|
|
![]()
THƠ TÙ HT Thích Quảng Ðộ
I. THƠ TRONG TÙ
Từ ngày 6/4/1977 đến ngày 10/12/1978
TỰ THUẬT
Thân ta trong chốn lao tù Tâm ta vằng vặc trăng thu mặt hồ Bao trùm khắp cõi hư vô Lao tù đâu thể nhiễm ô tâm này Mặc cho thế sự vần xoay Tâm ta vẫn chẳng chuyển lay được nào Ngọc thiêu mầu thắm biết bao 1 Sương càng phủ trắng tùng cao ngất trời Trăng tròn khuyết biển đầy vơi Mây bay gió thoảng cuộc đời sợ chi!
1 Lấy ý trong câu: “Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận” của thiền sư Ngộ Ấn, đời Lý. Ðại ý: Viên ngọc ở trên núi bị đốt mầu sắc vẫn tươi thắm.
MƠ ƯỚC NGÀY VỀ
Ngày trở về đường tôi đi thênh thang rộng mở ánh nắng chan hòa mùa xuân tươi sáng và đầy vườn hoa nở chim ca gió thổi vi vu nghìn khúc nhạc hòa qua những hàng cây sum suê trải dài bóng mát thoang thoảng không gian một mùi thơm ngát của hương trời lá thắm cỏ non khắp nẻo đường tôi đi những tà áo xinh tươi vờn theo ngọn gió dưới nắng vàng cành liễu thướt tha tiếng cười vui vang lên từ khắp mọi nhà hòa lẫn tiếng trẻ thơ ê a tập hát mọi người nhìn nhau qua ánh mắt của tình người của trìu mến thiết tha sau hàng phượng vĩ dưới mái trường xưa thầy trò hoan ca ngày mở hội thôi hết rồi những năm dài tăm tối sống đọa đầy tủi nhục lầm than những năm dài áp bức bạo tàn đã vĩnh viễn chôn vùi trong dĩ vãng đất nước hôm nay muôn mầu rực sáng đời tự do hoa nở thắm tươi hạnh phúc trên môi hé nở nụ cười như chào đón một mùa xuân bất tận thôi hết rồi những năm thù hận tình thương yêu mở lối tương lai người với người tay trong tay cùng ước mơ xây dựng ngày mai trong thanh bình ấm no hạnh phúc cùng điểm tô non sông gấm vóc sáng đẹp muôn đời Tổ quốc Việt Nam!
PHÁP ÂM BẤT TUYỆT
Trên đỉnh núi Tu Di vào một đêm trăng huyền ảo tôi đứng nhìn vũ trụ bao la giữa khoảng thái hư vô cùng vô tận tôi thấy hằng triệu triệu thiên hà khắp trong ba nghìn đại thiên thế giới từ những tinh cầu âm vang vọng tới tôi nghe tiếng nhạc mầu nhiệm tuyệt vời và tràn đầy không gian mùi hương trời kỳ diệu trên mặt đại dương ánh trăng phản chiếu lung linh ngời sáng trông như biển ngọc lưu li và trên những bãi cát vàng ánh trăng trải dài bát ngát như những tấm thảm khổng lồ dệt bằng muôn ức triệu hạt kim sa rồi đưa mắt nhìn quanh thế giới Sa bà trên mặt địa cầu tôi thấy đỉnh núi Linh Sơn đang chìm trong những phút giây thần bí từ trời Ðao lị đến cung Dạ ma từ cõi Phi phi tưởng đến cung Ðâu suất đà và từ nhiều cõi khác số lượng hằng sa tôi thấy tất cả trời, rồng, A Tu la đêm nay đều đến đây tụ hội để nghe pháp âm của Phật thủa nào đang còn vang dội khắp núi rừng tịch mịch thâm u thời gian như ngừng đọng lại sát na là khoảng thiên thu Linh sơn đêm nay là Linh sơn trong quá khứ xa xưa và trên tòa sư tử nguy nga tôi thấy đức Phật tay cầm liên hoa trong một phút giây kỳ tuyệt khai thị diệu pháp Thượng thừa giữa vô lượng thiên long Thánh chúng im lặng bao trùm đại chúng tôi chỉ thấy Ca diếp Tôn giả mỉm cười nụ cười thần bí cũng như Linh sơn thần bí đêm nay rồi sau này vẫn tại nơi đây một triệu năm trăm nghìn năm tới khi Bồ tát Di lặc ra đời Linh sơn sẽ là đạo tràng của Long hoa pháp hội ôi! Huyền nhiệm làm sao núi rừng hùng vĩ Linh sơn đời đời vang dội DÒNG PHÁP ÂM BẤT TUYỆT
Xuân Mậu Ngọ (1978) (15 tháng 2 kỷ niệm Ðức Phật nhập diệt)
TIM ÐỘNG
Màn đêm dày đặc phủ xà lim Có vật gì rơi giữa khoảng im Lắng mãi tôi nghe rồi mới biết Thì ra tiếng động của con tim.
