|
|
![]()
Tuần Báo Việt Luận tại Úc
1. Xin cho biết vai trò của Thầy trong Ủy ban Quốc tế Tổ chức Đại Lễ Phật Đản LHQ (IOC) trước đây và hiện nay.
Năm 2004, nhân đáp lời mời của chính phủ India, như là một giáo phẩm của PG Australia, tôi đi Delhi tham dự, đọc tham luận và phát biểu đóng góp cho hội nghị quốc tế về ‘du lịch tâm linh’, nơi đó tôi gặp lại nhiều pháp hữu cao cấp ở Á châu, và được TT Dhammakosajarn, PhD (Viện trưởng Viện Đại học PG Mahachulalongkorn http://www.mcu.ac.th/En/in_mcu.php ) mời đến Bangkok tham dự UN Day of Vesak (UNDV) do chính phủ Thái bảo trợ tổ chức vào tháng 5/2005. Kể từ đó đến 2007, liên tiếp 3 năm tôi tham dự và góp phần khá nhiều vào 3 cuộc Lễ hội UNDV ở Thailand trong vai trò là Thành viên Ban Tổ Chức Quốc tế (IOC member). 3 lần đi tham dự tôi đều được phép của IOC mời theo khá nhiều chư Tăng Ni và Phật tử VN từ Úc đến tham dự, cả với tư cách đại biểu chính thức (official delegates) hay là quan sát viên (observer, theo nghĩa tự túc vé bay). Sau UNDV 2008, nếu do PG các quốc gia khác tổ chức, tôi hy vọng được tiếp tục đóng góp qua IOC những gì mình có thể đóng góp được, để phát huy Phật Pháp và giúp liên đới tình pháp hữu giữa Úc với chư Tăng Ni Phật tử khắp nơi trên thế giới.
2. Như vậy, Thầy có tham dự vào việc bàn thảo, hoạch định và thực thi việc tổ chức Đại lễ Vesak 2008 tại Hànội không?
Có lần tôi được ĐĐ Nhật Từ cho biết thao thức muốn gia tăng quan hệ 2 nền PG Thái-Việt, nên sau lễ UNDV 2005, ĐĐ đã giới thiệu để IOC mời Gs Lê Mạnh Thát là một trong 2 diễn giả chính (key note speaker) vừa là Thành viên IOC từ UNDV 2006. Hình như trước năm đó GS Thát vừa được chính thức mời làm Phó Viện Trưởng trực tiếp điều hành Học Viện PGVN tại Saigon, phụ tá HT Minh Châu sức khỏe đã rất yếu. Mãi sau khi việc UNDV 2008 đã thành, tôi có được GS Thát và ĐĐ Nhật Từ lược thuật cho nghe -dĩ nhiên khó thể phối kiểm được- vô vàn khó khăn và các cố gắng vất vả (theo ý của 2 vị là để cố đẩy toang cánh cữa PGVN rộng ra thế giới bên ngoài, mà mấy năm gần đây cơ quan chủ quản của GHPGVN là MTTQVN và Ban Tôn Giáo Nhà Nước chỉ mới cho hé mở, kèm theo quá nhiều giám sát và chỉ đạo), trước quá nhiều nghi ngờ của phía ĐCS và NNVN, thậm chí cũng có những đố kỵ chìm nổi nội bộ từ phía GHPGVN, khi 2 vị cố thuyết phục để đạt được sự hỗ trợ, tiên khởi nghe nói là của cựu TT Võ văn Kiệt, sau đó là qua các ráp nối quyền lực dây chuyền từ Saigon đến Hà nội, để cuối cùng (như thường lệ trong một thể chế trung ương tập quyền toàn trị là luôn luôn nghi ngờ các tôn giáo dù Đảng ấy đã tạo ra nhiều cơ cấu để quản lý và giám sát), 2 vị cho hay, là phải được cả Bộ Chính Trị họp bàn đồng ý, mới có bức thư yêu cầu của Bộ Ngoại Giao gởi IOC (với letterhead mà không có chữ ký!!??), được trình đọc tại phiên họp IOC hôm 23/5/2008.
Đoàn PGVN tại Úc chúng tôi từ Sydney đến Bangkok còn đi theo
dự tính hành hương để quý Phật tử đến Bangkok lần đầu được viếng thăm thêm, nên
không có thời gian tiếp xúc tìm hiểu thêm nơi các Thành viên IOC bạn, chỉ vừa đủ
thời gian để tôi đến thẳng phòng họp Trù bị lần chót cho UNDV 2007 chiều hôm ấy
23/5, nên tôi chưa kịp hiểu hết những thương lượng giữa Chủ tịch IOC
Dhammakosajahn với GS Thát trong nhiều lần thăm viếng qua lại Thái-Việt suốt gần
một năm trước đó. Thông tin chính tại phiên họp IOC là, theo TT Dhammakosajahn
thông báo, IOC được cho biết Chính quyền VN cứ tưởng những thương lượng riêng (về việc cho VN đăng ký tổ chức UNDV 2008) giữa Chủ Tịch IOC và Gs Thát là chung kết, nên gởi Đệ nhất Bí thư Tòa Đại Sứ VN đến dự họp phiên họp IOC nầy, hậu ý là để nghe IOC công bố ngay là VN đã được cho đăng ký tổ chức UNDV 2008 (họ cũng ngại có thể có người vận động IOC chống đối lại sắp xếp nầy??). Nhưng việc chính tôi nhắc Chủ tọa phiên họp là TT Dhammaratana, cần mời Bà ấy ra, thì IOC mới có thể thảo luận nội dung thư xin đăng ký tổ chức UNDV 2008 của VN cách tự nhiên được, đã làm bà ấy ngỡ ngàng, cứ nghĩ là mọi việc đã xong, nên dùng dằng không muốn ra, đến nỗi Chủ tọa phải mời tới 3 lần, Bà mới hiểu là IOC còn họp bàn, chứ chưa có quyết định chung. Kết quả là như chúng ta đã biết, IOC nói chung không có lựa chọn nào khác, nên đã biểu quyết giao UNDV 2008 cho Việt Nam, với những ái ngại, và cũng với hậu ý giúp PGVN thoát ra