm của 100 Tây thuộc đô hộ, và cái chữ Kỳ di
họa cho tới hôm nay, có tính phân chia, nặng tính địa phương mà dân
tộc gánh chịu - chứ không phải ra đi tại Bàng Long Lào quốc, Tây
Thiên Huế, hay Văn Thánh Thị Nghè. 87 năm trên trần thế, 74 năm uy
đức thiền môn, 59 hạ lạp hoằng dương tế độ, vô t́nh hay nhân duyên
gắn liền chữ Thọ trong rừng già, và nay mai, Bảo Tháp sẽ được nằm
yên nơi Long Thọ.
Mới 13 tuổi đă
thế phát xuất gia, 18 tuổi thọ Sa Di, 30 tuổi mới thọ Đại Giới. Thời
Sơ đẳng, bạn đồng học với Người bấy giờ là quư Ngài Trí Quang, Thiện
Minh, Thiện Siêu,… 22 tuổi được cử vào giảng dạy Lưỡng Xuyên Phật
Học, Trà Vinh. 23 tuổi, Sơn môn Tăng già B́nh Thuận thỉnh mời ra
giảng dạy tại Phan Thiết. 24 tuổi, làm Giảng sư Tỉnh Hội và cùng
thành lập Phật học đường Quảng Trị. 28 tuổi giảng dạy các trường
Phật học tại Huế. Cuối năm 28 tuổi, Người vào Sài G̣n, nhận lănh
chức vụ Cố vấn, Giáo thọ Phật Học Đường Nam Việt mà học tăng bấy giờ
là quư Ngài Từ Thông, Huyền Vi, Thiền Định, Thanh Từ,… chủ biên tạp
chí Từ Quang. Chính Người đề nghị đổi chữ Chùa Ứng Quang thành Chùa
Ấn Quang, Trụ sở Trung Ương của Giáo Hội Thống Nhất sau này cho tới
khi bị cưỡng đoạt. 29 tuổi (1951), Người là một trong 51 vị Đại biểu
toàn quốc, và là một trong 7 thành viên Phái đoàn Phật Giáo Nam Việt
tổ chức họp Hội nghị thống nhất Phật Giáo Việt Nam tại Chùa Từ Đàm,
thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, tiền thân của Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất. Xin mở một dấu ngoặt và đóng một dấu ấn
nơi đây, rằng, một Sa di mà đă phụng hiến cho Đạo Pháp, xây dựng cho
Giáo Hội đến ngần ấy, huống chi từ 30 tuổi Tam Đàn Cụ Túc, vân du
hoằng hóa hết Miên tới Lào, quay về Việt Nam âm thầm xiểng dương
chánh pháp, chống đỡ căn nhà Phật Pháp, gánh vác Giáo Hội, oan khiên
cùng vận mệnh cho đến cuối đời,… Muốn tận tường về cây Đại thọ trong
rừng già Phật Giáo, xin đọc Tiểu sử sẽ rơ phần nào trong muôn một
hành trạng, công đức của Người.
Người
chính là: Nam Mô Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Trùng kiến Long
Thọ Tự Chứng Minh Đạo Sư, Tây Thiên Di Đà Tự Trú Tŕ, Đệ Nhị Cố Vấn
Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, húy thượng
Tâm hạ Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên, Trưởng lăo Đại Sư.
Nên nhớ và nên
biết rằng, năm 1992, chính Ngài nhận lănh Di Huấn, Chúc Thư, Ấn Tín
của Đức Đệ Tam Tăng Thống, Trưởng lăo Ḥa Thượng Thích Đôn Hậu, khi
Ḥa Thượng Thích Huyền Quang, Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo,
vượt được ṿng kềm tỏa Hội Phước Quảng Ngăi ra bái yết dâng hương
lên kim quan di ảnh Đức Đệ Tam tại Chùa Thiên Mụ Huế, th́ ngay tại
nơi đây, vào ngày 02-5-1992 trước kim quan Đức Đệ Tam, từ tay Ngài
Nhật Liên trao lại và Ngài Huyền Quang đưa hai tay đón nhận Di Huấn,
Chúc Thư, Ấn Tín của Viện Tăng Thống. Trong khung cảnh trang nghiêm
bi thiết hằn lên đậm nét dấu tích lịch sử này, và nh́n vào những
tấm h́nh
kia, ai mà không cảm kích, động năo tâm tư, xao xuyến đáy ḷng.
Dấu ấn bi hùng bi nguyện sâu xa nhất của Giáo Hội Thống Nhất đă 17
năm kể từ 1975. Và từ đó Văn Pḥng Lưu Vong Viện Tăng Thống được
thiết lập theo bước chân lưu đày Ngài Huyền Quang, Xử Lư Thường Vụ
Hội Đồng Lưỡng Viện.