TÂM CỰC LẠC
Tây phương Lạc quốc với Sa bà đường về khoảng cách độ bao xa? không gian cõi Phật mười muôn ức 1 nhưng là khoảnh khắc tại tâm ta
Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta gió thổi vi vu khúc nhạc hòa chim hót vang rền tuyên diệu pháp lưng trời đổ xuống trận mưa hoa
Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta Phật phóng hào quang chói sáng lòa chín phẩm sen hồng hương ngát tỏa Thánh hiền tụ hội số hằng sa.
Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta sen nở vừa xong thấy Phật đà Cực lạc đây rồi: tâm ta đó rời tâm tìm kiếm lại càng xa. Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta trở lại sinh trong cảnh ác tà lăn lộn nổi chìm đời ngũ trược nhưng mà ta vẫn lại là ta.
1 Mười muôn ức cõi Phật là một trăm vạn triệu cõi Phật; mỗi cõi Phật là một nghìn triệu thế giới, mỗi thế giới gồm một quả đất, một mặt trời, một mặt trăng. Như vậy cách nhau xa lắm. Nhưng đối với Phật pháp vô biên thì có gì xa, vì vô biên thì không có trung tâm điểm mà chỗ nào cũng trung tâm cả, thành ra không có xa, không có gần.
MÙI THIỀN
Giờ phút trầm tư nếm vị Thiền lâng lâng không bợn chút ưu phiền ngục thất dầu sôi thành cam lộ lao tù lửa bỏng hóa hồng liên gông cùm giam hãm ngoài tam giới xiềng xích buộc ràng vượt cửu thiên sống chết vui buồn tâm tự tại cành dương rửa sạch nghiệp oan khiên.
CHIỀU NGHE NHẠN KÊU
Chiều buồn nghe tiếng nhạn reo thả hồn Thục đế bay theo mây ngàn bình bồng trôi khắp không gian bạn cùng trăng gió cho tan sầu đời hồn lên tận cõi chơi vơi hỏi nàng Chức nữ: “Cung trời buồn? vui?” châu rơi nàng bỗng sụt sùi rằng: “Ðây cũng khổ như người trần gian tháng ngày thiếu vắng Ngưu lang đơn côi chiếc bóng chứa chan lệ sầu!” hồn nghe cau mặt lắc đầu: “Cõi trời mà thế tìm đâu hết buồn?” biệt nàng hồn vội đi luôn xà lim trở lại hồn buồn hơn xưa ngoài trời tầm tã cơn mưa giật mình tỉnh dậy giấc mơ vừa tàn nhớ câu “Tam giới vô an” 1 chỉ còn một cảnh Niết bàn yên vui.
1 Ba cõi như nhà cháy không yên ổn. Chữ trong kinh Pháp Hoa.
VÔ THƯỜNG
Qua kẽ xà lim chỉ mấy ly nhìn ánh triêu dương thật diệu kỳ thế giới ba nghìn đang chuyển động trong từng mảy bụi nhỏ vi ti
trên cành lá đọng giọt sương mai hạt ngọc lung linh ánh sáng ngời cơn gió thoảng qua cành lay động đột nhiên tan biến một thân người
Giây phút thời gian cứ đẩy xô giành giật cùng tôi một trận đồ mỗi lần nghe nhịp tim tôi đập tôi tiến gần hơn đến nấm mồ
Tà dương rơi rớt sau núi tây thế sự bình bồng theo áng mây thời giờ trôi chảy như dòng nước tóc bạc lúc nào tôi không hay Ngồi buồn tôi nhớ tới Hạng vương lấp biển dời non sức chẳng thường một thoáng cơ đồ sương ngọn cỏ nghìn thu uất hận sóng Ô giang
Ngồi buồn tôi lại nhớ Thủy hoàng sự nghiệp kinh thiên “Vạn lý tràng” 1 đom đóm lập lòe soi vết cũ Sa khâu 2 lạnh lẽo nắm xương tàn.