bớt khỏi cảnh bị NNVN quản thúc chặc chẽ trong nước, không cho bước ra thế giới bên ngoài. Trước khi giao cho VN, chính vì lo ngại chính quyền nước sở tại sẽ lợi dụng vị thế ‘host- chi tiền’ để tước quyền của IOC, nên ngay trong mấy kỳ họp IOC trước UNDV 2007 nầy, IOC cũng khẩn cấp dự thảo, thông qua và ban hành, và qua đó đòi hỏi NNVN phải tôn trọng (ghi rõ trong thư của IOC Chair gởi cho chính phủ VN) và tuân hành, một Bản Hiến Chế (Charter) cho IOC, mà tôi có dự phần khá nhiều trong việc hoàn thiện bản nháp, do mấy Thành viên IOC dự thảo sẵn (trong đó lại cũng có ĐĐ Nhật Từ). Điểm cốt yếu trong Hiến Chế là, bất kể quốc gia sở tại nếu có ủng hộ tài chánh bao nhiêu cho việc tổ chức UNDV, cũng không thể sử dụng vai trò đó để lèo lái và qua quyền IOC trong việc quyết định mọi nội dung và hình thức của một UNDV. Mời xem điều 5.1 trong Charter ở http://vesakday2008.com/lichsu/index.php?menu=detail&mid=53&nid=159 . Thực tế đã chứng minh ngược lại, sau khi nhận được thư đồng ý cho đăng cai của Chủ Tịch IOC (tôi có ý đòi hỏi, nhưng có vẻ có sự khuất tất nào đó, nên cuối cùng thư nầy được thảo -cũng có phần ĐĐ Nhật Từ trong ban dự thảo- riêng, và Chủ Tịch IOC đã ký gởi gấp cho phía VN, mà cả IOC không kịp được thấy, nghe và approval thư nầy. IOC vốn làm việc theo tinh thần tương kính, trọng nể nhau, và cũng vì không đủ thì giờ và hoàn cảnh thuận hợp, nên phần lớn việc quan trọng đều ủy thác hết cho các phụ tá của IOC Chair; ai cũng biết hành chánh nội bộ IOC không đủ sít sao chặc chẽ), thì NNVN liền trở mặt. Cho là Gs Thát có thấy rõ dã tâm và thâm ý chính trị của NNVN, có cảm thấy bất lực đi nữa, cũng khó mà ngăn cản, khó mà kịp trở tay, hay có thể cũng khó thể dùng cách từ chức để phá bĩnh mưu kế đó của NNVN, chưa kể chính GS Thát cũng có thể dự định là nhân dịp UNDV có tai mắt quốc tế nầy để đẩy buộc NNCS phải cởi mở hơn với PGVN nói chung, và với GHPGVNTN nói riêng. Thầy có hứa với tôi là qua vai trò IOC Chair, Thầy sẽ tranh đấu để đưa vấn đề GHTN ra ánh sáng, và làm hết sức để “quý Ôn mình được đi dự”. Đi dự theo ý đòi hỏi của tôi, nói trắng rõ với Thầy, như là tiền đề tối thiểu để tôi có thể ủng hộ và tham dự UNDV 2008: là GHPGVNTN phải được NNVN và IOC thừa nhận có tư cách ngang hàng với GHPGVN tại UNDV 2008, và cả 2 đều sẽ chỉ là khách mời của IOC đến dự UNDV 2008. Trên thực tế đến nay đã rõ, qua sự lèo lái chính trị của NNVN, GHPGVN lại trở thành người đứng ra tổ chức trong vai trò Ban Tổ Chức Quốc Nội, ngoài Ban Điều Phối Quốc Gia qua đó NNVN trực tiếp chỉ huy cả BTCQG và IOC của GS Thát’ nầy. Đây lại thêm một bội phản Hiến Chế IOC Charter khác của NNVN, và là lý do chính trong mấy lý do làm tôi phải tẩy chay UNDV 2008.
UNDV 2008 với vai trò của IOC thật mờ nhạt trước mưu kế của
NNVN, tuy là một thất bại của cộng đồng Tăng lữ thế giới vốn cả tin hay không đủ
nhạy bén trước các trí trá của chính trị thế tục, nhưng lại là một minh chứng
Sự dối trá lớn nhất của NNVN là đã cố rao truyền và gây ấn
tượng trong dư luận VN như là chính LHQ đã trực tiếp cho phép hay giao phó NNVN
tổ chức UNDV 2008. Thực tế thì Trên thực tế và cả trên lý thuyết, UNDV 2008 phải là do IOC hoàn toàn chủ động tổ chức, như đã xảy ra 3-4 năm qua ở Bangkok, luôn cả việc quản thủ ngân sách do Phật tử cúng dường và do chính phủ Thái tài viện (dĩ nhiên phải qua thủ tục audit c ủa Bộ Tài Chánh Thái), qua trách nhiệm chính của vị Chủ Tịch -mà nhiệm kỳ chỉ một năm, phải đang là thành viên IOC đã sinh hoạt với IOC tối thiểu một năm, và phải là người bản xứ của quốc gia đăng cai thành công, với sự tham gia của toàn thể Thành viên IOC (đồng thuận thành văn và bất thành văn là nước đăng cai sẽ được IOC mời 2/6 Phó Chủ Tịch và ít hơn 50% tổng số Thành viên IOC). Trong dịp tham dự UNDV 2007 ở Bangkok, tôi đã cho lưu hành cả ngàn bản dịch ra Anh ngữ Thông Điệp Phật Đản của đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, trong đó có mấy đoạn: “…. Naêm nay muøa Phaät Ñaûn laïi veà trong hoaøn caûnh nhieãu nhöông cuûa ñaát nöôùc vaø Phaät söï. GHPGVNTN bò ñaøn aùp nghieät ngaõ hôn hai möôi naêm laïi ñaây. Toâi khoâng ñöôïc ñi taùi khaùm chöõa beänh, Hoaø Thöôïng Quaûng Ñoä cuõng khoâng ñöôïc veà Bình Ñònh thaêm vieáng toâi. Ban Ñaïi Dieän GHPGVNTN caùc Tænh Thaønh ñang bò traán aùp vaø truy böùc döõ doäi. Nhöng vôùi taám loøng trung kieân, nhö nhö baát ñoäng; Phaät Ñaûn vaãn laø muøa hoa Voâ Öu roä nôû muoân ñôøi ngaùt höông vaø baát dieät, giöõa doøng ñôøi sinh dieät. … Chöøng naøo daân toäc Vieät Nam chöa coù töï do toân giaùo, chöa coù daân chuû vaø nhaân quyeàn thöïc söï, chöøng ñoù GHPGVNTN coøn bò baùch haïi gian truaân vaø seõ chaáp nhaän gian truaân khoâng bì quyeän. Ñöùc Phaät daïy: “Naày caùc con! Caùc con haõy leân ñöôøng vì haïnh phuùc cuûa nhaân loaïi vaø chö thieân.’’ … Daãu raèng, ñoù laø con ñöôøng vaïn daëm, con ñöôøng ñaày daãy noäi ma ngoaïi chöôùng; nhöng chuùng ta laø con Phaät, laø haäu dueä cuûa Trì Ñòa Boà taùt, cuûa Phuù Laâu Na, chuùng ta ñaõ chaúng sôøn loøng naûn chí, khoâng moûi meät öôn heøn; chuùng ta ñaõ khoâng sôï khoù, sôï moïi gian nguy khoå cöïc, thaäm chí coù theå phaûi hy sinh taùnh maïng; chuùng ta ñaõ vöôït qua khoâng bieát bao nhieâu chöôùng ngaïi töø beân trong ñeán beân ngoaøi, trong ñoù coù nhöõng chöôùng ngaïi cô hoà nhö khoâng theå vöôït qua ñöôïc. Nhöng chuùng ta ñaõ vöôït qua taát caû, baèng yù chí kim cöông baát hoaïi. “
Nếu không ai từ một GHPGVNTN hiện diện tại Bangkok hay Hà Nội,
thì sẽ có mấy ai, có thể không có ai, còn nhớ hay biết rõ ở VN còn có một
GHPGVNTN nữa, đang bị vùi dập khốn đốn? Ngoại trừ mấy vị Trưởng lão từ Đài Loan,
Tích Lan, trên dưới 70-80 tuổi, hy vọng còn nhớ đến danh xưng GHPGVNTN, nhưng
chắc các Ngài cũng không đủ thì giờ và phương tiện, để tự tìm đủ thôngtin về
GHTN, trong khi ngày càng có nhiều đòan GHPGVN (đa số trong lứa tuổi dưới
50-60, tức Tôi có thể đoan chắc, tuy không đi dự, là NNVN sẽ lấy lý do an ninh, để tìm mọi cách, dù là thô lỗ nhất, để ngăn chận hơn 1000 đại biểu và quan sát viên ngoại quốc đến dự UNDV 2008, cấm họ đem đến, và đề cập đến, tại Hà nội và trong/quanh Hội trường tổ chức UNDV 2008, những tài liệu hay thông tin độc lập nào có liên hệ đến GHPGVNTN và nhân quyền ở VN, điều mà ai cũng có quyền đem đến để phân phối và phát biểu tại UNDV ở Bangkok 3 năm qua. Một keynote speaker từ Anh của UNDV 2006 còn lớn tiếng chỉ trích -cách hết sức trí thức- hệ thống Tăng già và sự can dự quá nhiều của hoàng gia và Hiến pháp/ Chính quyền Thái vào hệ thống nầy. Tuy theo tôi thì những khó khăn của Tăng già Thái vẫn còn thua xa so với tình hình NNVN nô dịch hóa và chính trị hóa GHPGVN. Biết tới năm nào NNVN mới dám công khai mời người ta đến Hà nội để công khai chỉ trích mình??? Câu hỏi thêm cũng NHÂN ĐÂY nên đặt ra là: cấp gọi là ‘lãnh đạo’ của các quốc gia, các giáo hội, luôn cả GHPGVN và GHPGVNTN, có muốn và có thể lắng nghe và hồi đáp bình tĩnh mọi chỉ trích, góp ý của công dân mình, thành viên Tăng Ni Phật tử mình, về những gì mà họ nghĩ là chế độ mình, GH mình đã sai lầm không?? Hay ‘hễ đã là lãnh đạo thì phải luôn luôn đúng’??
3. Thầy có dự Đại lễ Phật đản tại Hà Nội vào tháng Năm này không?]
Ngay lúc đang ngồi ở Canberra viết mấy câu trả lời phỏng vấn nầy cho Việt Luận, 10pm 13/5/2008 (chúng tôi và quý Thượng Tọa trong GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc cũng vừa làm xong –thu âm qua phone với anh Quốc Việt 30 phút-- chương trình phát thanh Phật đản 2632 để SBS Radio Việt ngữ sẽ phát thanh sáng thứ Năm 15/5/2008, cũng là lúc mà chúng ta đoán chừng là 600 khách mời Tăng Ni, học giả quốc tế, cùng vài nghìn Tăng Ni Phật tử trong nước và vài chục/trăm Tăng Ni Phật tử VN hải ngoại, theo dự trù giờ nầy, đều đã tề tựu đến Hà nội, để chuẩn bị Khai Mạc UNDV 2008 lúc 8am sáng mai, 14/3/2008, xem http://vesakday2008.com/tintuc/index.php?menu=detail&mid=7&nid=202), thì tôi trong 24 giờ qua đã vừa gởi đi một Thư Ngỏ gởi phản đối Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và chính phủ ông ta đã chính trị hóa UNDV 2008 thế nào. Vì thư khá dài, nên kính mời độc giả Việt Luận tìm đọc nguyên văn, để thay cho phần trả lời câu hỏi trên đây. Nếu được, tôi sẽ nhờ Việt Luận và các báo Việt ngữ khác đăng tải, để được chia xẻ suy nghĩ và hành động của cá nhân tôi với độc giả của quý báo. Xin đa tạ trước Việt Luận và quý báo.
4. Nếu không, tại sao không? [nếu có , trong cương vị nào: Phó Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN-HN tại Úc Tân Tây Lan hay cá nhân Thượng tọa Thích Quảng Ba, tu sĩ Phật giáo Úc gốc Việt?]