Nên nhớ và nên
biết rằng, từ Ấn tín đó mới có Văn Pḥng Lưu Vong lưu đày Quảng Ngăi,
tới quản thúc nguyên quán lao tù. Vào năm 2003, qua một Đại hội Bất
Thường tại Nguyên Thiều B́nh Định, và qua một
Đại Hội Đại Lễ Suy Tôn, ủy thác Giáo Hội Úc Châu tổ chức tại Tu
Viện Quảng Đức, Melbourne, Ngài Huyền Quang chính thức lên
ngôi vị Đệ Tứ Tăng Thống, cho đến ngày viên tịch cũng tại nguyên
quán quản thúc B́nh Định Nguyên Thiều vào Mùa Hạ năm 2008. Giáo Hội
Thống Nhất vĩnh biệt Đức Tăng Thống đời Thứ Tư.

HT Nhật Liên trao ấn tín đến HT Huyền Quang
(xem
h́nh lớn hơn)
Nên nhớ và nên
biết rằng, Giáo chỉ số 10 của Đức Đệ Tứ Tăng Thống lập tại Nguyên
Thiều ngày 02 tháng 12 năm 2007, ở Điều 1 Cung thỉnh Chư Tôn Đức
đăng lâm pháp tịch Thành viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện
Tăng Thống, th́ Ḥa Thượng Nhật Liên đứng vị trí thứ 4 sau các Ngài
Huyền Quang, Quảng Độ, Bảo An. Ḥa Thượng Thiện Hạnh, đương vi Chánh
Thư Kư Viện Tăng Thống hiện nay đứng vị trí thứ 5, theo Giáo chỉ này.
Nên nhớ và nên
biết rằng, Ngài Nhật Liên, là Phụ tá đắc lực Đức Đệ Tam và Đệ Tứ,
bởi trọng nhiệm nhận lănh và trao lại Dấu Ấn Viện Tăng Thống đó, mà
bị thời bị thế, bị trong bị ngoài làm đảo điên, năo loạn, gây cho
Ngài đột quỵ, nhồi máu cơ tim, thọ bịnh suy thân, ảnh hưởng rất
nhiều công cuộc phụng hiến cho đạo cho đời, làm cho Ngài cạn kiệt và
đưa đến sự Tây qui sớm như đă diễn ra.
Nên nhớ và nên
biết rằng, Đức Trưởng lăo Ḥa Thượng Nhật Liên đă an nhiên thâu thần
thị tịch vào lúc 5 giờ chiều (giờ VN) ngày 08-01-2010, nhằm ngày 24
tháng 11 năm Kỷ Sửu tại Chùa Long Thọ, tỉnh Đồng Nai, trụ thế 87
tuổi. Tang lễ bắt đầu từ đó cho tới 10 giờ sáng ngày 14-01-2010 nhằm
ngày 30 tháng 11 Kỷ Sửu, kim quan của Ngài sẽ nhập Bảo Tháp, tôn ảnh
linh vị của Ngài sẽ được an trí tại Tổ đường Long Thọ nơi đây.
Nên nhớ và nên
biết rằng, sự viên tịch của Ngài, do Tăng Chúng Tổ Đ́nh Tây Thiên
Huế, Tăng Chúng Chùa Long Thọ Đồng Nai, Tăng Chúng Chùa Văn Thánh
Sài G̣n và môn đồ đệ tử nghiêm cẩn đồng cáo bạch ngày 09-01-2010.
Nên nhớ và nên
biết rằng, Ban Tổ Chức Tang Lễ của Ngài đă được cung thỉnh chức sự.
Chứng Minh: Trưởng lăo Ḥa Thượng Thích Trí Quang, Trưởng lăo Ḥa
Thượng Thích Diệu Tâm ; Cố Vấn: Ḥa Thượng Thích Thiện B́nh, Chùa
Long Sơn, Nha Trang ; Trưởng Ban: Ḥa Thượng Thích Đức Chơn, Viện
chủ Tu viện Già Lam, Sài G̣n.
Nên nhớ và nên
biết rằng, Ban Nghi Lễ Tang Lễ của Ngài đă được bái thỉnh cung an.
Chứng Minh: Trưởng lăo Ḥa Thượng Thích Trí Quang, Trưởng lăo Ḥa
Thượng Thích Diệu Tâm ; Chấp Lệnh: Ḥa Thượng Thích Liêm Chính, Ḥa
Thượng Thích Phước Trí ; Đệ nhất Sám Chủ: Ḥa Thượng Thích Huệ Ấn,
Đệ nhị Sám Chủ: Ḥa Thượng Thích Huệ Tâm.
Chúng tôi t́m
thấy và chỉ mới đọc được Cáo Bạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Hoa Kỳ đề ngày 08-01-2010 ; Điện Thư Phân Ưu của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Canada đề ngày
08-01-2010 ; Điện Thư Phân Ưu của Hội Thân Hữu Già Lam đề ngày
09-01-2010 ; Tri Tán Công Đức Thư của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan đề ngày 10-01-2010
; Một số Thư Phân Ưu, hoặc Điện Thư của các Tự Viện, hoặc cá nhân,
chứ chưa nhận và t́m thấy những Giáo Hội, hay danh xưng khác, sau
này nếu có và nếu cần xin bổ túc thêm.