1 Tức Vạn Lý trường thành, một công trình đã khiến cho hàng trăm nghìn người bỏ mạng. 2 Sa là cát, khâu là gò, tức gò cát hoặc nấm mộ cát (TV chú).
XUÂN SANG
Rộn ràng tiếng én báo xuân sang lòng tôi nguội lạnh nắm tro tàn đạo pháp bao trùm màn ảm đạm giang sơn phủ kín lớp mầu tang áp bức đọa đày đời khổ nhục đói nghèo rách nát kiếp lầm than thẫn thờ đứng tựa khung cửa ngục nhìn bóng xuân sang mắt lệ tràn.
XUÂN NHỚ MẸ
Mỗi lần xuân đến gợi thêm sầu con ở phương này mẹ ở đâu Nam Bắc đôi bờ dòng nước bạc trông vời bóng mẹ khuất ngàn dâu
Con đi từ độ trăng tròn ấy trải mấy xuân rồi xuân viễn phương’ trên vạn nẻo đường con cất bước cõi long vương nặng mối sầu thương
Mái đầu mẹ nhuộm mầu sương tuyết chồng chất đôi vai lớp tuổi đời con muốn thời gian ngừng đọng lại cho mùa xuân mẹ mãi xanh tươi
Thời gian vẫn cứ lạnh lùng trôi Hoa úa tàn phai trái chin muồi chua xót lòng con niềm hiếu đạo chân trời xa cách lệ tuôi rơi. 1
1 Bài này tôi làm từ năm 1964, nhưng đưa vào đây để khỏi bị thất lạc.
LẠY MẸ
Hơn hai mươi bảy năm trời cách biệt mắt mẹ đã mờ vì nhớ thương con mẹ trông chờ bao ngày tháng mỏi mòn nhưng chỉ thấy mây bay và gió thoảng mẹ có ngờ đâu đời con phiêu lãng như cánh chim trời xiêu bạt bốn phương để giờ đây trong cảnh ngộ đau thương cảnh tù ngục tối tăm và buồn thảm con hối hận từ đáy sâu tâm khảm đạo thần hôn 1 đã lỗi phận làm con tám mươi tuổi mẹ có còn mạnh khỏe hay hạc vàng đã cất cánh bay cao cứ đêm đêm theo dõi những vì sao nhìn Bắc đẩu con tuôn trào nước mắt con quì xuống chắp hai tay trước ngực: “Lạy đức Từ Bi cứu độ mẫu thân cõi Sa bà khi mẹ đã mãn phần cảnh Cực lạc là quê hương an dưỡng” lòng chí thành nguyện cầu trong tâm tưởng tháng năm dài con chỉ biết thế thôi nghĩa thù ân chua xót lắm mẹ ôi con lạy mẹ trăm nghìn muôn ức lạy!
1 Thần hôn: hôn định thần tỉnh, nghĩa là buổi hôm phải hầu cha mẹ cho định giấc ngủ, buổi sáng phải thăm cha mẹ xem có được yên không.
II. TRANG TRÀO PHÚNG
BO BO
Không có gì quí hơn bo bo đói bụng ngồi nhìn cũng đủ no dẻo mềm rền quánh dường nếp một béo bùi ngậy láng giống xôi vò ngào ngạt thơm lừng như cơm tám ngọt lừ mát rợi tựa chè kho lịch sử bốn nghìn giờ mới có Hoan hô độc lập và tự do!
SƯ TIẾN BỘ
Thiên hạ thi đua để đổi đời nghe “anh” tiến bộ lắm sư ơi dép râu anh diện khi đạp đất mũ cối anh mang lúc đội trời vạt áo anh “thèo” cho gọn ghẽ ống quần anh xắn để thong hơi ngựa sắt anh thường phi phọt khói vì mải thi đua để đổi đời.