Như câu 3. Chỉ thêm điều kỳ lạ là 2 (??!!) thư chính thức IOC gởi mời tôi tham dự UNDV 2008 (đóng dấu Bưu điện Saigon ngày 4/4 và 17/4, nhận tại Canberra ngày 20&22/4/2008, đều ghi ký ngày 20/3/2008 và đóng dấu của Học Viện PGVN tại Tp. HCM (!!??) bên cạnh chữ ký của GS Lê Mạnh Thát), chỉ thấy ghi là Senior Deputy Chair (Phó Hội Chủ), mà không ghi tổ chức PG nào của tôi tham dự ở Úc như IOC đã từng biết, cũng không ghi theo chức danh mà tôi cung cấp khi nhận làm Thành viên IOC (xem http://vesakday2008.com/lichsu/index.php?menu=detail&mid=58&nid=166). UNDV mấy năm qua nhất định đã và sẽ có nhiều sơ sót hành chánh, vì IOC vốn không tự có ngân quỹ điều hành và không có nhân viên hành chánh thường trực và chuyên nghiệp. IOC cũng chỉ là tập hợp các Cao Tăng và học giả gặp nhau mỗi năm vài lần, không phải đều là chuyên gia (professionals) hay nhà quản lý (CEO/ administrator), và cả Ban Hành Chánh Quốc Tế (International Secretariat) của IOC cũng chỉ nhờ phương tiện và nhân lực của Đại học Mahachulalongkorn (permanent IOC/IS office) trông coi. Thực ra khi nhận tham gia IOC, tôi chỉ được mời với tư cách cá nhân, vì IOC tuy muốn có thành viên IOC đến từ nhiều nước khác nhau, nhưng không nhất thiết Thành viên IOC phải chính thức đại diện cho tổ chức PG nào trong quốc gia ấy, hay cho nguyên nền PG của nước ấy (vốn dĩ PG khắp thế giới đều không có một quốc gia nào muốn, hay thiết lập được, hệ thống PG trung ương tập quyền. Quốc gia nào cũng có nhiều chục, thậm chí nhiều trăm giáo hội, giáo phái, tông phái, tổ chức Phật giáo khác nhau, tuy mức độ thân hữu, liên kết, phối hợp giữa những nhóm này có thể sâu cạn, rộng hẹp khác nhau, nhưng đều độc lập nhau về cấu trúc, hiến chương, truyền thừa, tài chánh, hành chánh, tín đồ, vv..). Ví dụ, từ Pháp với gần 5 triệu Phật tử, mấy trăm chùa, cả nghìn Tăng Ni đủ tông phái, suốt mấy năm, chỉ có TT Dhammaratana là thành viên duy nhất được IOC mời, và có lẽ TT được mời vì TT thường lui tới Bangkok để hội họp trong cương vị Phó Chủ Tịch của Liên Hữu các Phật tử Thế Giới (World Fellowship of Buddhists), hơn là vì TT là Tổng Thư Ký của GHPG Linh Sơn Thế Giới. Số lượng thành viên IOC khách mời tham dự UNDV ở Bangkok cũng không tương xứng và tỷ lệ theo bề thế của nền PG mạnh mẽ tại Hoa kỳ, và nhiều nước khác.
5. Thầy có e ngại sự tham dự của Thầy –và các đại biểu PG thế giới khác- sẽ cho Cộng sản VN cơ hội trình diễn bộ mặt “tự do tôn giáo”, tức chánh trị hóa tôn giáo (như Bắc kinh đang làm đối với Thế Vận hội) trái với tình hình thực tế tại VN hiện nay?
Có e ngại thì ai cũng rõ thấy (hy vọng vậy; vì nếu không ai thấy biết được sự thật, thì tình hình còn nguy hơn) CSVN đã lợi dụng cơ hội UNDV 2008 nầy quá nhiều rồi. Làm sao cho 600+ đại biểu được IOC mời biết rõ về các lợi dụng ấy, và làm sao để có nhiều khách mời quốc tế đến với UNDV 2008 chịu cùng nhau làm cho CSVN lợi dụng được ‘ít hơn’ nhân UNDV 2008 nầy, mới là vấn đề. GHPGVN và NNVN không thể coi khách mời quốc tế của IOC đến Hà Nội đều là trẻ nít (chỉ một chiếc vé máy bay và hotel vài ngày, thì CS nói gì cũng phải tin và khen), đồng thời GHPGVNTN chúng tôi cũng không thể mong đòi hết 600+ vị đều có đủ mọi hiểu biết, và sẽ có phản ứng y như mình, đang là nạn nhân của chế độ. Tăng già VN hải ngọai trong gần 20 GH khắp Âu- Á-Mỹ- Úc châu, 33 năm qua đã thương kính và ít nhiều đều ủng hộ và vận động cho tự do của GHPGVNTN, nhưng đến nay, chưa biết tâm trạng của hầu hết Tăng Ni GHPGVNTN hải ngoại, nhất là sau những lầm lẫn và các hậu quả quá đà của Giáo Chỉ 9, có còn tự nhận trách nhiệm nào để tiếp tục giải cứu GHPGVNTN của chúng tôi??. Phần tôi như một cá nhân thành viên của IOC và của một GHPGVNTN hải ngoại, thì mọi e ngại của tôi đã được bày tỏ rõ qua việc ít nhất là 4 lần trong 12 tháng qua, Tu Viện Vạn Hạnh đã thu thập để email cung cấp đến các Thành viên IOC (cũng như đã email đến tất cả pháp hữu khác khắp thế giới, và các nhà hoạt động trong CĐVN tại Úc và khắp nơi; đến nỗi cuối năm 2007 đã làm cho ĐĐ Nhật Từ, Tổng Thư Ký IOC, phải ‘mất bình tĩnh’ email sang Úc đe dọa tôi là ‘xin TT xác nhận có phải TT nuốn phá hoại UNDV 2008 không? để IOC Chair sẽ xử lý TT thích đáng -!!??-) -(1) hằng trăm tin tức (news) về tình hình ‘thật’ đàn áp tôn giáo và đàn áp PG tại Việt Nam do Media/Press quốc tế tường thuật suốt nhiều năm qua, và -(2) các trích đoạn từ các Annual Country Reports nhiều năm qua do các cơ quan nhân quyền quốc tế (như Amnesty International, Human Rights Watch, US Commission on International Religious Freedom, US State Department, US Foreign Affairs Committee, Australian Senate / House of Representatives’ Motions/Resolutions on Human Rights in Vietnam, etc.) lưu hành (có sẵn trên website của các cơ quan nầy, ai cũng download được). Và việc thứ 2 là tôi từ chối tham dự UNDV và gởi thư phản đối đến Thủ Tướng VN Nguyễn Tấn Dũng. Chúng tôi ước mong là không ai cần phải dựa vào các văn kiện quốc tế kể trên, hay đợi đến Hà nội 13-17/5 mới biết, thấy, nghe những tráo trở của NNVN khi họ cố dấu diếm các thực tế hai năm rõ mười về những quyết