Một cây đại thọ
trong rừng già, giữa núi non trùng điệp, giữa thung lũng dốc đèo,
giữa ḥn chồng đá tảng, sừng sững nhưng âm thầm, uy đức nhưng khiêm
cung, ghi những dấu ấn và đóng những dấu ấn bi hùng trong lịch sử
Phật Giáo Việt Nam cận đại. Xin viết đôi ḍng dâng lên Ngài với tấm
ḷng chân thành ngưỡng phục.
Kính dâng Giác
linh Ḥa Thượng
Úc
Châu ngày 12-01-2010
Tỳ Kheo Thích Nhật Tân

Ngưỡng Vọng
Hành Trạng Ngài Nhật Liên
Xin
kính ngưỡng hướng về, một Cây Đại Thọ trong Rừng Già
Đă
khuất bóng giữa núi non, đồi dốc, hố sâu, ḥn chồng, đá
tảng
74
năm trường, xuất gia, học đạo, hoằng dương, trau dồi huệ
mạng
87
năm một cuộc lữ, âm thầm gánh vác Đạo – Đời, nặng trĩu
hai vai
Thượng hoằng Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh, hạnh nguyện
miệt mài
Danh lợi, địa vị, quyền uy, như đôi dép bỏ
Quảng Trị địa linh nhân kiệt, thời nào cũng có
Có
linh mới có kiệt, xuất chúng siêu quần
Có
lực mới có hồn, bạt thế siêu nhân
Là
núi là sông, là khí là phách, của Miền Trung Nước Việt
Ḥa
cùng Miền Bắc, hiệp cùng Miền Nam tổ quốc
Vững tay chèo, kèo tay lái giữ ǵn Đạo pháp, Quê hương
Dắt
díu nhau đi trên khắp nẻo đường
Khi
ḥa hóa, khi nhu cương, để thắm tô giang sơn gấm vóc
Thế
mới gọi là, Đạo Pháp và Dân Tộc
Thế
mới gọi là, Phật Giáo và Quê Hương
Từ
bi réo gọi t́nh thương
Đan
tâm xây đắp cành dương óng vàng
Vai này, Đạo Pháp cưu mang
Vai kia, non nước thênh thang ba
miền
Đạo mầu thấm nhuận hồn thiêng
Non sông ôm ấp nối liền t́nh quê
Sống sao trọn vẹn ước thề
Núi cao chớ hỏi Tào Khê làm ǵ
Một đời, tâm lực vô ngh́
Bách niên ư hữ, cớ chi thế trần
Nhẹ hơn một áng phù vân
Trong hơn sương trắng tỏa vầng thiều
quang
Một Sa di, chim ngàn c̣n mỏi cánh
Khi Sa môn, phi mă sánh sao bằng
Hạnh vô cùng, nguyện vô tận, đức
khiêm cung
Nên đời Ngài khắc ghi nhiều dấu ấn
Một Sa di, mà đă dự hội sao cho
nhất thống
Một Sa di, mà làm Giảng sư, Giáo
thọ thiền lâm
Tam đàn cụ túc, chấn động sơn môn
Du hóa sang Miên, sang Lào tế độ
Kế thế trụ tŕ Tây Thiên Thầy Tổ
Trùng kiến Long Thọ, Chứng minh Đạo Sư
Văn
Thánh cổ tự, hưng chấn thiên tư
Nhận trao Ấn Tín, Tam - Tứ Tăng Thống
Không sư tử hống, mà c̣n hơn sư tử hống
Không hổ hùm thiêng, mà c̣n hơn hổ hùm thiêng
Một
tiếng chuông ngân, vang vọng mọi miền
Một
cây đại thọ, tàng che bóng phủ
Tăng Thống, Phụ tá hai đời, đủ hay chưa đủ
Lịch sử Phật Giáo, truyền trao, thiếu hay rằng thừa
Trời chẳng dám dùng dằng, đất chẳng dám dây dưa
Nào
nghĩa lư nội ngoại ỡm ờ thời thế
Đầu
trần góc bể
Chân duỗi thiên nhai
Đời
– Đạo hai vai
Càn
khôn nể mặt
Một
v́ sao sừng sững giữa ṿm trời, đă tắt
Một
đại thọ giữa rừng già, thũng gốc Tây qui
Một
cuộc huyễn sinh, tụ th́ đến, tán th́ đi
Nhưng nghĩa nặng t́nh sâu, cho rừng khuya khua bóng núi
Vẫn
c̣n kia, Đệ tử, Môn đồ, Pháp lữ
Vẫn
c̣n đây, Đạo pháp, Dân tộc, Quê hương
Sen
vàng chín phẩm Tây Phương
Ta
Bà hồi nhập mở đường độ sanh
Ḱa
xem mây trắng trời xanh
Vô
Ưu một đóa trên cành thiên thu
Ta Bà c̣n lắm chỗ dư
Ngài mau quay gót độ người thế
nhân.
Úc Châu, ngày 13-01-2010
Thích Nhật Tân kính bái
Trở về
Mục Lục
|