Vì mải thi đua để đổi đời kệ kinh chuông mõ dẹp đi rồi hội trường chính điện anh khai mạc bách hóa hành lang Phật để ngồi vét cống anh vào hàng cự phách đào mương anh đứng hạng cừ khôi giải khát anh tu năm ba “xị” “hồ hởi” anh đưa “đạo vào đời”
Hồ hởi anh đưa đạo vào đời tiến nhanh tiến mạnh vững chắc rồi yêu nước khơi dòng anh vắt đất thương nòi mưa móc anh thay trời
lao động hàng đầu không ai kịp vinh quang bậc nhất có anh thôi mề đay khen thưởng anh đeo ngực nụ cười “phấn khỉ” nở trên môi
Nụ cười phấn khỉ nở trên môi Cực lạc là đây đích thực rồi phố phố vang rền chim ca hát 1 phường phường rực rỡ cánh sao tươi 2 thâu đêm “no bụng” nằm ngon giấc cả ngày mát mặt xếp hàng chơi 3 công đức tu hành rày viên mãn đa đề quả kết rõ mười mươi!
1 Loa phóng thanh phát ra những bài hát cách mạng suốt ngày đêm. 2 Bảng đỏ và cờ sao vàng treo ở khắp các nẻo đường trong thành phố. 3 Dân chúng phải đứng xếp hàng chờ mua đồ.
Ở TÙ SƯỚNG LẮM
Ở tù sướng lắm trời ơi mời ngài thử xuống ngồi chơi ít tuần ăn nằm sang trọng tuyệt trần văn minh tiến bộ bội phần Công gô phòng lạnh kiểu mẫu Liên xô con nai chính hiệu Ca-Xô tên vàng một thước bốn tấc bề ngang dài hai thước mốt khang trang mĩ miều bao gồm nhà tắm cầu tiêu phòng ăn phòng ngủ với nhiều tiện nghi cửa nạm sắt sơn “véc ni” thảm nhung bóng loáng phẳng lì như gương nệm “mút” nằm ngủ êm xương Long sàng của bậc Ðế vương khác nào an toàn cửa kín tường cao đêm ngủ chẳng sợ “cáo” vào bắt “câu” lung linh tỏa ánh đèn mầu ảo huyền như thể trăng thâu vườn đào món ăn mỹ vị biết bao từ các “nước bạn” đổ vào thiếu chi: gân bò mộng: Hung ga ri móng heo: Tiệp khắc, ngưu bì: Ba lan cẳng vịt cẳng ngỗng: Bun gan 1 còng cua ếch nhái xứ An bai ni 2 mỏ đà điểu: Ê tô bi3 sừng trâu: Ðông Ðức, Nam ti 4: cựa gà mắm bồ hóc: Con bú cha 5 gan cóc mắm ngóe: Cu ba, xứ Lào chẫu chuộc từ nước Bắc Cao nhộng tằm châu chấu cào cào: Trung Hoa nanh lợn lòi: Ang gô la 6 “dế” ngựa: Dăm bích 7, cò ma: Li bì 8 chân bạch tuộc: xứ Ghi nê đuôi chó: I rắc, đầu dê: Ỷ mềm 9 ngon miệng đẹp mắt đã thèm trời thấy cũng phải tòm tem mấy chầu nhà tù Xã hội ở lâu chẳng còn ai muốn về hầu Tổ tiên hát ca nhảy múa như điên trần gian hạnh phúc cõi Thiên nào bằng Anh nào cười vặn gãy răng!
1 Bulgaria 2 Albania 3 Ethiopia 4 Yougoslavia 5 Kampuchia 6 Angola 7 Mozambique 8 Lybia 9 Yemen
III. THƠ LƯU ĐÀY Từ 25/2/1982 đến 22/3/1992 (Từ 2 tháng 2 Nhâm Tuất đến 20 tháng 2 năm Nhâm Thân)
TỰ THUẬT
Sống giữa trần ai cảnh phũ phàng Con thuyền lướt sóng cứ hiên ngang Ðã từng đâu sợ làn sương trắng Là cúc nào kinh trận gió vàng 1 Trúc hát du dương khi hè đến Mai cười tươi tắn lúc đông sang Mặc cho mưa nắng cùng giông tố Một tấc lòng son trọn đá vàng.