tâm biến thái, thao túng, nô dịch hóa và chính trị hóa nền PGVN và GHPGVN, cũng như khi NNVN nầy vô lý phủ nhận và đàn áp GHPGVNTN của chúng tôi. Nếu tinh ý, chỉ nhìn qua các tùy tiện, bất chấp Charter của IOC, chuyên quyền, lợi dụng, lạm dụng vai trò bảo trợ tổ chức UNDV 2008 của NNVN từ tháng 9/2007 đến nay, thì ai cũng thấy rõ dụng tâm của NNVN khi mượn diễn đàn UNDV để khoe khoang những thành tích ‘không thật có’ và những thành tích ‘giúp đỡ PG’ (nhiều chùa mới, nhiều trường PH, nhiều PhD, vv..) không phải do NN làm ra. Mặt khác NNVN đã đang và còn tiếp tục dấu kỹ và cấm đoán không cho những sự thật về bản chất đàn áp tôn giáo của họ, đã diễn ra suốt 62 năm qua và đang còn tiếp diễn, được phơi bày cho quốc tế và cho thành viên IOC và cho khách mời tham dự UNDV 2008. Nên tôi cho là rất cần phải có nhiều người cùng làm được điều ‘mở rộng thông tin’ nầy tại Hà Nội trong dịp UNDV 2008, như tôi đã thường làm ở Bangkok 3 năm qua, bằng nhiều cách khác nhau. Dù trong tư cách nào, nay nếu tôi có mặt ở Hà Nội, cũng sẽ hết lòng cho sự thật và cho GHPGVNTN, bất kể sẽ bị những trở ngại cá nhân nào (như tháng 9/1976, gần 32 năm trước, cầm giấy bổ nhiệm của VHĐ để đi trông coi GH Phú Bổn, biết trước là sẽ bị CS bắt tù, tôi và 2 pháp đệ Viên Lý và Nguyên Tú vẫn lên đường). Tôi quan niệm là sự tẩy chay của tôi, hay của GHPGVNTH nếu có, khi không tham dự UNDV 2008, sẽ có rất ít, hay không có giá trị thay đổi nào đến tình hình đàn áp tôn giáo của NNVN. Mức độ bị thuyết phục qua xúc cảm tâm lý, qua các chiêu đãi và trình diễn tại Lễ Hội UNDV 2008 đối với quan khách quốc tế (chính thức chỉ có chừng 600 thôi; còn khoảng 1000 khác chỉ là những người hiếu kỳ, tự mua vé theo đoàn du lịch và tu thiền của TS Nhất Hạnh hay số Phật tử do BTGNN vận động về từ Đông Âu) nhiều ít là còn rất tùy thuộc vào khả năng và thói quen phối kiểm nguồn thông tin đa nguyên, tùy thuộc vào vị trí, kinh nghiệm giao tế quốc tế và quá khứ tìm hiểu, tiếp cận với và kiến thức về chính trị Việt Nam, của từng Đại biểu UNDV 2008. Chúng ta không tin là 600 Đại biểu, được CPVN lựa chọn và cho phép được IOC gởi thư mời, đều có chung một tầm nhận thức, dù đều được tiếng là khách quốc tế. Tôi vẫn giữ lập trường là, việc nếu vì lý do đàn áp chính trị và vì các đòi hỏi cấp bách nhất của GHPGVNTN chưa được CSVN đáp ứng nên các Ngài lãnh đạo GHPGVNTN trong nước không muốn và không nên có mặt (và cũng có thể là không được cho phép) tại UNDV 2008 Hà nội là điều cần thiết, thì sự thiếu vắng các thành viên GHPGVNTN Hải Ngọai, đang có mặt trong IOC (hiện có chúng tôi và TT Như Điển ở Đức), hay những thành viên của một đoàn thể PGVN nào ở hải ngoại còn có lòng với GHPGVNTN (nhất là sau mấy tháng biến cố ‘internet nạn’ vừa qua mà vẫn không não ý và nản lòng) nay ‘tình cờ’ nhận được thư mời của IOC, lại không ai chịu có mặt ở Hà Nội 13-17/5, để góp phần làm giảm thiểu bớt trò gian dối của NNCS (như không có đàn áp PG ở VN, vv..), làm giảm bớt các nguỵ luận của GHPGVN (như tự xưng là GH duy nhất ở VN, vv..), và để cùng nhau tận dụng thời cơ nầy tiếp cận giúp gia tăng hiểu biết cho các Đại biểu quốc tế, vốn đa số có và biết quá ít ‘thông tin thật’ về VN, làm gia tăng thông cảm và hỗ trợ GHPGVNTN nơi các Đại biểu ấy, thì GHPGVNTN coi như đã ‘nhường sân’ cho CSVN ‘đá bóng’ một mình. Không chừng sự vắng mặt nầy lại còn gây tổn hại thêm, hiểu lầm hơn, thậm chí ác cảm hơn, nơi các Đại biểu quốc tế, vốn đã khá lâu không nghe nhắc đến hay biết rõ tình hình thật về GHPGVNTN, nay lại bị CSVN và GHPGVN độc quyền ‘brainwash’ họ tại Hà nội kỳ nầy. Nếu để CSVN ‘múa gậy vườn hoang’, mà không có đối trọng tại diễn đàn 4 ngày nầy, mặc tình để NNVN tuyên truyền được vào đầu, vào lòng giới đại biểu PG quốc tế (ví dụ nói rằng GHPGVNTN chỉ muốn làm chính trị lật đổ chế độ đương quyền Hà Nội, chứ không là một GH tu hành chân chính, truyền bá chánh pháp), thì chính sự vắng mặt của giáo phẩm GHPGVNTN ở Hà nội kỳ nầy là một thua thiệt cho GHTN, mà GH đã tự biết trước vẫn để tự chuốc lấy. Ai đã làm tắt tiếng nói của GHPGVNTN tại diễn đàn PG quốc tế nầy?? Tôi chưa thể đo lường được phản ứng của mấy chục Thành viên IOC hôm qua nay vừa mới nhận được email tôi gởi copy lá Thư Ngỏ mà tôi vừa gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tối hôm 12/5/08?? Sự hiện diện với khả năng tiếp cận và cố gắng thuyết phục của GHTN nhất định có giá trị cao hơn là email, hay văn bản. Nhưng vì để gián tiếp kính trọng lập trường của HT Viện Trưởng VHĐ về việc nầy, nên dù không nhất thiết đồng ý quan điểm của Ngài, chỉ riêng về việc UNDV 2008 nầy, tôi vẫn tẩy chay, không tham dự UNDV 2008, dù rõ ràng làm vậy là tôi thiếu trách nhiệm với IOC (tôi được mời vào IOC không phải dựa trên tư cách của tôi trong GHPGVNTN-HN tại Úc. Thực ra, GHTN Hải ngoại tại Úc và các châu lục, quốc gia khác ở toàn hải ngoại, trên nguyên tắc đều tự lập và độc lập, tuy đều tự nhận có rất nhiều liên đới tinh thần, truyền thống và đạo nghĩa với GHPGVNTN quê nhà, nhưng không hề bị ràng buộc nào về pháp lý, hành chánh, nhân sự với GHPGVNTN quê nhà).