1 Gió vàng: dịch chữ “kim phong”. Mùa thu thuộc hành Kim, nên gọi thu là kim phong, tức gió heo may. Hoa cúc thường nở vào tiết Trùng Dương (9 tháng 9 âm lịch) qua mùa thu lá tàn. Hoa mai, trái lại, nở vào mùa Ðông.
TRÊN ÐUỜNG LƯU ÐÀY
Ngày mồng hai tháng hai năm Nhâm Tuất (Dương lịch hai mươi lăm tháng hai tám hai) từ Sài gòn tôi lên đường đi miền Bắc lưu đày trên chiếc xe “ca” của nhà tù cộng sản tôi cảm thấy mình xót xa vô hạn bỏ lại phía sau bao vạn tấm lòng hẳn rồi đây sẽ mòn mỏi chờ mong nhưng chưa biết đến ngày nào tái ngộ (mà quyết định phải có ngày tái ngộ) miền Nam ôi! tôi đã nghe niềm đắng cay tủi hổ sống đọa đày như loài thú hai chân dưới bàn tay của những kẻ vô thần đạo pháp tan hoang giang sơn rách nát thời đại hôm nay mà tôi cứ tưởng là thời Thát Ðát với Thành Cát Tư và Hốt Tất Liệt xa xưa lịch sử bốn nghìn năm ôi! Chưa từng thấy bao giờ cảnh người Việt dày xéo quê hương đất Việt hai mươi triệu đồng bào rên xiết trong gông cùm khóc nỗi tử biệt sinh ly miền Nam ôi! thôi hãy tạm quên đi mối sầu bi và cố vui sống để nhìn về phía trước dẫm lên khổ đau tất cả chúng ta cùng tiến bước và hẹn một ngày đất nước hồi sinh giờ phút này đây đánh dấu cuộc đăng trình về miền Bắc tôi nguyện sẽ không bao giờ khuất phục những kẻ chỉ biết tin nơi bạo lực nuôi hận thù và giết chết tình thương đường tôi đi - buổi sáng nay tràn ngập ánh thái dương và cảnh vật reo vui chào tiễn biệt miền Nam ôi! niềm nhớ thương nói sao cho xiết thôi xin tạm biệt người và hẹn hội mùa Xuân.
Nha Trang đêm 25/2/1982
QUA ÐÈO NGANG 1
Tôi tới Ðèo Ngang cảnh tối mò Cỏ hoa chẳng thấy thấy rùa bò 2 Tiếng “quốc” tiếng “gia” im bặt cả Chỉ nghe tiếng máy rống ò ò Non nước đất trời đều mù mịt Tình riêng riêng gửi muỗi vo vo Thời tiết đêm xuân mà lạnh ngắt Chăn mền chẳng có ngồi co ro Ðảm bảo an toàn trong giá rét Mỗi bên “ôm ấp” một ông cò 3 Thây kệ đêm đen và dốc đá Lên Ðèo tôi cứ ngáy o o!
1 Qua đây tôi nhớ tới bài thơ của bà Huyện Thanh Quan, nhưng lại trong một hoàn cảnh khác hẳn, nên tôi đã làm bài thơ này. 2 Rùa bò: xe đi chậm như rùa, vì để số một. 3 Suốt từ Sài gòn ra đến Thị xã Thái Bình, lúc nào cũng có hai anh công an thường phục ngồi kèm hai bên cạnh tôi.
NGẮM TRĂNG
Ðêm khuya thanh vắng tôi ngồi tôi ngắm ánh trăng đêm qua mờ đêm nay tỏ hôm nọ khuyết hôm nay tròn Trăng ôi cách mấy nước non có còn thằng cuội có còn cây đa trần giới tôi nay tuổi đã già dòng đời Tô Vũ cứ trôi qua năm canh ấp ủ niềm tâm sự biết ngỏ cùng ai hỡi bóng nga? Ta với ta ta và bóng nga hòa chung nhịp thở giữa vũ trụ bao la hồn thơ ta bay bổng dạo khắp các thiên hà ba nghìn thế giới trần sa thoắt trong một niệm hồn ta trở về lại ôm niềm tâm sự với đêm dài lê thê hồn còn mang nặng lời thề quyết trong bể khổ sông mê vẫy vùng dong thuyền Bát nhã đại hùng độ loài Nhất-xiển 1 thoát vòng vô minh.