6. Thầy nghĩ tại Đại Lễ, phía Phật Giáo Hà vN có thể quan hệ, vận động với các phái đoàn PG thế giới để có được hậu thuẩn tốt, chánh đáng cho công cuộc phát huy Chánh pháp cho VN không?
Tuy hàng Tăng Ni Phật tử khắp thế giới nên tán dương tinh
thần của Nghị Quyết LHQ đã tôn vinh đức Phật và đạo pháp của Ngài, nhưng không
ai nên kỳ vọng và đòi hỏi quá nhiều từ một hay các Lễ Hội UNDV do các nước luân
phiên nhận lãnh tổ chức --hoàn toàn không có chỉ đạo và tài trợ nào của LHQ--,
hay nên tin rằng các UNDV nầy lại sẽ có hiệu năng hay tính xúc
tác để Huống chi, UNDV 2008 lần nầy lại do một chính phủ cộng sản, từng có 62 năm kinh nghiệm và thành tích giết sư, đuổi sãi, chiếm chùa, lên án tôn giáo là thuốc phiện, dẹp bỏ các GH nầy để lập ra GH kia, mà mãi cho đến nay vẫn chưa thấy có mấy dấu hiệu đã nhận chịu và sửa chữa các ‘lỗi lầm lịch sử’ quá lớn ấy. Việc Hà nội bỏ ra vài triệu Mỹ kim (!!??) để tổ chức UNDV nầy, nhất định chưa phải và không phải là để thừa nhận -sám-, và chừa bỏ -hối-, những sai lầm ‘chết người’ ấy. Phát huy chánh pháp là theo nghĩa Tăng Ni bảo tồn nền tảng tu học Giới-Định-Tuệ, nhập thế để hoằng khai hạnh nguyện cứu khổ muôn dân, đồng thời phải nâng cao hạnh nguyện xuất thế để nêu cao tinh thần giải thoát ra khỏi thế gian tục lụy của đạo Phật. Nên không thể vì để phát huy chánh pháp, mà đến nỗi Tăng Ni phải chấp nhận đặt mình dưới quyền lãnh đạo hay a dua và kết đảng với thế quyền tục lụy, bất kể đó là triều chính nào (CS, hay không CS) vì làm thế là đã phản bội lại di sản tâm linh của đức Phật. Ngài đã từ giã hoàng cung và vương vị để vào rừng học đạo và du hành khắp chốn, không để mình bị trói buộc nào với nhiều vua chúa xin làm đệ tử Ngài (tuy đôi lần Ngài từng không khuyên dứt được mấy cuộc đao binh giữa họ với nhau), sẵn sàng cung cấp mọi tiện nghi cao nhất để Ngài và Tăng đoàn dễ dàng ‘hoằng dương chánh pháp’ hơn. Khi về thăm vua cha Tịnh Phạn, Ngài cũng cư trú ngoài thành Ca Tỳ La, cùng Tăng đoàn khất thực mỗi ngày, từ chối vào cung yến ẩm theo ý vua cha. Ngày nay, nếu PGVN không giữ được nề nếp ‘không dựa vào thế quyền để hoằng pháp’ của đức Bổn sư, và không giữ được nề nếp ‘sa môn bất bái vương giả’ của các Tổ sư Tỳ ni đa lưu chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Tuệ Trung, Nguyên Thiều, Minh Hải, Liễu Quán, Khánh Hòa, Phước Huệ, Vĩnh Nghiêm, Quảng Đức, Đôn Hậu, Trí Thủ, Thiện Minh, Huyền Quang, Quảng Độ, v.v.., mà khuất thân chịu làm công cụ cho NNCS hay bất cứ NN nào, nhất là phải nô dịch cho cái NN đã tạo ra và đang cưỡng bức GHPGVN phải chấp nhận lý cái thuyết chính trị ‘Chủ Nghĩa Xã Hội’ (đã gieo tang tóc cho hơn ½ nhân lọai từ 1917-1989, đã làm chết chóc hơn 150 triệu người qua các cuộc chiến tranh ‘nhuộm đỏ’ khắp thế giới, và chủ nghĩa nầy đang vùi chôn gia sản tâm linh, văn hóa cao quý của Tổ Tiên VN, quyết biến dân tộc 90 triệu dân anh minh, bất khuất nầy thành một đàn cừu dễ bảo, dễ lừa, vv..) làm tiêu chí hoạt động cho mình (như GHPGVN hiện nay, tuy là bị áp đặt, không phải tự do chọn), thì thật là bội bạc Như Lai, lạc đường chánh pháp. Tự trong thâm tâm, nếu không phải do bị cưỡng chế hay vì quá mù quáng, thì không Tăng Ni chân chính nào muốn hay tự nguyện chủ trương thân chính, tham chính để phát huy Chánh Pháp. Dù ‘chính’ đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, dù đó là Hà nội hay Bắc kinh hay Hoa thịnh đốn.