1 Nhất xiển: tức là Nhất-xiển-đề (Iccantika); kẻ không tin tội phúc, nhân quả, dứt hết căn lành.
GỬI TT. HUYỀN QUANG
Tôi với Người thực là may mắn được cùng nhau chia sẻ “ngọt bùi” đất Quang Trung 1 Người nằm ngắm bầu trời quê Quế Ðường 2 tôi ngồi nhìn vũ trụ cứ đêm đêm tôi thả hồn theo cánh gió về thăm Người Người có biết hay chăng! Qui Nhân, Thái Bình chung một vừng trăng như tâm ta không hai mà một vòi vọi núi dao hừng hừng biển lửa ta nhảy vào tất cả đau thương và sầu khổ bừng tâm ta hết thảy đều không! 3 Ðêm nay như vừng trăng trên vạn dòng sông Người là tất cả tôi cũng là tất cả tất cả chảy vào biển Quả quả yên vui quả giải thoát giữa dòng đời.
Thu Mậu Thìn (1988)
1 Quang Trung, tức Nguyễn Huệ, quê ở huyện Phù Li (nay la Phù Cát) đất Qui Nhân. 2 Quế Ðường, biệt hiệu của Lê Quí Ðôn, người Thái Bình. 3 Xem kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, mục Thiện Tài đồng tử tham yết Thắng Nhiệt bà la môn.
GỬI MÂY Tặng TT. NH.
Mây chiều ôi hãy ngừng trôi cho ta nhắn gửi mấy lời hỏi người góc bể chân trời bấy lâu: “Trải bao gió Á mưa Âu dặm khách sương pha nửa mái sầu? non nước nghìn trùng mờ mịt cùng ai thao thức những đêm thâu?” Còn ta nay đã bạc đầu ngày tháng trơ trơ một khối sầu sợ hãi vui mừng gió thoảng nhờ mây nhắn gửi bấy nhiêu câu.
NGẮM HOA 1
Hoa với ta ai già ai trẻ nhận ra rồi cái lẻ như nhau hoa có từ nghìn xưa và sẽ có đến nghìn sau ta sinh từ vô thủy và sẽ còn sinh mãi Tâm đại nguyện Bồ tát không bao giờ sợ hãi đường tử sinh cứ thanh thản đi qua ta vân du khắp cõi Sa-bà và ở đâu ta cũng thấy hoa tươi thắm từng sát na lặng yên ta ngắm ta nhìn hoa và hoa nở trong ta giữa thăng trầm cuộc thế phù sa hoa và ta an nhiên tự tại mặc bốn mùa xuân qua đông lại trong vĩnh cửu hoa vẫn tươi và ta mãi chẳng già vòng luân hồi tùy nguyện vào ra 2 mà ai biết? chỉ có hoa và ta tri kỷ.
1 Hoa ở đây tượng trưng Chân như, Pháp thân. 2 Bồ tát vào sinh tử là vì nguyện độ sinh, chứ không phải bị nghiệp lực chi phối. Nhân lúc cảm hứng mà có tứ thơ trên đây, chứ không phải tôi đã là Bồ tát.
TỰ THAN
Tôi nghĩ thân tôi khổ đã nhiều Giờ thêm chút nữa đáng bao nhiêu Thông già đứng tựa sườn non lớn Gió giật hò reo thổi chẳng xiêu Nửa đời ảo ảnh làn mây bạc Một kiếp chiêm bao lớp sóng triều Thế sự thăng trầm luôn diễn biến Buổi sáng dâng lên xuống buổi chiều.
MẤT CẢ CUỘC ÐỜI
Xuân này tôi mất mẹ rồi Cũng là mất cả cuộc đời còn chi Từ nay đoạn đường tôi đi Qua hàng thông lạnh gió vi vu sầu Một mình lặng lẽ cúi đầu Quanh tôi tất cả nhuộm mầu tóc tang Bước đi nghĩa địa lan man Chết rồi hay sống điêu tàn như nhau.
Sáng mồng 1 Tết Bính Dần (1985) Ra thắp hương ngoài mộ
BẮT GẶP CUỘC ÐỜI
Ðây rồi! trong một phút giây kỳ tuyệt tôi đã bắt gặp cuộc đời mông mênh sâu thẳm tươi đẹp vô ngần mỗi hơi thở thoáng qua tôi cảm thấy mình choáng ngợp như đang đi lạc giữa rừng hoa bao la bát ngát tôi chẳng biết nữa nam bắc đông tây ngày giờ hay năm tháng tất cả chỉ là ánh sáng thuần là trăng sao lung linh kỳ ảo muôn mầu muôn vẻ lặng lẽ tuyệt vời cả vũ trụ và tôi hòa đồng hơi thở tôi lắng nghe cỏ cây hoa lá trong những bộ áo mầu rực rỡ như đàn trẻ thơ đang cười đùa nhảy múa và muôn triệu côn trùng tưng bừng hớn hở đang hát bản trường ca muôn thuở giữa dàn nhạc đại hòa tấu thiên nhiên Ðây cõi thần tiên! nhưng không phải bởi những khái niệm địa ngục thiên đường thần tiên trần tục cũng như những cảm giác vui buồn sướng khổ chẳng còn biên cương Ðây là tình thương! tôi cũng không hiểu nổi chỉ biết là cái gì là lạ mà chẳng có lời để tả đang lan thấm từng thớ thịt làn da ôi cuộc đời! – Không ai biết cả chỉ có cỏ cây hoa lá côn trùng chim muông được tắm gội ơn người ôi cuộc đời! Kỳ diệu làm sao! xin cảm ơn người vạn tạ!
SÂN SI
Có một số Tăng Ni bảo là tôi sân si tu hành chẳng nhẫn nhục không hỉ xả từ bi
luật vô thường là thế có thịnh thì có suy nay gặp thời mạt pháp đạo ắt phải suy vi
đó chính là chân lý buồn phiền mà làm chi chùa tượng thuộc hình tướng Phật pháp vốn vô vi
ai phá mặc họ phá Phật pháp có hề gì tu hành nên nhẫn nhục trứng chọi đá ích chi
không gì hơn sự sống hãy sống với mũ ni Xin cúi đầu phục mệnh lạy đức Phật từ bi sự sống quí như thế mà sao con vô tri
từ nay con vui sống dù sống chẳng ra gì miễn như mọi người khác khỏi mang tiếng sân si.
IV. TRANG TRÀO PHÚNG
TỰ TRÀO
Quảng Ðộ diêm công 1 ông hỡi ông Luận kinh chẳng tỏ luật không thông Dài lưng tốn vải mà ra dáng Cầm đũa tay chiêu dám học ngông Qua bao chế độ lưng vươn thẳng Trải mấy phen tù lưỡi chẳng cong Năm mươi lăm tuổi đầu râu bạc Sống kiếp lưu đày có sướng không? 2
Thu Nhâm Tuất (1982)
1 Diêm công: ông nhiều râu 2 Bị đi đày vào năm 55 tuổi (1982).
MỘT NĂM LƯU ÐẦY
Lưu đày nay đúng một năm rồi Tôi ngồi tôi tức cái thằng tôi Nấu nước thổi cơm đành không sõi Quét nhà rửa bát cũng lại tồi Kiếm củi ngẩn ngơ vơ củi mục 1 Hái chè đuểnh đoảng vặt chè chồi Năm mươi lẻ sáu mà còn vụng Trăm tuổi rồi ra hẳn tót đời.
1 Về mùa đông hiếm cái đun, phải tự đi kiếm củi, mà củi mục thì chỉ khói chứ không cháy.
VUỐT RÂU
Trên đời quí nhất có bộ râu Khi buồn ta vuốt để tiêu sầu Dưới cằm một búi vừa ngang rốn Trên má hai chòm tiếp với đầu Trông kỹ in tuồng như Ðạt-Ma 1 Nhìn qua có vẻ giống Quan Hầu 2 Râu ta nào phải là râu cọp 3 Buồn thì cứ vuốt có sao đâu!
1 Ðạt-Ma: Sơ Tổ Thiền Ðông Ðộ. 2 Quan Hầu: tức Quan Vũ, một danh tướng đời Thục Hán, được phong tước Hầu.
3 Trang tử: “xoa đầu
cọp, vuốt râu cọp, làm thế nào mà thoát được miệng cọp!”