Nếu cho được ước mong, tôi sẽ đòi mong là trong tương lai,
phải chính do các GH của PGVN, nếu VN còn cơ hội, nên hợp tác đăng ký với IOC
quốc tế để
7. Thưa Thầy . Sự bảo tồn và phát huy Chánh pháp là sanh tử . Nhứt là trong hiện tình Việt nam . Nếu phải nương theo chánh sách của Hà nội thì trong phật sự này liệu quí Thầy có giử được mình không bị biến chất không ?
Tăng Ni Phật tử nếu tu hành lôi thôi để mình biến chất về đạo hạnh là một đề tài khác, xin không bàn ở đây. Nhưng nếu Tăng Ni Phật tử để biến chất ‘chánh tư duy’ về mạng mạch của chánh pháp, làm cho chánh pháp biến thành thế pháp, hay nếu Tăng Ni Phật tử nào khuất thân chịu a dua, về bè, hùa đảng với thế quyền, thế sự --bất kể nó quang minh, chính đại, dân chủ tới đâu--, hay trái lại, nếu cực đoan thách đố, hay nếu tổ chức hay khuyến khích bạo động để đối phó với thế quyền-- bất kể nó xấu xa tới đâu; vì nếu đấy là hảo pháp, thì đức Thế Tôn đã dạy rõ như vậy; rất tiếc điều nầy có vẻ được vài Giáo Chủ khác đề cập tới chứ không phải đức Thích Ca; ngược lại đức Phật của chúng tôi dạy Tăng Ni nên tránh xa thế quyền, chỉ nên dựa cách ân tình- nhưng cũng vừa phải không cho thành lệ thuộc- nơi hàng tín tâm Phật tử mà hành đạo--; thì con đường phi trung đạo ấy sẽ làm tắt lụn ngọn đèn chánh pháp nhanh hơn.
Nếu giới Tăng lữ PG khắp nơi không tự hạn chế mình nơi việc
khuyến thiện, cải ác cho thế nhân, thế quyền đến mức chỉ trích, cảnh cáo, kêu
gọi bằng lời, bày tỏ thái độ, lập trường, vv.. bằng ái ngữ, tuy lập trường cần
cứng rắn mà cư xử vẫn nhu nhuyến, từ tốn (theo gương đức Dalai Lama), mà
lại tự biến GH hay Tăng đoàn mình thành đối thủ sống mái của, hay cố ý tranh
chấp ảnh hưởng chánh trị với, thế quyền đó--, thì tôi nghĩ đó đã là sai lạc
đường hướng Phật pháp, do đó khó thể bảo tồn
Trước nay, từ khi sơ khởi thành lập 1951, đến lúc lấy tên
GHPGVNTN 1964, GH chúng tôi đều dựa theo nguyên tắc trung dung nầy. Không phó
mặc mọi bất công, khổ đau của quần chúng cho thế tình đưa đẩy, nhưng cũng không
can thiệp sâu vào nội chính của cả chục chính phủ trong 3 chế độ đã qua: a-
thuộc Pháp, Quốc gia: 1946-1955; b- Cộng hòa: 1955-1975; c- Cộng sản: 1975-2008.
Phần lớn các GH của PGVN đều thừa nhận chính phủ đương nhiệm -bất kể nó
ngoại lai, ngoại thuộc hay phi dân chủ, độc tài; nhưng không nhất định đều
ủng hộ các, hay mọi, chính sách cai trị của các chế độ đó. Riêng duy nhất
chế độ CS từ 1981 đến nay, vì vô lý bó buộc PGVN phải tôn thờ, chấp hành
chủ nghĩa xã hội, phải trở thành công cụ cho, và chịu làm một thành viên của,
chính quyền CS chuyên chính, tập quyền, nên GHPGVNTN chúng tôi đã phải chống đối
khá quyết liệt áp đặt nầy. Diễn tiến có vẻ chưa thuận lợi cho GH chúng
tôi, vì 2 Ngài lãnh đạo đã khá cao niên, lớp lãnh đạo mới chưa thấy ai
8. Xin Thầy nhận định rỏ về Giáo chỉ số 9, tức nguyên nhân có văn kiện này và đặc tính của văn kiện. Và Thầy cho biết ảnh hưởng của Giáo chỉ đối với vận mạng của Giáo Hội PGVNTN trong nước và hải ngoại?