BỨC TRANH ÐỜI
Ngày tháng lưu đày cũng thảnh thơi Ăn rồi ngồi ngắm bức tranh đời Nhà cháy phơi bày toàn mặt chuột Ðình xiêu lộ rõ rặt đầu dơi Vành tai vênh váo chồn đắc thế Nghểnh cổ nghênh ngang cáo gặp thời Bức tranh thế sự là như thế Ngủ gặp chiếu manh ngáp được ruồi. 1
1 Tục ngữ: buồn ngủ gặp chiếu manh; chó ngáp phải ruồi
NGÀY XUÂN LÀM CHƠI
Phát vãng xuân qua mấy độ rồi Cổ ngắn vươn lên thử hỏi trời Tóc răng cố ý “thi đua” rụng Ngày tháng vô tình lặng lẽ trôi Nước lọ thất thường khi lên xuống Cơm niêu tùy hứng lúc đầy vơi 1 Sáu mươi hai tuổi “nghiền” rau miếng Tiết Lệnh 2 đời xưa cũng thế thôi.
1 Lúc đầu còn được 13 cân gạo một tháng, dần dần rút xuống còn chín cân, sau cùng cúp gạo, trả tiền mua gạo ngoài chỉ được bảy cân! 2 Tiết Lệnh Chi đời Ðường làm quan, nhưng nhà nghèo, làm thơ tự than có câu: “Bàn trung hà sở hữu. Mục túc trường lan can”. Nghĩa là: “Trong mâm có gì thế? Cứ rau muống dài dài!”
KIỆN TƯỚNG LÀM PHÂN
Ðêm khuya thao thức nghĩ phân vân Hai nghìn lịch sử cuộc xoay vần Phật pháp thịnh suy đà mấy độ Tăng đoàn vinh nhục trải bao lần Hòa Thượng thầy vua trong đời Lý 1 Thiền sư trị nước thuở triều Trần 2 Ngày nay sự nghiệp “phò Cách mạng” Nhà sư “kiện tướng đội làm phân”! 3
1 Các vị Hòa thượng ở đời Lý phần nhiều là Quốc Sư, như Quốc Sư Vạn Hạnh, Quốc Sư Không Lộ v.v. 2 Ðời Trần, các Thiền sư làm vua trị nước, như Thiền Sư Trần Thái Tôn. 3 Ở thời Cách mạng, trong phong trào thi đua làm phân đầu thập niên 60, một nhà sư ở tỉnh Hải Hưng thi đua đứng hạng nhất, được Hồ Chủ tịch đích thân về ban khen và tặng danh hiệu “Kiện tướng làm phân”!
GỬI SƯ BÀ NGHIỆN RƯỢU
Bà là Ni mà tu đạo “Vô” Ðôi khi cũng niệm tiếng Nam Mô? Tôm bay 1 rán mỡ “xơi” lưng chảo Rượu đế ngâm trăn nín cả vò Gà thiến cân năm 2 kêu còn nhỏ Cá mè cắt bốn 3 bảo chưa to Tám mươi bảy tuổi “tu” còn mạnh “Tổ quốc ghi công” sướng thấy mồ!
1 Tôm bay: là con cào cào, cấu cổ, vặt cánh, vặt chân rồi rán với mỡ. 2 Gà thiến phải nặng hai cân “sư bà” mới ăn, chứ cân rưỡi chưa đủ to! 3 Cá mè mỗi con phải to đủ cắt làm bốn khúc sư bà mới ăn cho!
CHÙA HOANG
Ðạo pháp ngày nay đổ quá rồi Mười người tu học chục người thôi Chùa hoang cảnh vắng sư về tục Khói lạnh hương tàn Phật bỏ rơi Gọi tiểu, tiểu đâu còn mà gọi Kêu di 1, di cũng tếch đi rồi Lịch sử hai nghìn hồn phảng phất Trên tường tôi thấy chữ “than ôi”.
1 Di: tức bà già công quả ở chùa
GỬI SƯ CỤ ÐẢNG VIÊN
Sư cụ mà sao lại “Ðảng ta”? Hỏi ông ông chính hay ông tà? Ăn cơm của Phật ông phản Phật Làm việc nhà ma ông theo ma Chó gà cá lợn mê bỏ mẹ Hành hẹ tỏi riềng khoái thấy cha Sao không mặc quách manh áo giấy Khoác làm chi nữa tấm ca-sa ?!
|
|
| Trở về Mục Lục |