Giáo chỉ 9, theo tôi, có
văn cảnh được hiểu, và có tự nhận, là phải vội vã ban hành để đối phó với ‘âm
mưu’ lật đổ Giáo Hội, điều mà 33 năm qua, và mãi hơn 9 tháng qua từ ngày ban
hành, theo tôi, không có cơ sở khả tín. Sơ sót (hay cố ý?) nầy có
thể do phương cách chuyển đạt và tiếp nhận thông tin trong ngòai nước, và do
cơ sở nhận định tình hình để có những cố vấn và khuyến cáo VHĐ trong
việc khẩn cấp ban hành, tưởng là, hay gây ấn tượng là, ‘Phóng lao theo lao’, mọi diễn dịch, đồ đoán, thêm bớt, sắp xếp, chữa cháy, vv..vv.. sau GC9 đã tạo ra dây chuyền hằng loạt các màn đánh phá ngoại vi nhưng phủ đầu, càng sau càng thêm lạc điệu nhưng hung tợn hơn, tuy đa số chỉ qua cơn bão internet, nhưng đã gây buồn phiền xúc phạm đến nhiều chư Tăng Ni trong ngoài nước, đã gây hoang mang ngơ ngác, thậm chí phẫn uất vô cớ cho cả 2 khuynh hướng thuận và chống Giáo Chỉ 9 cách không cần thiết. Tôi cho là mọi sóng gió rồi sẽ qua đi, những hiểu lầm sớm muộn sẽ được khai thông, những cao vọng sẽ không thể thành đạt, nên rồi ra sẽ không gây ra tai hại lớn cho “vận mạng của Giáo Hội PGVNTN trong nước và hải ngoại” như câu hỏi của quý Báo hàm ý. Điều lầm lẫn duy nhất, nếu có, là GC9, vốn không có gì đáng nói, được ‘Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ 9’ diễn dịch (ở điều 3, nguyên văn: 3. Giải tán các Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại (GHPGVNTN-HN) tại Hoa Kỳ và GHPGVNTN-HN tại các châu được hình thành theo Quyết Định số 27-VPLV/VHĐ do Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo ban hành ngày 10.12.1992. Quyết định này đã hủy bỏ và thay thế bằng Giáo chỉ số 09/VTT/GC/TT của Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007) là để giải tán các GHPGVNTN đang có mặt ở hải ngoại: một điều phi thực và không tưởng. GC2 do Ngài Huyền Quang ban hành ngày 10/12/92, mọi người đều biết, là chỉ để nhờ GH Hoa kỳ, đã được thành lập nhiều tháng trước 10/12/1992, cáng đáng giùm luôn vai trò ‘làm VP2VHĐ’, để lỡ như GH --lúc đó 12/1992 cả GH coi như chỉ có 2 HT Huyền Quang và Quảng Độ, và cả 2 Ngài còn đang chấp hành lệnh cưỡng bách cư trú không thời hạn do UBND Saigon ký hồi 2/1982-- có mệnh hệ gì, thì thực thể GH sẽ may ra còn được tồn tại qua cơ chế VP2 ở hải ngoại. Nay 8/9/2007, nếu GH muốn thành lập VP2VHĐ riêng, không tùy thuộc GH Hoa kỳ, thì đó là việc đương nhiên trong quyền hạn của GH, không tạo ra biến động, hay chứa đựng sai lầm nào. Nhưng vì sự thành lập cả 4 GHPGVNTN Hải ngoại ở Hoa kỳ và Canada (giữa 1992), Âu châu (giữa 1993) và Úc châu (sơ khởi 1981, đổi tên là GHPGVNTN 1987, tạm tê liệt 1995, tái lập 1999) đều do Tăng Ni Phật tử bản xứ thành lập, có tư cách pháp nhân riêng, có Hiến Chế riêng, tự bầu giáo phẩm và tự chọn nhân sự điều hành riêng, tuy cả 4 đều tự đặt mình trong quan hệ tinh thần và đạo nghĩa với GH quê nhà, nhưng chưa hề có thủ tục hành chánh ‘gia nhập’ và ‘chuẩn y’ bỡi GH quê nhà, nên theo hành chánh bình thường, điều 3 của Thông Bạch 25/9/2007 do Viện Hóa Đạo đề cập sẽ không có chỗ để áp dụng: cả 4 GH ở Hải ngoại đều không do GC2 thành lập thì sao GC9 lại có thể được suy diễn là có hiệu lực giải tán? Làm sao GH có thể giải tán những GH mà mình không thành lập?? Ngộ nhận nầy nên sớm được giải tỏa. Những hằn học, nghi kỵ, hồ đồ vu khống, những giận hờn, trách móc, đều không cần thiết, do đó nên sớm chấm dứt. Và Tăng Ni Phật tử trong ngoài nước nên tiếp tục chung vai xây dựng đạo pháp để cùng nhau cứu khổ, độ nguy, cả cho GH mình lẫn cho đất nước, mãi đang còn chịu đựng ách nạn chủ nghĩa độc ác, toàn trị. Xin trích dẫn nguyên văn 2 đoạn sau đây để thay lời của mình, vì tôi cũng khá đồng ý với quý Ngài tác giả:
(a)
HT Tâm Châu (nguyên Đệ nhất Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN
1964-1966, hiện nay là Thượng Thủ GHPGVN Trên Thế Giới), (b) HT Minh Tâm (đệ tử Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang từ thập niên 1950s, đang là Chủ Tịch HĐĐH của GHPGVNTN Âu châu) người trong 8-9 tháng qua cũng bị nhục mạ, mắng mỏ, như với chúng tôi bỡi những người ẩn danh, ẩn hình, tự xưng là chống CS và chống giáo gian, bỗng dưng buộc 2 chúng tôi tội làm ‘thủ lãnh hải ngoại Tâm-Ba-Siêu-Đạt” để ‘lật đổ’ GH, và nhiều tội lỗi “hư cấu’ kh ác, đã viết như thế nầy trong Bản Tin Khánh Anh kỳ 04/2008, trang 30-31 (mời xem ở http://www.khanhanh.fr/ ), viết: “ …ngày 5/3/2008, tại chùa Khánh Anh, Bagneux, Pháp Quốc đã diễn ra một Hội nghị đặc biệt bất thường của Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất Âu châu. Theo chương trình hoạch định là duyệt xét lại tình hình Phật sự trong thời gian qua và quyết định cho sinh hoạt trong thời gian sắp tới. Với những “biến cố” trong thời gian qua, trên nguyên tắc không có ảnh hưởng gì đến Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu châu. Vì sự ra đời và sinh hoạt, tồn tại của GH nầy không có liên hệ hành chánh trực tiếp đến các tổ chức nào khác bên ngoài Âu châu. Nhưng trên thực tế, đã gây nhiều hoang mang dao động cho Tăng Ni và Phật tử xa gần. Bỡi vậy, chư tôn đức Tăng Ni trong Hội Nghị đều đồng thuận gìn giữ và phát triển liên tục những sinh hoạt tu học như từ lâu nay không có gì phải thay đổi trong lúc nầy. Vì thay đổi dễ có thể rơi vào tình trạng bị phân hoá lũng đoạn và mắc mưu các thế lực vô minh. Nhìn chung trên tổng thể tất cả đều nhận thấy có một sự mất mát to lớn. Chưa bao giờ PGVN ở hải ngoại lại rơi vào một tình trạng hoang mang, mất hết tin tưởng như lúc nầy, không biết đâu là hư đâu là thật! Tình trạng nầy chỉ tạo cơ hội tranh sáng tranh tối cho bao nhiêu thế lực vô minh thừa cơ đánh phá Phật giáo để chia phần, thủ lợi.” Xin cảm ơn quý Báo.
|
|
| Trở về Mục Lục |